Đổi mới quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN ngành bảo hiểm xã hội Việt Nam - Pdf 25


1
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG, BIỂU 4
ĐẶT VẤN ĐỀ 5
1. Lý do chọn đề tài: 5
2. Lịch sử nghiên cứu: 6
3. Mục tiêu nghiên cứu: 8
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu: 8
5. Câu hỏi nghiên cứu: 8
6. Giả thuyết nghiên cứu: 8
7. Phương pháp nghiên cứu: 10
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ KH&CN VÀ HOẠT ĐỘNG
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGÀNH BHXH 11
1.1. Một số khái niệm chung về nhiệm vụ KH&CN. 11
1.1.1. Khoa học. 11
1.1.2. Nhiệm vụ KH&CN: 13
1.1.3. Hoạt động KH&CN. 14
1.1.4. Hoạt động khoa học của ngành BHXH Việt Nam. 14
1.1.5. Quản lý khoa học (quản lý nhà nước và quản lý cấp cơ sở) 15
1.1.6. Nghiên cứu khoa học. 17
1.1.7. Các tổ chức nghiên cứu và phát triển 18
1.1.8. Ứng dụng khoa học. 19
1.1.9. Hiệu quả hoạt động KH&CN 19
1.2. Các quy định về hoạt động khoa học trong ngành BHXH. 21
1.3. Hoạt động nghiên cứu khoa học về lĩnh vực BHXH, BHYT 22
1.3.1. Hoạt động nghiên cứu khoa học về BHXH 23
1.3.2. Hoạt động nghiên cứu khoa học về BHYT 24
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ KH&CN CỦA
NGÀNH BHXH VIỆT NAM 27

KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 76 3
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BHXH - Bảo hiểm xã hội
BHYT - Bảo hiểm y tế
HQ - Hiệu quả
HQKT - Hiệu quả kinh tế
ILO - Tổ chức Lao động quốc tế
KH&CN - Khoa học và công nghệ
NCKH - Nghiên cứu khoa học
TNLĐ-BNN - Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp
WHO - Tổ chức Y thế thế giới
WB - Ngân hàng thế giới

4
DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1. Tổng hợp ý kiến tại phiếu phỏng vấn về công tác nghiên cứu
khoa học ngành BHXH.
Bảng 2.2. Số lượng tham gia NCKH ở các Ban chuyên môn từ năm 1996
đến 2010.
Bảng 2.3. BHXH các tỉnh, thành phố đã tham gia NCKH từ năm 1996
đến 2010.
Bảng 2.4. Kinh phí dành cho quản lý và nghiên cứu khoa học
Bảng 2.5. Thống kê một số ứng dụng kết quả nghiên cứu trong xây dựng

còn lại chủ yếu là các đề tài ứng dụng và phân theo các lĩnh vực chuyên môn
như: quản lý quĩ; quản lý thu; chi; thực hiện chế độ, chính sách BHXH, BHYT

6
và các lĩnh vực khác. Công tác tổ chức nghiệm thu được tiến hành khá chặt chẽ,
nghiêm túc, khách quan, cơ bản phản ánh đúng chất lượng nghiên cứu. Các đề
tài, chuyên đề sau khi được nghiệm thu đã được in thành kỷ yếu, nộp lưu trữ tại
Trung tâm Thông tin tư liệu, Bộ Khoa học - Công nghệ. Một số kiến nghị, giải
pháp rút ra từ các đề tài, chuyên đề đã được ứng dụng vào thực tế công tác
chuyên môn của ngành và mang lại những hiệu quả nhất định.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được như đã nêu trên, trong thực tế hoạt
động khoa học của ngành vẫn còn nhiều hạn chế về quản lý nghiên cứu, năng
lực nghiên cứu, nguồn cán bộ nghiên cứu, cơ chế khuyến khích, cơ chế phối hợp
với các đơn vị trong và ngoài ngành, hợp tác quốc tế và triển khai ứng dụng kết
quả nghiên cứu trong các hoạt động nghiệp vụ chuyên môn.
Mặt khác, các đề tài chủ yếu được thực hiện bởi các cán bộ ở cơ quan
Trung ương, trong khi tại BHXH địa phương, số cán bộ có khả năng nghiên cứu
cũng rất nhiều, hơn nữa do thường xuyên phải tiếp xúc, giải quyết các chế độ
nên cán bộ trực tiếp làm nghiệp vụ dễ phát hiện những bất cập, vướng mắc trong
chính sách và tổ chức thực hiện. Nếu được tập huấn về công tác nghiên cứu
khoa học, những vướng mắc trong chính sách và tổ chức thực hiện có thể được
nghiên cứu giải quyết thông qua các đề tài, đề án. Mặt khác, từ công tác nghiên
cứu khoa học sẽ đào tạo tại chỗ lực lượng cán bộ nghiên cứu, tạo nguồn nhân
lực cho hoạt động khoa học nói riêng và phát triển hoạt động khoa học của
ngành nói chung.
Từ những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề nghiên cứu là: "Đổi mới quản
lý nhiệm vụ khoa học & công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khoa
học & công nghệ ngành Bảo hiểm xã hội Việt Nam”.
2. Lịch sử nghiên cứu:
Mặc dù thực hiện hoạt động KH&CN từ năm 1996 đến nay, nhưng trên


