BỘ GIẢO DỤC ĐÀO TẠO
TRUNG TÂM KIIXI1&NVQG
VIỆN TRIẾT HỌC
MAI THỊ QUÝ
VÃN ĐỂ KÊ THỪA GIÁ TRỊ TRUYẾN THỐNG CỦA DÂN TỘC TA
TRONG BỔI CẢNH TOÀN CẤU HOÁ
LUẬN VÃN THẠC SỸ I RIi: I HOC
Chuyên ngành : CNDVBC & CNDVLS
Mã sỏ : 5.01.02
Người hướng dẫn khoa học:
(ỈS.TS. NíỉUYỄN TRỌNC. (’HUẤN
HẢ NỘI, 2001
MỤC LỤC
Trang
MỎ ĐẦU
]. Tính cấp thiết của đe tài
2 . linh hình ngliicn cứu cứa tie tài
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
4. Cơ sở lý luận YH phương pháp nghiên cứu
5. Cái mới của luận văn
6. nghĩa của luận văn
7. Kết câu của luận văn
NỘI DUN(Ỉ
Chương 1: Kê'thừa và vân tlổ kc thùa các ị4Ìá (rị truyền í hống
của dân lộc
1.1. Kế thừa - mộl hiện tưựng mang lính quy liiậl của sự
phái Iricn xã hội
1.2. Kế thừa các giá trị Iruvén thống - vai trò và ý imhìa của
nó tronu tiên trình phát ti icn của dân lộc
Chương 2: rác động của loàn cầu hoá và việc kế lliừa mộl sỏ
giá trị fruycMi ĩliông của dán lộc trong bối cành
sừ, những giá Irị Iruyền lliốnu của dân tộc dã dẩn được hình thành và plìát
triển. Có thổ nói, những giá trị Imycn tlìống vừa là kốl quá, vừa là động lực
cùa quá trình đấu tranh gian khổ, lâu dài và quật cường của dân tộc la chóng
lại thiên tai và địch hoạ. Những giá í lị ấy dã làm nên côì cách, linh thán và sức
mạnh Việl Nam được bạn bò lhố giói khâm phục.
Nhũng giá trị truyền llìống Uiy mang lính ổn (lịnh, bén vững nhưng
không phái là nhâl thành, bâì biên mà cũng vận tlộim, biến dổi cùng với sự vận
động, biến đổi của lịch sử. Khi lịch sư bước sang một lliời kỳ mới thì nhữne
giá trị truyền Ihống cũ lại được thấm định, chắl lọc và dổi mới cho phù hợp.
Đổng thời, những giá ui mới dần dược hình Ihành làm cho hệ thống giá trị
Iruycn Ihông của dân lộc ngày càng phong phú
Nliững năm gần đây, tình hình Ircn Ihế giới có nlứểu biến dộng lớn.
Một troim những bicn dộng dó là XII lliố toàn call lioá dang diễn ra như một
CƯU lốc cuốn híít lất ca các nưức Irêiì thế giới. Đây là mộl xu ihc" lất \ÔII,
khách quan, hợp quy luật của thời dại mà không mộl quốc íiia nào cỏ the dLÌ 1112,
ngoài nêu không muốn bị tụt hậu. loàn cẩu hoá đem lại cho lâl cá các nước
đặc biột là các nước claim phát trie’ll nhũng cơ hội lớn, nhưng mặl khác, nó
cũng đặt ra những Ihách thức không nhỏ. Mộl trọng những thách llúrc dáng lo
ngại đó la sự phá vỡ nhũng íĩiá trị truyện Ihống vốn có lừ lâu đời của các đùn
tộc, làm cho dán tộc này có the bị hoà tan hay trở thành cái bón 2; của một dân
2
tộc khác, tức là làm đánh mâì hán thân mình va đánh mất sức mạnh vốn có
cua chính LỈân tộc mình.
