Liên thông đào tạo trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực khoa học và công nghệ - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC QIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM VĂN LÂM LIÊN THÔNG ĐÀO TẠO TRONG VIỆC NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ



HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. NGUYỄN VĂN KHÁNH
HÀ NỘI, NĂM 2008 MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU. 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu 5
3. Mục tiêu nghiên cứu 6
4. Phạm vi nghiên cứu 6
5. Mẫu khảo sát 7
6. Câu hỏi nghiên cứu 7
7. Giả thuyết nghiên cứu 7
8. Phương pháp chứng minh giả thuyết 7
9. Kết cấu của Luận văn 8
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC KH&CN VÀ LIÊN
THÔNG ĐÀO TẠO 10
1.1. Khái niện và một số tiêu chí về nguồn nhân lực KH&CN 10
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực 10
1.1.2. Khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN 11
1.1.3. Khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN 12
1.1.4. Chất lượng nguồn nhân lực KH&CN 12

2.3.5. Nhận xét, đánh giá 72
2.4. Đánh giá của thị trường lao động về nguồn nhân lực KH&CN qua đào tạo
liên thông ở tỉnh Hải Dương 74
Tiểu kết Chương 2 77
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP LIÊN THÔNG ĐÀO TẠO ĐƯỢC THỰC HIỆN
DỰA TRÊN CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NHẰM ĐẠT MỤC TIÊU GẮN
VỚI NHU CẦU THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG 78
3.1. Mục tiêu đào tạo gắn với thị trường lao động 78
3.2. Chương trình liên thông xuất phát từ mục tiêu đào tạo 88
3.3. Đổi mới liên thông đào tạo bắt đầu từ giáo viên 89
3.4. Đổi mới quy trình đào tạo liên thông 92
3.5. Đổi mới phương pháp dạy và học trong liên thông 94
3.6. Đổi mới cách đánh giá trong đào tạo liên thông 96
3.7. Đổi mới về đầu tư và cơ chế tài chính 97
3.8. Thử nghiệm các giải pháp trên 99
Tiểu kết Chương 3 101
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 102
KẾT LUẬN 102
KHUYẾN NGHỊ 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 108
1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
1.1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Việt Nam đã chính thức là thành viên của tổ chức Thương mại thế giới

cận được trình độ KH&CN thế giới, khả năng hội nhập còn hạn chế. Việc
tham gia hội thảo và các kết quả nghiên cứu được công bố trên các tạp chí
khoa học có danh tiếng trên thế giới còn ít. Số bằng phát minh, sáng chế của
Việt Nam rất hạn chế. Thời kỳ 2001- 2005, Việt Nam chỉ có 11 đơn đăng ký
sáng chế ở nước ngoài. Trong khi đó Indonexia có 36, Thái Lan có 39,
Philipin có 85, Hàn Quốc có 15.000, Nhật Bản có 87.620 và Mỹ có 206.710.
Nếu căn cứ vào số lượng các công trình nghiên cứu khoa học được đăng trên
tạp chí quốc tế và bằng sáng chế được quốc tế công nhận thuộc 27 môn khoa
học, thì Việt Nam chưa lọt vào danh sách của 50 nước được tính đến
(Singapo, Malaisia và Thái Lan đã có tên trong danh sách này). Điều đó có
nghĩa là, trình độ nguồn nhân lực KH&CN nước ta còn rất thấp.
Hệ thống giáo dục và đào tạo ở mỗi quốc gia có vai trò đòn bẩy phát
triển nền kinh tế và quyết định sự phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn
nhân lực KH&CN. Chỉ có hệ thống giáo dục và đào tạo phát triển, tiên tiến
mới tạo ra nguồn nhân lực KH&CN chất lượng cao.
Công cuộc đổi mới đất nước, giáo dục và đào tạo luôn được Đảng, Nhà
nước và cả xã hội quan tâm. Ngành giáo dục cũng đã qua nhiều lần chấn hưng
và đổi mới nhưng kết quả đạt được rất hạn chế. Để đáp ứng yêu cầu nguồn
nhân lực cho CNH, HĐH, nền giáo dục nước ta cần phải nhanh chóng đổi mới
và phát triển, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp. Sự lạc hậu, trì trệ kém phát
triển của giáo dục nước ta so với các nước trong khu vực như: Thái Lan,
Trung Quốc, Malaisia, Singapore, Philipin, Indonexia, đã thấy được vị trí
giáo dục Việt Nam còn khoảng cách rất xa so với các nước phát triển. Trong
xu thế hội nhập, phát triển nền kinh tế tri thức, nguồn nhân lực không chỉ còn