8
3. Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá thực trạng hoạt động quản lý, nghiên cứu và ứng dụng các kết
quả nghiên cứu khoa học của ngành BHXH Việt Nam hiện nay.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động KH&CN,
như chất lượng nghiên cứu khoa học và khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu
vào thực tiễn.
- Kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học & công
nghệ của ngành BHXH Việt Nam (hoạt động quản lý và nghiên cứu khoa học
trong ngành BHXH)
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Hoạt động quản lý và nghiên cứu khoa học ngành BHXH từ năm 1996
đến nay.
- Các quy định và tổ chức thực hiện trong quản lý và nghiên cứu khoa học
của ngành BHXH.
5. Câu hỏi nghiên cứu:
- Thực trạng thực hiện nhiệm vụ KH&CN ngành BHXH Việt Nam như
thế nào (Giới hạn trong công tác quản lý, nghiên cứu và ứng dụng khoa học
ngành BHXH Việt Nam)?
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động khoa học & công
nghệ ngành BHXH Việt Nam
- Giải pháp nào để nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học & công nghệ
ngành BHXH Việt Nam.
6. Giả thuyết nghiên cứu:
Giả thuyết 1: Đánh giá hoạt động khoa học theo nhiệm vụ KH&CN
của ngành BHXH Việt Nam có những mặt ưu điểm và hạn chế, nguyên
nhân chủ yếu là:

9

các bước trong nghiên cứu khoa học.
+ Xây dựng qui trình trong công tác ứng dụng kết quả nghiên cứu.
- Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực cho hoạt động KH&CN ngành:
+ Xây dựng tài liệu tập huấn công tác nghiên cứu khoa học.
+ Tổ chức tập huấn cho cán bộ làm công tác quản lý, nghiên cứu.
- Giải pháp hợp tác trong hoạt động khoa học với các tổ chức trong và
ngoài nước.
7. Phương pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu các văn bản, tài liệu quy định, hướng dẫn hoạt động khoa
học nói chung và của ngành BHXH Việt Nam.
- Tổng hợp hoạt động khoa học trong toàn ngành BHXH từ trung ương
đến 64 tỉnh, thành phố từ năm 1996 đến nay.
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá.
- Phỏng vấn chuyên gia.

11
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHIỆM VỤ KH&CN VÀ HOẠT
ĐỘNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ NGÀNH BHXH
1.1. Một số khái niệm chung về nhiệm vụ KH&CN.
1.1.1. Khoa học.
Chúng ta hãy cùng xem xét khái niệm “khoa học” từ các nguồn tư liệu khác
nhau.
Từ điển Larousse (2002) của Pháp định nghĩa: “Khoa học là một tập hợp tri
thức đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và hiện tượng
tuân theo một quy luật xác định " [14, trg 1] .
Từ điển Triết học của Liên Xô (bản tiếng Việt, 1975) định nghĩa: “Khoa học
là lĩnh vực hoạt động nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên,
xã hội và tư duy bao gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của sự sản xuất
này” [14, trg 1].
Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (1986) định nghĩa: “Khoa học là

Khoa học là thiết chế xã hội.
Cả 4 khái niệm này đều có chỗ đứng trong tư duy và hành động của cộng
đồng những người làm nghiên cứu và quản lý khoa học. Tuy nhiên, Điều 2 của
Luật khoa học & công nghệ định nghĩa: “Khoa học là hệ thống tri thức về các
hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”. Hệ thống tri thức
được phân biệt là tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học.
Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy quan hoạt động sống
hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và con người với
thiên nhiên. Quá trình này giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý
thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội. Tri
thức kinh nghiệm không ngừng được sử dụng và phát triển trong hoạt động thực