Việt Nam cũng như lất ca rác nước kháo trcn llìê giới không í tic dứng
ngoài đò na chay loàn cầu hoá. Vân tie đặt ra là làm thê nào đe trong quá trình
hội nhập khu vực và quốc lế cluing ta không những không đánh mái những giá
trị truyền thống của dán tộc mà CÒI1 có llic j|ifr gìn, kc' thừa, phái huy và đổi
mới những giá Irị đó, biến cluing Ihành sức mạnh nâng (lất nirức Jen mội lầm
cao mới, đủ sức nấm bill những cơ hội mới tlo chính quá Irình toàn cầu lmá
đcm lại. Đây là một vân đổ cáp bách đang gày sự chú ý của nhiổu cáp, nhicu
llìức mới, do vậy, nhũng năm gấn đây, đã có những cuộc hội lliáo quốc lế lớn
bàn về vấn dc giữ gìn và phái huy nhũng tủ á Irị Iruyén thống cua các dân lóc
Irong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay. Trong đó phái kc đé'n một số báo cáo
điên hình như: Nguyễn Trọng Chuẩn, Vấn đe khui tliác các ạiá trị íruyẽìì
thống vì mục tiêu phát triển, Hà Nội, 1998; Nguyễn Văn Huyên, Giá trị
truxền thônÍỊ - Iiliân lõi rà sức sốììíị hén tro/iíị của sự phát triên lỉấí m(ớc, dân
tộc, Hà Nội, 1998; Hổ Sĩ Quý, Mấy SUY ỉìíịIìĩ vớ iịiá trị và ậiú trị íruyén thòìì
Hà Nội, 1998; Nsuyễn Trọng Chuẩn, Các iỊĨá trị Irnyên ihốìig trước sự thâm
dinh và thách thức của thời íĩại lionq bối cảnh toàìì cầu hoá, Hà Nội, 20(31;
Đỗ Huy, Nhữnq giô trị íruvén thôììiị ở Việt Nam tì ước thách thức của loàn
cầu hoá, Hà Nội, 2001; Nguven Tài Thư, Khcí năiiỊỉ phát triển của f>iá trị
truyền thông Việt Nam tníớc MI thê loàn câu ỈÌOÓ, Hà Nội, 2001; Lc Ngọc
Anh, Sự chuyển dổi íỊĨá trị Intyên thống Việt Nam tníớc .xu flic toàn càu lìoá,
Hà Nội, 2001
Ngoài các công liìnli dã I1C11 ử trcii, còn cỏ nliiéu cóng Irìnli, bài \ièt
khác nghiên cứu về vấn dề này. Tuy nhicn, do khuôn khổ hoặc do mục đích
ricng mà chưa có công trình nào đi sáu nghiên cứu mộl cách cỏ liộ lliống về sự
tác độ ng của XII lliế toàn cầu hoá dôi với các ịiá Irị d uyên llìóng và VC vân dề
kế’ llìừa những giá trị Iruyen lliốns dân lộc Irong bối cánh loàn cầu lioá. Trước
tình hình dó, ycu cáu dặl ra là phải đẩy mạnh liưn nữa sự lập (rung Iiiihic n cứu
4
VC vấn dồ này trong đicu kiện hiện nay bửi đây là mộl vấn dê hộ trọng liên
quan đến sự tồn lại và phát triển của dân lộc trong xu thè hội nhập (oàn cầu.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là góp phán làm rõ vai trò của sự kế thừa trong
tiến trình phái triển xã hội Ihco quan điểm của ưiếl học Mác. - Lênin, chỉ ra và
phân tích sự tác dộng của toàn cầu hoá đốn các giá trị truyền lliống, trcn cơ sớ
đổ, ncu lcn mội số giá Irị Iruycn Ihống cua dân lộc cần phái kế lliừa Irong bói
cảnh toàn cầu hoá hiện nay.
Đê ihực hiện mục đích Irên, luận văn có những nhiệm vụ sau dãy:
văn gồm có hai chương (4 tiết).