3
ở mỗi quốc gia, mà là nguồn nhân lực toàn cầu. Những lợi thế về nguồn tài
nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ đã nhường chỗ cho lợi thế về nguồn nhân
lực có trình độ chuyên môn giỏi, có năng lực sáng tạo. Nếu không sớm nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ không có khả năng cạnh tranh với các nước

THPT học vi phân, tích phân, lên đại học học lại vi phân, tích phân. Người
học như một anh thợ giải toán, giải hết cách này đến cách khác, nhưng không
hề biết ứng dụng bài toán, cách giải toán đó vào đâu. Môn vật lý, ở giáo dục
nghề nghiệp và giáo dục đại học đều học lại các định luật, quy tắc ở phổ
thông đã học. Cử n hân kinh tế không cần thiết phải học môn hoá học ở THPT
nhiều đến vậy. Rất nhiều môn học khác cũng ở tình trạng tương tự. Chương
trình đào tạo không thống nhất nên liên thông gặp rất nhiều khó khăn. Chẳng
hạn như cùng trình độ Trung cấp ngành kế toán, nhưng mỗi trường đào tạo
theo một chương trình nên khi liên thông lên Cao đẳng hay Đại học rất khó, vì
không biết nên kế thừa nội dung của trường nào. Liên thông ở các cấp học rất
yếu kém nên kết quả đào tạo chất lượng không cao, không đáp ứng được yêu
cầu. Cụ thể, phần lớn các kỹ sư, cử nhân khi ra trường không làm việc được,
mà phải qua quá trình đào tạo lại. Mặc dù, giáo dục đã nhiều lần cải cách, thí
điểm, đề án này chưa xong, đề án khác lại ra đời, tiêu tốn biết bao tiền của
nhưng chất lượng giáo dục vẫn đang trong thời kỳ chấn hưng.
Hải Dương là tỉnh có trên 1,7 triệu dân, nằm ở phía đông thủ đô Hà
Nội, có 8 khu công nghiệp và 13 cụm công nghiệp phát triển, nhu cầu lao
động kỹ thuật có chất lượng hàng năm lên đến trên 60 ngàn người. Nhưng
thực tế nguồn lao động kỹ thuật ở Hải Dương trình độ còn thấp, nên nhiều
doanh nghiệp phải sử dụng lao động kỹ thuật ở nơi khác đến. Đào tạo nguồn
nhân lực ở Hải Dương còn nhiều hạn chế, đặc biệt là liên thông đào tạo chưa
đáp ứng được nhu cầu nguồn nhân lực KH&CN và thị trường lao động.
Vậy việc chỉ ra những nguyên nhân yếu kém và đề ra các biện pháp
liên thông đào tạo trên cơ sở đổi mới tư duy đào tạo, để nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực KH&CN, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động là rất cần thiết.
Đó là lý do tôi chọn đề tài “Liên thông đào tạo trong việc nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực KH&CN ”.

5
1.2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài

chức các lớp chuyên tu, hoàn chỉnh. Ở miền Nam áp dụng theo mô hình các
viện đại học đa ngành của Viện đại học Đông dương do người Pháp thành lập
Đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng,
chỉ thị của Chính phủ, đào tạo liên thông được đặt ra, nhất là khi thực hiện
chương trình đào tạo hai giai đoạn và việc thành lập hai đại học quốc gia và ba
đại học vùng. Cuối thập niên 90, việc liên thông giáo dục đại cương và chuyên
nghiệp trở thành bình thường trong một nhà trường. Ngoài ra, một số trường
thực hiện liên thông cấp bằng hai hoặc tiếp tục cấp bằng chuyên tu, tại chức
hoặc hoàn chỉnh Năm 2005 Bộ Giáo dục và Đào tạo cấp chỉ tiêu đào tạo thí
điểm liên thông cho 31 trường.
Liên thông đào tạo ở nước ta còn rất nhiều hạn chế, mỗi trường đào tạo theo
một chương trình khác nhau, thiếu tham khảo và thống nhất. Phần lớn đào tạo xong
mới tính chuyện liên thông. Đào tạo theo tín chỉ thuận lợi cho đào tạo liên thông,
nhưng số ít trường đủ điều kịên làm và làm chưa tốt. Chỉ tiêu đào tạo liên thông bó
hẹp, vì liên thông là sự linh hoạt trong đào tạo để thích nghi với nền kinh tế thị
trường năng động. Tuy nhiên, liên thông ở nước ta mới chỉ đề cập ở các cấp giáo
dục nghề nghiệp và đại học.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp liên thông dựa trên chương trình đào tạo nhằm thực
hiện mục tiêu đào tạo gắn với nhu cầu thị trường lao động.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi quy mô không gian: nghiên cứu về liên thông đào tạo ở chuyên
ngành Điện công nghiệp ở Trường Cao dẳng nghề Hải Dương và Công nghệ cơ khí
ở Trường Cao đẳng Công nghiệp Sao Đỏ trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Phạm vi thời gian: 05 năm trở lại đây