13
tế. Tuy nhiên tri thức kinh nghiệm chưa thực sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy
hết được thuộc tính và mói quan hệ bên trong của sự vật. Vì vậy tri thức kinh
nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết và giới hạn nhất định, nhưng tri thức
kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học.
Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống
nhờ hoạt động NCKH, các hoạt động này có mục tiêu xác định và sử dụng
phương pháp khoa học. Không giống tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học
dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự
kiện xảy ra ngẫu nhiên trong các hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa
học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học như: triết
học, sử học, kinh tế học, toán học
1.1.2. Nhiệm vụ KH&CN:
Hoạt động KH&CN có các nhiệm vụ sau đây:
- Vận dụng sáng tạo và phát triển lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh; xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra
đường lối, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc

hành kèm Quyết định số 4869/QĐ-BHXH ngày 28 tháng 10 năm 2008 của
Tổng giám đốc BHXH Việt Nam): Là các hoạt động khoa học có nội dung liên
quan đến chiến lược phát triển ngành BHXH và triển khai tổ chức thực hiện các
chính sách chế độ BHXH, BHYT, BH thất nghiệp. Các hoạt động này bao gồm:
- Nghiên cứu khoa học;
- Thống kê khoa học;
- Thông tin khoa học,;
- Hội thảo khoa học,
- Các dịch vụ KH&CN phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển công
nghệ, các dịch vụ tư vấn, phổ biến, ứng dụng tri thức khoa học, công nghệ và
kinh nghiệm thực tiễn và các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ;

15
- Triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học;
- Trao đổi, học tập kinh nghiệm và phối hợp nghiên cứu khoa học với nước
ngoài.
- Các hoạt động khoa học khác.
1.1.5. Quản lý khoa học (quản lý nhà nước và quản lý cấp cơ sở)
Nội dung quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ theo Luật KH&CN
Nội dung quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ bao gồm:
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch,
nhiệm vụ khoa học và công nghệ;
- Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về khoa học và
công nghệ;
- Tổ chức bộ máy quản lý khoa học và công nghệ;
- Tổ chức, hướng dẫn đăng ký hoạt động của tổ chức khoa học và công nghệ,
Quỹ phát triển khoa học và công nghệ;
- Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ;
- Quy định việc đánh giá, nghiệm thu, ứng dụng và công bố kết quả nghiên cứu
khoa học và phát triển công nghệ; chức vụ khoa học; giải thưởng khoa học và công

+ Chức năng: Tham mưu, giúp lãnh đạo thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý
nhà nước đối với các hoạt động khoa học của ngành.
+ Nhiệm vụ: Xây dựng và đề nghị lãnh đạo ban hành các cơ chế, chính sách,
biện pháp thúc đẩy hoạt động nghiên cứu khoa học, sử dụng hiệu quả tiềm lực và
ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ.
Tổ chức tuyển chọn, xét chọn, kiểm tra, đánh giá, nghiệm thu các nhiệm vụ
khoa học và công nghệ; đẩy mạnh hoạt động ứng dụng, công bố, phối hợp tuyên
truyền kết quả nghiên cứu khoa học, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ
và các hoạt động khác; quản lý các nhiệm vụ khoa học và công nghệ trọng điểm

17
của thành phố; phối hợp triển khai thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp
nhà nước các tại địa phương.
Phối hợp với các cơ quan cấp dưới tại địa phương và các cơ quan liên quan đề
xuất danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp nhà nước có tính liên
ngành, liên vùng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; đề xuất các dự
án đầu tư phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ của địa phương và tổ chức
thực hiện sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành của địa phương và các cơ quan liên
quan tổ chức thực hiện cơ cấu vốn đầu tư phát triển khoa học và công nghệ, vốn sự
nghiệp khoa học và công nghệ được phân bổ.
Đề xuất thành lập Hội đồng khoa học và công nghệ cấp thành phố theo quy
định của Luật Khoa học và công nghệ, hướng dẫn của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Làm Thư ký Hội đồng khoa học và công nghệ cấp Bộ, cấp Nhà nước và cấp viện
khi cần.
1.1.6. Nghiên cứu khoa học.
Nghiên cứu khoa học là hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra hoặc thử
nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức đạt được từ các thí nghiệm
NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và
xã hội để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị

như tính ổn định; kiểm tra các chỉ tiêu kỹ thuật của công nghệ, của sản phẩm…;
kiểm tra các chỉ tiêu khác như tính kinh tế, tác động đến môi trường, ảnh hưởng
đến văn hóa, xã hội,…
1.1.7. Các tổ chức nghiên cứu và phát triển