6
NỘI DUNG
Chương 1
KẾ THƯA VẢ VÂN ĐỂ KẼ THỪA
CẮC (ỈIẢ TRỊ TRUYỀN THốNC CỦA DÂN TỎC
1.1. Kế thừa - một hiện tượng niaiìg tính quy luật của sụ
phát triển xã hội
Theo quan điểm của chủ nghĩa duy vậl biện chứng, mọi sự vậl, hiện
tượng trong thế giới khách quan đểu luôn nằm Irong quá Irình vận dộng, hiến
đổi và phát triển khône ngừng Iheo nhũng quy luậl Illicit định. Xét về phạm vi
tác dộng, có thể phân các quy luật đó thành ba nlióni chính, đó là: những quy
luật tác động Irong một lĩnh vực hoặc một giai đoạn phái triển của sự vật;
những quy luậl đặc ihư li'c động Irong một số lĩnli vực, một số giai đoạn phát
triển và những quy luật chung tác dộng trong toàn bộ sự phát Iriển của lự
nhiên, xã hội và iưduy.
Một trong những quy luật chung biểu hiện khuynh hưứng của sự phát
triển là quy luật phủ định của phủ định mà kế thừa là mội dặc Irưng cơ hán.
Tính kế lliừa thực chất chính hì “mối licn hộ lất yếu khách quan giũa mới và
cũ trong quá Trình phát tricn [57, ti. 269], Trong mối quan hệ dó, cái mới
luôn ra đời, thay thế và phủ định cái cũ, nhưng giữa chúng lại có mối liên hệ
khăng khít với nhau, dó là sự kc'llura của cái mới dối với cái cù.
Quan điểm sicu hình coi phủ định là sự can lliiệp của nhũng lực lượng
bên ngoài làm phá huỷ, 111 ủ Litu sự vật, chím dứt sự phát triển cua 11(5. Như
vạy, giữa cái cũ và cái mới luyệl nhiên không cỏ mộl mối licn hệ nào hòt.
Trong khi đó, VC thực châì, phu định là quá trình làm mất di cái cũ và xuât
hiện cái mới hoàn thiện hon, tiến bộ hưn. Do vậy, phủ tlịnh là mắt khâu lấl VCL1
của bất kỳ một sự phát Iriển nào, Ángghen khẳng định: “Phủ định Irong phép
hiện chứng, không phai chỉ có ý nghĩa gián dơn là nói: không, hoặc gia là
7
gian, cái quá khứ không mát đi mà không đổ lại dâu vết nào trong cái hiện lại.
8
Thực chât, nó đã iham gia vào việc tạo ra cái hiện tại, lạo ra mối licn hệ chặl
chẽ và sống động giữa các sự vậl, hiện lượng Irong quá khứ với hiện tai và
tưưng lai. Mối liên hộ này biểu hiện kluiynh hướng pluíl triển (lị lên của các sự
vật, hiện tượng.
Phát triển chính là sự vận động theo khuynh hướng đi lên từ Ihấp đến
cao, từ kém hoàn tliiện đến hoàn ihiện liưn, lừ lạc hậu đến liến hộ. Kết quả của
quá trình vận động đó là sự ra dời của sự vật mói hoàn thiện hưn sự vật cũ.
Trong quá trình này, nhũng yếu lố tích cực của cái cũ được giũ' lại, cải biến dể
tham gia vào sự vậl mới với tư cách là yếu tố cấu thành của nó. Pluì định biện
chứng không phai là sự ticu diệl giản đơn cái cũ mà là phủ định làm cho cái
mới nảy sinh từ Irong lòng cái cũ, là những nhân lố tích cực của cái cíí trừ
thành vật liệu cần Ihiết cho cái mới. Phát triển không phai là bước di thuân tuý
mà là một khuynh hướng trải qua nhiều giai đoạn bao hàm Irong nó những
bước đi quanh co, phức tạp. Pliál triển diễn ra theo quy luật phủ định của phú
định chứ không phải chỉ bao gồm tổng số nhũng lần phủ định riêng biệt. Mỗi
lần phủ định biện chứng sẽ mang lại những nhân lố tích cực mới. Do vậy, sự
phát triển ihông qua nhũng lần phủ định biện chứng sẽ lạo ra xu hướng tiến
lén không ngừng.