7
- Phạm vi nội dung:
+ Thực trạng của liên thông đào tạo
+ Giải pháp liên thông dựa trên chương trình đào tạo nhằm đạt mục tiêu

thông là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực KH&CN.
- Luận cứ thực tiễn:
Thu thập từ trong thực tế bằng cách quan sát, thực nghiệm, phỏng vấn
điều tra để tìm kiếm luận cứ và dùng luận cứ chứng minh luận điểm liên
thông đào tạo.
Kết luận và khuyến nghị
- Kết luận của việc nghiên cứu:
Liên thông phải được thể hiện dựa trên chương trình đào tạo xuất phát
từ mục tiêu đào tạo gắn với nhu cầu thị trường lao động, nhằm nâng cao chất
lượng nguồn nhân lực KH&CN.
- Các khuyến nghị rút ra từ kết quả nghiên cứu:
+ Đổi mới tư duy trong đào tạo liên thông;
+ Tăng cường đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực KH&CN thông qua
liên thông đào tạo.
9. Kết cấu của Luận văn
Danh mục các từ viết tắt
Phần mở đầu
Phần nội dung
Chương 1. Cơ sở lý luận về nguồn nhân lực KH&CN và liên thông đào tạo

9
Chương 2. Thực trạng nguồn nhân lực KH&CN và liên thông đào tạo
Chương 3. Giải pháp liên thông đào tạo được thực hiện dựa trên
chương trình đào tạo nhằm đạt mục tiêu gắn với nhu cầu thị trường lao động.
- Kết luận:
- Khuyến nghị:
- Danh mục tài liệu tham khảo
- Phụ lục
trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước (hoặc một vùng, một địa phương
cụ thể). Với cách tiếp cận này, nguồn nhân lực như một bộ phận cấu thành các
nguồn lực của quốc gia như nguồn lực vật chất (trừ con người), nguồn nhân
lực tài chính, nguồn lực trí tuệ (“chất xám”) Những nguồn lực này có thể
được huy động một cách tối ưu để phát triển kinh tế - xã hội. Có thể mô tả
điều này như sau:
Nguồn nhân lực được nghiên cứu trên giác độ số lượng và chất lượng.
Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu này có quan
hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số. Chất lượng nguồn
nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh về sức khoẻ, trình độ học vấn,
trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực phẩm chất
- Theo nghĩa tương đối hẹp: Nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao
động. Khái niệm nguồn lao động hiện nay cũng có những khác biệt giữa các
quốc gia. Chẳng hạn:

11
Ở Pháp, nguồn lao động là toàn bộ những người có khả năng lao động
và đang làm việc và chưa làm việc nhưng không bao gồm những người có khả
năng lao động mà không có nhu cầu làm việc.
Ở Việt Nam, hiện nay tương đối thống nhất cách hiểu nguồn lao động
gồm những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm (gồm cả những người trên tuổi
lao động, có khả năng lao động nhưng chưa làm việc do: đang thất nghiệp, đang
đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc).
- Theo nghĩa hẹp hơn, nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động trong
nền kinh tế quốc dân (hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế), nghĩa là bao gồm
những người trong một độ tuổi nhất định nào đó, có khả năng lao động, thực tế
đang có việc làm và những người thất nghiệp. Về độ tuổi, hiện nay có nhiều quy
định khác nhau. Đa số các nước có quy định tối thiểu (thường là 15 tuổi), còn tối
đa thường trùng với tuổi nghỉ hưu hoặc không giới hạn.
Ở Việt Nam, lực lượng lao động bao gồm những người trong độ tuổi