19
Các tổ chức nghiên cứu và phát triển được tổ chức dưới các hình thức: viện
nghiên cứu và phát triển, trung tâm nghiên cứu và phát triển, phòng thí nghiệm,
trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và cơ sở nghiên cứu và phát
triển khác.
Căn cứ vào mục tiêu, quy mô tổ chức và phạm vi hoạt động, các tổ chức nghiên
cứu và phát triển được phân thành:
- Tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp quốc gia;
- Tổ chức nghiên cứu và phát triển của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ (sau đây gọi chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp bộ); tổ chức
nghiên cứu và phát triển của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi
chung là tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp tỉnh); tổ chức nghiên cứu và phát
triển của cơ quan khác của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở
trung ương;
- Tổ chức nghiên cứu và phát triển cấp cơ sở.
1.1.8. Ứng dụng khoa học.
- Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa
học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới;
Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả triển khai thực nghiệm
để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới
trước khi đưa vào sản xuất và đời sống;
1.1.9. Hiệu quả hoạt động KH&CN
Khái niệm hiệu quả
Theo từ điển tiếng Việt (1997), hiệu quả: kết quả như yêu cầu của việc làm
[17, trg 508]. Theo từ điển bách khoa Việt Nam (1995), hiệu quả (HQ): kết quả

đồng nghiệm thu, thời gian và kinh phí thực hiện nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu
của ngành BHXH thường được tiến hành trong 1, 2 năm, kinh phí từ 35 đến 100

21
triệu đồng. Hội đồng nghiệm thu đánh giá kết quả từ xuất sắc, khá, đạt và không
đạt. Việc chi đúng, chi đủ, kịp thời luôn là phương châm của hoạt động tài chính.
Trong nghiên cứu khoa học cần phải đảm bảo: việc phân bổ kinh phí phải
đúng trọng điểm, phù hợp nội dung nghiên cứu, đảm bảo cho tiến độ nghiên cứu.
Nếu khối lượng công việc như nhau, kết quả đạt được như nhau thì đề tài nào tốn ít
kinh phí thì đề tài đó có hiệu quả kinh tế cao hơn.
Tiến độ nghiên cứu phải đảm bảo theo đúng dự toán vì nếu kéo dài quá thời
gian nghiên thì số liệu không cập nhật, tính thời sự không còn, ảnh hưởng đến chất
lượng nhiên cứu.
Kết quả nghiên cứu được ứng dụng trong thực tế là một trong 2 chỉ tiêu để
đánh giá hiệu quả của đề tài. Hầu hết các đề tài của BHXH là phản ánh thực tế và
mục tiêu là giải quyết những vướng mắc trong hoạt động nghiệp vụ của ngành. Vì
vậy sau khi nghiệm thu, các đề tài phải được vận dụng vào thực tế thì mới thể hiện
rõ hiểu quả của nghiên cứu. Đề tài nào có nhiều nội dung được vận dụng trong
thực tế thì hiệu quả càng cao. Nâng cao hiệu quả nghiên cứu khoa học là nâng cao
tính thực tiễn của đề tài, có nhiều kiến nghị, giải pháp được áp dụng trong thực tế.
từ các tiêu chí để đánh giá hiệu quả nghiên cứu khoa học trong ngành BHXH,
nhóm nghiên cứu chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp đổi mới nhằm nâng
cao hiệu quả trong hoạt động khoa học & công nghệ ngành BHXH Việt Nam.
1.2. Các quy định về hoạt động khoa học trong ngành BHXH.
Để thuận lợi cho việc quản lý hoạt động khoa học của ngành BHXH Việt
Nam, căn cứ Quyết định số 1147/QĐ-KH ngày 01 tháng 06 năm 1996 của Bộ
trưởng Bộ Khoa học - Công nghệ và Môi trường (Nay là Bộ Khoa học và Công
nghệ) về việc công nhận Bảo hiểm xã hội Việt Nam là đầu mối kế hoạch khoa học
và công nghệ;
Hoạt động khoa học và công nghệ hiện nay được điều chỉnh bởi Luật Khoa