Tuy nhiên, sự phái Iriến đổ không phai diễn ra llico dường ihẳng mà
theo đường xoáy ốc. Để cập đốn vấn đề này, V.I. Lcnin viêl: “Sự phát triẽn
hình như diễn lại những giai đoạn đã qua nhưng dưới một hình thức khác, ở
một trình độ cao hơn (“phủ định của phủ định”); sự phát trie’ll có thể nói là
theo đường trôn ốc chứ không phai llieo dưừng lliẳng” [35, Ir. 65J.
Diễn tả con đường của sự phát triên bằng đưừng xoáy ốc chính là hình
thức cho phép bicu đạt rõ làng nhất các dặc trung của quá trình phái Iriển biện
chứng, đó là: tính kế thừa, tính lặp lại nhưng không irử lại và khuvnh hưỏne
tiến lên của sự phát Iriển. Mỗi một vòng mới của đường xoáy ốc llìổ hiện mội
trình độ cao hơn của sự phát triển đổng thời đưòTig như quay lại cái đã qua,
dược Hêghen trình bày trong “Học Ihuyết vé khái niệm” - một troim ba bộ
phận cấu thành khoa hoc lôgic của ông. Hêghcn coi sự phái Irién không chi là
sự tăng giam đơn Ihuần về lượng mà là quá trình phủ định biện clnín” trone dó
10
diễn ra sự thay thế cái cũ bằng cái mới nhưng không loại Irừ những yếu lố Lích
cực của cái cũ. Ong viết: “Cai nụ hoa hiến mất khi hoa I1Ớ, và có lliể nói ráng
nó bị hoa phủ định; và tương lự như vậy có thể nói khi quá xuâì hiện 111 1 sự lén
tại của hoa bị coi là vô lý, thay lliế cho sự hợp lý của hoa liu giờ dây là quá.
Những hình thái trên dây không chỉ khác nhau, mà còn bài trừ, không dung
hợp nhau. Tuv nhiên, hân chất sống động làm cho chúng trứ (hành những yếu
tố của một chỉnh thê hữu cơ, (rong đó chúng không những không mâu thuẫn
nhau, mà cái này cũng lất yếu như cái kia và chỉ có lính lất yếu Iilur nhau như
thế tạo nên cuộc sống của chỉnh thế’” [Dẫn theo 37, Ir. 196 - 197).
Tuy nhiên, vốn là một nhà biện chứng duy tâm, cho nên các quy luftt.
phạm trù do Hcghcn nêu ra chí là các quy luật vận dộng và pliál triển của tư
duy, của khái niệm. Mác và Ảngghen là những ngưừi đã phái hiện và kc thừa,
phát triển hạt nhân biện chứng Irong cái vỏ duy lâm thẩn bí của học thuyêt
triết học Hêghen và dã “dựng 11(1 lại” dể xây dựng ncn phép biện chứng duy
vật.
Khi nói về sự tác dộng của quy luật phủ định của phủ định, Ãnghen dã
vạch rõ, dây “là một quy luạt vỏ cùng phổ biến và chính vì vậy mà I1Ó có mội
tầm quan trọng và có tác dụng vô cùng lo lớn VC sự phát h iển của tự nhiên,
của lịch sử và của tư duy; một quy luật, , biểu hiện (rong giới dộng vật và
thực vậl, trong địa chất học, loán học, lịch sử, Iriốt học ” [40, tr. 200ị.