2
.
- Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định nào đó về một chuyên
môn KH&CN (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên).
- Không được đào tạo như đã nói ở trên, nhưng tham gia (thường xuyên)
vào hoạt động KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên.
Theo khái niệm này, những người có bằng cấp tuy không hoạt động
KH&CN, nhưng nếu cần thiết vẫn có thể huy động vào hoạt động KH&CN.
Những người về hưu sẽ rút dần khỏi lực lượng tham gia thị trường nhân lực
KH&CN, nhưng vẫn có thể huy động hoặc mời làm chuyên gia tư vấn.
Một vấn đề nữa trong khái niệm về nguồn nhân lực KH&CN là những
người có trình độ kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và
tham gia hoạt động KH&CN (thường xuyên), được đưa vào danh sách nguồn
nhân lực KH&CN.
1.1.4. Chất lượng nguồn nhân lực KH&CN
Chất lượng nguồn nhân lực KH&CN thể hiện trạng thái nhất định của
nguồn nhân lực KH&CN, với tư cách vừa là khách thể vật chất đặc biệt vừa là

2
TS Nguyễn Thị Anh Thu: Quản lý và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ, Hà Nội 2006, tr.4

13
chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng nguồn
nhân lực KH&CN là khái niệm tổng hợp bao gồm những nét đặc trưng về
trạng thái thể lực, trí lực, kỹ năng, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần
của nguồn nhân lực KH&CN. Nói cách khác, trình độ học vấn, trạng thái sức
khoẻ, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội
của nguồn nhân lực KH&CN, trong đó trình độ học vấn kỹ năng nghề nghiệp là
tiêu chí quan trọng để đánh giá, phân loại chất lượng nguồn nhân lực KH&CN.
Để giáo dục đào tạo có khả năng biến những tiềm năng nguồn nhân lực

một vạn dân; tỷ lệ chuyên gia có học hàm, học vị; tương quan giữa kỹ sư, kỹ
thuật viên và công nhân kỹ thuật cao,
Tính hợp lý, phù hợp của cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN thường được
thể hiện ở những sự cân đối sau :
- Cân đối giữa các loại nhân lực: nghiên cứu, triển khai, giáo dục, đào
tạo, thao tác, vận hành;
- Cân đối giữa các trình độ: sau đại học, đại học, trung cấp kỹ thuật, lao
động giản đơn;
- Cân đối giữa các lĩnh vực hoạt động kinh tế: công nghiệp, nông
nghiệp, hoạt động dịch vụ;
- Cân đối giữa các địa bàn hoạt động: đô thị, khu công nghiệp tập trung,
nông thôn, miền núi;
- Cân đối giữa các lĩnh vực KH&CN: Nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu
triển khai, nghiên cứu ứng dụng, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân
văn, khoa học kỹ thuật
Thực tế không có chuẩn mực chung về cơ cấu nhân lực KH&CN cho
mọi quốc gia.

15
1.2. Khái niệm liên thông trong giáo dục đào tạo
Giáo dục của chúng ta chưa quan tâm đúng mức đến liên thông đào tạo.
Sự cải cách giáo dục được triển khai từ nhiều năm, nhiều lần, nhưng chưa đạt
được mục tiêu. Tính khoa học, tính kế thừa, tính thống nhất rất yếu kém, dẫn
đến giáo dục của Việt Nam đang tụt sâu khoảng cách đối với các nước trong
khu vực và thế giới.
1.2.1. Hệ thống giáo dục:
Mỗi quốc gia có một hệ thống giáo dục đặc trưng.
- Theo Luật Giáo dục năm 2005, hệ thống giáo dục của nước ta gồm
giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
- Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân gồm:

yêu cầu xã hội thì liên thông đào tạo là một yêu cầu tất yếu. Tuy nhiên, còn

17
nhiều ý kiến khác nhau về liên thông. Nhưng theo tác giả: “Liên thông đào
tạo là loại hình đào tạo mà người học kế thừa kiến thức, kỹ năng đã có, sử
dụng kết quả học tập đã tích luỹ trong quá trình học tập hoặc làm việc khi
chuyển sang học ngành, nghề, trình độ đào tạo, hình thức học tập khác trong
hệ thống giáo dục quốc dân”.
Liên thông đào tạo được thực hiện theo nguyên tắc kế thừa, bảo đảm
cho người học không phải học lại những kiến thức, kỹ năng đã tích luỹ được
trong quá trình học tập hoặc làm việc.
Lần đầu tiên “liên thông” đã được luật hoá bởi các Điều 6, 35, 41,
trong Luật Giáo dục (có hiệu lực từ ngày 01/01/2006). Điều 32 và Điều 38 có
quy định thời gian học chuyển tiếp. Đây là bước đổi mới để giáo dục nước
nhà giảm thiểu khoảng cách thụt lùi với giáo dục các nước trong khu vực,
từng bước thích nghi với tính linh hoạt của yêu cầu nguồn nhân lực trong thời
kỳ hội nhập.
Liên thông đào tạo không phù hợp với cách đào tạo cũ (truyền thống
của các nước XHCN trước kia). Nó đòi hỏi phải có tính hệ thống, đồng bộ
trong giáo dục từ các cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân. “Chương
trình giáo dục phải bảo đảm tính hiện đại, tính ổn định, tính thống nhất; kế
thừa giữa các cấp học, các trình độ đào tạo và tạo điều kiện cho sự phân
luồng, liên thông, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình
thức giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân”. Một trong các tiêu chí xây
dựng chương trình là phải đảm bảo liên thông với các chương trình khác.
Ngoài việc xây dựng chương trình, Luật đã quy định thời gian liên thông và
một số nội dung quy định khác về liên thông.
Để hiện thực hóa liên thông đào tạo ngày 13 tháng 2 năm 2008 Bộ Giáo dục
và Đào tạo có quyết định số 06/2008/QĐ-BGDĐT ban hành quy định đào tạo liên
thông trình độ cao đẳng, đại học. Sau 4 năm thí điểm liên thông, rất nhiều ý kiến khác

Liên thông đào tạo là hình thức đào tạo không mới đối với các nước phát
triển như: Mỹ, Anh, Úc, Canada, Singapore, Nhật bản Nhưng đối với Việt

19
Nam hiện vẫn đang là một loại hình mới mẻ, còn dè dặt và khống chế trên cơ
sở chỉ tiêu. Tính linh hoạt của liên thông chưa được phát huy hiệu quả.
Một số khái niệm của liên thông chưa được định hoá, nhưng theo TS
Ngô Tấn Luật - ĐH Tiền Giang thì được hiểu như sau:
- Liên thông “lên” là để nhận một văn bằng cao hơn. Trường hợp liên
thông cùng ngành nghề xin tạm gọi là liên thông “dọc”. Không cùng ngành
nghề tạm gọi là liên thông “xiên”, thời gian đào tạo liên thông này hiển nhiên
là dài hơn thời gian đào tạo liên thông “dọc” vì cần học chuyển đổi. Tuy vậy,
liên thông “xiên - lên” cũng có thể chuyển tiếp sang một văn bằng gần đó mà
không cần chuyển đổi.
- Liên thông“ngang” là để nhận bằng cấp thứ hai cùng bậc. Trường
hợp này chỉ cần học thêm các học phần còn thiếu để nhận bằng cấp mới, do
yêu cầu chuyển đổi nghề nghiệp.
- Liên thông“xuống” là để nhận bằng cấp dù thấp hơn nhưng hữu dụng
hơn đối với người học. Đây là hình thức liên thông rất phổ biến trong các
nước đã và đang phát triển, vì người lao động cần chuyển đổi nhanh các
ngành nghề theo yêu cầu thu nhập hay hoàn cảnh.
1.2.3. Khái niệm về kế thừa
Trong liên thông đào tạo tính kế thừa được coi như đặc trưng cơ bản
của liên thông. Đây cũng là tính riêng biệt của loại hình đào tạo này. Chẳng
hạn, liên thông đào tạo từ trung cấp lên đại học, chương trình đào tạo được
xây dựng trên cơ sở kế thừa chương trình đào tạo trung cấp, bổ sung thêm nội
dung còn thiếu so với chương trình đại học; liên thông đào tạo từ cao đẳng lên
đại học, chương trình đào tạo được xây dựng trên cơ sở kế thừa chương trình
đào tạo cao đẳng, bổ sung thêm nội dung còn thiếu so với chương trình đại
học. Trong trường hợp liên thông ngang thì chương trình đào tạo được xây

coi trọng và phát huy hết tính ưu việt của nó.

Trích đoạn Số lượng và cơ cấu nguồn nhân lực KH&CN qua liên thông đào tạo Thực trạng đào tạo liên thông từ trình độ Trung cấp nghề lên trình độ Cao Nhận xét, đánh giá Đánh giá của thị trường lao động về nguồn nhân lực KH&CN qua đào tạo Chương trình liên thông xuất phát từ mục tiêu đào tạo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status