BHYT qua từng thời kỳ khác nhau. Nghị định 12/CP ngày 26 ngày 1 năm 1995 của

23
Thủ tướng chính phủ ban hành Điều lệ về BHXH. Sau nhiều lần sửa đổi, chính
sách BHXH và tổ chức thực hiện được điều chỉnh bằng Luật BHXH, chính thức có
hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2007. Trong lĩnh vực BHYT các Nghị định quy
định về thực hiện BHYT là Nghị định 299/NĐ-HĐBT ngày 15 tháng 8 năm 1992,
Nghị định 58/1998/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 1998, Nghị định số 63/2005/NĐ-
CP ngày 16 tháng 5 năm 2005 ban hành điều lệ BHYT và từ 01 tháng 7 năm 2009
Luật BHYT chính thức có hiệu lực thi hành. Mỗi văn bản khi đi vào cuộc sống đều
nảy sinh những điều bất cập, công tác nghiên cứu của ngành BHXH góp phần
trong việc phát hiện, mổ xẻ, phân tích và tìm hướng giải quyết những vướng mắc
trong quá trình đưa chính chính sách cuộc sống. Tuy nhiên trong hoạt động bảo
hiểm xã hội và bảo hiểm y tế có những đặc thù nghiên cứu riêng biệt, do vậy khi tổ
chức thực hiện nghiên cứu cần phân biệt rõ nội dung cơ bản cần nghiên cứu của
BHXH và BHYT để có phương hướng tổ chức nghiên cứu cho phù hợp.
1.3.1. Hoạt động nghiên cứu khoa học về BHXH
Tính đến hết năm 2010 số lao động tham gia BHXH bắt buộc là 9.4 triệu
người. Công tác giải quyết chế độ chính sách BHXH từ năm 2007 đến hết năm
2010 là gần 17.3 triệu lượt người. Trong đó người hưởng hàng tháng là 0,5 triệu
người, người hưởng BHXH 1 lần là 1,8 triệu người và 15 triệu lượt người hưởng
trợ cấp ốm đau, thai sản, dưỡng sức. Riêng năm 2010, tổng thu BHXH là 80.115
tỷ đồng, tổng số chi BHXH là 61.084,9 tỷ đồng. Đây là những con số chung nhất
trong lĩnh vực BHXH. Từ những con số này chúng ta thấy được khối lượng công
việc trong thực hiện chính sách BHXH.
Các chế độ BHXH được chia thành hai loại: các chế độ BHXH dài hạn và
các chế độ bảo hiểm ngắn hạn. Căn cứ vào tính chất này tổ chức nghiên cứu theo
hai hướng sau:
- Nghiên cứu các chế độ ngắn hạn: Nghiên cứu chính sách và quá trình tổ
chức thực hiện các chế độ ốm đau, thai sản, thất nghiệp, nghỉ dưỡng sức. Đối với


25
gia nếu không có sự phối hợp chặt chẽ với ngành y tế. Cùng một bệnh nhưng
ở các bệnh viện tuyến khác nhau mức thanh toán khác nhau, bệnh viện cùng
tuyến ở các tỉnh khác nhau cũng khác nhau. Tỉnh giữ cân đối được quĩ, tỉnh
âm quĩ lớn
- Phương thức thanh toán theo phí dịch vụ hiện nay gây nhiều tranh cãi trong
việc ảnh hưởng đến cân đối quĩ, gây tình trạng bệnh viện cho bệnh nhân làm
nhiều xét nghiệm không thiết, gây tình trạng lạm dụng quĩ BHYT, mất cân
đối quĩ. Tập trung nghiên cứu phương thức thanh tóan mới phù hợp với từng
tuyến kỹ thuật, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia BHYT và cân đối quĩ.
- Cơ cấu chi phí trong chi phí BHYT, thuốc là lớn nhất, chiếm 65% tổng số
chi phí nên việc quản lý giá thuốc cũng là một vấn đề nóng, nhạy cảm đặt ra
cho ngành BHXH.
- Mối quan hệ trong lĩnh vực BHYT bao gồm 3 bên: cơ quan BHYT, người
tham gia BHYT và những cơ sở khám chữa bệnh ký hợp đồng với cơ quan
BHYT để khám chữa bệnh cho người tham gia BHYT. Việc cung ứng các
dịch vụ khám chữa bệnh của cơ quan thực hiện BHYT với người lao động
thông qua hệ thống cơ sở y tế, nên việc thực hiện BHYT tốt hay xấu phụ
thuộc rất nhiều vào thái độ của các bác sỹ, nhân viên của các cơ sở y tế với
người đến khám chữa bệnh. Trong thực tế, có nhân viên y tế đã có những
thái độ không đúng mực với bệnh nhân có thẻ BHYT đã làm cho người bệnh
hiểu sai về chính sách BHYT và có những ác cảm với việc tham gia BHYT.
Qua một số cuộc điều tra tại một số tỉnh, thành phố, người tham gia BHYT
có rất nhiều bức xúc về thái độ của nhân viên y tế khi khám chữa bệnh, phân
biệt đối xử giữa bệnh nhân BHYT và bệnh nhân trả tiền dịch vụ. Người có
thẻ BHYT không dùng hoặc không dám dùng thẻ vì sợ ảnh hưởng đến việc
điều trị sức khoẻ của mình. Điều này mất đi tính nhân văn, chia sẻ cộng
đồng của chính sách BHYT.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status