Trong lự nliicn, lính ké thừa được biêu hiện, chẳng hạn như những nhân
lố vô CƯ dược giữ lại khi chuyến sang giới lự nhiên hữu cơ. Giới tự nhicii hữu
cơ là bước phát triên cao hơn giới lự nhiên vô cơ, nlumg nhũng nhân tố vô cơ
vẫn được giữ lại như mội điổu kiện tổn tại của các CƯ lliổ hữu cơ. Trong llic
giới động vật và thực vật, kế thừa là điều kiện đổ hoàn lliiện các hình tliức
sống trên cơ sử đi truyền. Học thuyết tiến hoá của Đác-uyn đã chứng minh
không phải là sự phủ định sạch trơn, mà chủ nghĩa xã hội SC phải kế lliừa
những nhân tố tích cực của chủ nghĩa tư ban. Mộl trong nhũng nhân tố cẩn
được kế thừa nhâì đó là trình độ phát triển cửa lực lượng sán xuất mà chủ
nghĩa tư bán dã dạt được. Chủ nghĩa xã hội sẽ không thể đưực xây dựng lliành
công nếu thiếu di sự kế thừa đó.
11
12
Hơn nữa, các quan hệ sản xuất nối tiếp nhau trong lịch sử cũng chị LI sự
chi phối của lính kế thừa, mặc dù sự ké thừa ở dây khó nhận thấy hơn so với
sự kê thừa của lực lưựng sản xuất. Trong lịch sử, tâì cả các dân lộc đều bắt đáu
lừ chế độ sở hữu chung vổ ruộng đất. Nhưng đốn một giai đoạn nào đó, chế đọ
sỏ hữu chung đó lại gày trử ngại cho sản xuất
I1CI1 nỏ bị chê độ SƯ hữu tir nhãn
thay thế. Nhưng khi nông nghiệp đã phát triển đốn một giai đoạn cao hơn nhừ
chính chế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất, thì ngược lại chế độ sứ hữu tư nhân
lại trở thành xiểng xích của sản xuất, từ dó tấl nhicn nảy ra yêu cầu đòi hói
phải thay thế chế độ sở hữu lư nhân dó bằng chế độ sở hữu chung. “Nhưng
yêu cẩu này không có nghĩa là khôi phục lại chế độ sơ hữu nguycn Ihuỷ Irước
kia, mà là lập nên một hình thức cao hơn và phát Iriổn hơn Iihicu của hình thức
chiếm hữu chung ” [40, tr. 196]. Đây chính là một quá trình phát triển trên
cơ sở kế thừa về quan hệ sở hữu dã và đang diễn ra trong lịch sú.
Tưưng ứng với sự kê' thừa vé quan hệ sở hữu là sự kế Ultra vổ quan hệ
giữa ngưừi với người trong xã hội và các hình thức bóc lột trong lịch sử. Trong
chế độ cộng sản nguycn thuỷ, quan hệ giữa con người với con ngưừi là bình
dẳng, không diễn ra bất cứ mộl hình thức bóc lột nào. Khi chê’ độ chiếm hữu
nô lệ ra dời, quan hệ bóc lột bắt đáu dược hình thành. Quan hệ bóc lộl này
được kê' thừa và phát Iricn ngày càng tinh vi tong các xã hội tiếp theo là
phong kiên và tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, quan hệ bóc lột này SC được xoá
bỏ trong chế độ cộng sán chủ nghĩa, thay vào dó, quan hệ bình dẳng vốn có
Irong chế độ cộng í án nguycn lliuỷ SC dược kế thừa và phát trie’ll ờ Irình độ
phủ định triệt để những nhân tố tiêu cực, lạc hậu kìm hãm sự phát triển của Xd
hội trong các xã hội có đối kháng giai cấp, vừa tổng hợp trong mình những
thành quả tốt đẹp của các xã hội đó trên cơ sở mới. Đó là đicu kiện luyộl đối
cần thiết để tạo nên sự phát triển cao hơn về chll của chủ imhĩa cổng sản so
với các chế độ xã hội trước dó. Tuy nhiên, một khi loài người dã đat đến xã
hội cộng sản chủ nghĩa trong iưưng lai thì không phái là quá trình phủ định
biện chứng sẽ kết thúc bửi vì sự vận động và phát triển của xã hội là một quá
trình diễn ra không ngừng. Khi chủ nghĩa cộng sản dirực llìiết lạp lift bản llian
nó lại tiếp tục quá trình tự phủ định, lự đổi mới để ngày càng hoàn Ihiện hơn.
14
Trong tư duy, sự phát Iriển của các hình thái ý tlúrc xã hội như khoa
học, triếl học, nghệ thuật, đạo đức, pháp quyền cũng ihc hiện rõ tính ke thừa
trong nhận thức của con người qua các lliời đại lịch sử khác nhau. Chúng la
hãy lấy sự phát tricn của triết học làm minh chứng.
Trong lịch sử phát triển của triết học, các Irirừng phái triết học lần lưựt
xuát hiện trcn cơ sở kê' thừa những thành tựu đã dạt được trước đỏ xél trong
từng phạm trù triết học cũng như từng trượng phái Iriết học. Hêglicn là nmrời
dầu ticn dã nhìn thấy vân đc nàv. Ông dã so sánh lịch sử triết học với một
vòng tròn - “vòng tròn này bao gồm ở chung quanh nó một sổ lớn những vòng
tròn” [Dẫn theo 36, tr. 261J. Theo ông, dó là một quá trình vừa da dạng vừa
thông nhất. Vứi Hêghen, mỏi học thuyết Iriết học trước dây tiếu không bị lãng
quên mà là một vòng khâu tâl yếu trong liến trình phát triển của tư duy nhân
loại. Ban thân Hcghen cũng thừa nhận rằng, học Ihuyêì của mình được xây
dựng trên cơ cở tic'p thu, có chọn lọc và tổng kết những di san quý báu của tác
học thuyết triết học trước dó.
Lênin dã đánh giá cao tư tưởng Irên của Hêghen và đã kế thừa, pliál
triển I1Ó lcn mội tầm cao mói. Lénin viet: “Mỗi khía cạnh riêng biệt của tư
tưởng bằng một vòng tròn trcn vòng tròn lớn (xoáy ốc) của sự phát triển cua tư
tưởng con người nói chung” [36, tr. 261 ].
Tư tưởng của Lênin dã chỉ ra răng, các học thuyết triết học khôiỊg phái
trong viêc kế thừa, bảo vệ và phái triển quan điểm duy vâl, nhưng nó vẫn
không thổ thoát khỏi quan niệm trực quan, siêu hình và duy lâm về mặt xã hội.
Đối lập với các nhà duy vật, các nhà duy tâm lại đồ cao quá mức vai Irò
của tu duy, ý thức trong mối quan hệ với vật cliât. Tuy nhicii, nhiều nhà duy
tâm trước Mác vẫĩi có những dóng góp đáng kc vào việc xây dựng và phát
triển phép biện chứng, mặc dù Ui biện chứng duy lâm, như Platôn, Dcnônu,
Lépnit,Cantơ, Phichtơ, Sêlinh và đặc biệt là Hcghcn. Điéu này cũng dã đưực
chính Mác và Ănggcn thừa nhận. Mác dã Ill'Ll ý: “Tính chúi Ihrìn bí mà phép
biện chứng đã mắc phai ử trong lay Hêghcn tuyệt nhiên kliôim imăiì càn
Hêghen trở thành người dầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý llìức
những hình thái vận động chung của phép biện chứng ây. ơ Hêghcn, plicp
16
biện chứng bị lộn ngược dầu xuống đất. Chỉ cần dựng I1Ó lại la sẽ phát hiện
được cái hạt nhân hợp lý của Ĩ1Ó đăng sau lớp vỏ lliần bí” [43, tr. 35].
Còn Ảngghen, trong tác phẩm “LÚI vícli Phoiưbăc và sự cáo chung của
triết học cổ điển Đức’ dã nhận xét rằng, cái kết câu gưựng gạo của ỉlêglien
ch' như là một c íi khung, cái giun cho công Irình của ỏng mà thôi. Ánggcn
viết: “Nếu người ta đừng phí công đừng lại ử nhũng kết câu ấy mà đi sâu hon
nữa vào Irong toà nhà dồ sộ, người ta sẽ thấy trong ấy cỏ vô số những vậl quý
giá đến nay vẫn còn giữ toàn bộ giá trị của chúng” [41, tr. 3^8],
Chủ nghĩa Mát' tì3 kế thừa và cải tạo cả chủ nghĩa duy vật siêu hình lẫn
phép biện chứng duy tâm để xây dựng nên chủ nghĩa duy vậl biên chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử. Như vậy, clnì nghĩa Mác không phải là mội học
thuyết đoạn tuyệt với quá khứ, cũng không phải ra dời trcn một manh đất
Irống rỗng, mà nó đã kê thừa một cách xuâì sắc tất cả những tinh hoa cua
những học thuycl triết học trước đó. Đúng như Lcnin dã đánh giá: “Học tluiyct
của ông (Mác) ra đời Là sự kế llìừa thẳng và trực tiếp những học lliuyết cùa
những dại biểu xuất sắc nhái trong triết học, trong ki nil tế chính trị học và
trong chủ nghĩa xã hội Nó ]à người thừa kế chính đáng của lất cả nhũng cái
tốt đẹp nhất mà loài ngirừi dã tạo ra hồi thế kỷ XIX, đó là Iriêt học Đức, kinh
về giá Irị). Hiện nay, khái niệm giá trị đang dược sử dụng rộng rãi irong nhiều
ngành khoa học khác nhau như: triết học, lâm lý học, dạo đức học, xã hội học,
mỹ học Trong mỏi bộ môn cụ thể, khái niệm giá trị được hiểu theo những
nội dung rộng hẹp khác nhau.
Nhìn từ góc độ kinh tê học, giá trị là giá Irị của hàng lioá hay vậl phẩm,
là lượng lao động xã hội kết linh Irotm hàng hoá hay trong vật phẩm dó. Do
vậy, những hàng hoá nào có lượng hao phí lao dộng xã hội càim lớn thì giá lĩỊ
của nó càng cao và ngược lại. Đổ bộc lộ giá trị, vật phẩm phái được dem ra
trao đổi mà muốn vậy, vạt phẩm phái có ích lức là phái có giá Irị sử dụng, phai
có khả năng thoả mãn nhu cầu cua con người. Trong kinh tê chính trị học, giá
uị là một phạm Irù lịch sử, nó ch í tồn lai trong nền sau xuâl l];'mg hcá mà ihoi.
18
Nhìn từ góc độ đạo đức học, giá trị dưực xem xél trong phạm vi dời
sống đạo đức của con người. Giá trị đạo đức chính là những thái tlộ, hành vi
được con người lựa chọn, dược đánh giá là có ý nghĩa tích cực đối VỚI dời
sống xã hội, dược lương tâm đổng tình và dư luận biếu dương, phù hợp với
những chuẩn mực đạo đức của xã hội Irong từng thời kỳ nhất định.
Có nhiều cách tiốp cận khác nhau, song cách tiếp cận từ góc độ triết
học là phương hướng lối ưu đé xác định nội dung của khái niệm giá í lị một
cách khái quát nliẫt. Tuy nhicn, Irong triết học cũng có nhiều quan niệm khác
nhau về giá trị .
Chủ nghĩa duy tâm ticn nghiệm coi giá trị là sự tổn tại của những hán
chất ticn nghiệm, những chuẩn mực lý tưửng tồn tại hèn ngoài sự vật, không
phụ thuộc vào nhu cầu và ham muốn của con người. Tương tự như vậy, quan
điểm tôn giáo cũng quy mọi giá trị của cuộc sống vào nguồn gốc lliẩn bí, đo
Thượng đế sắp đặt.
Trái lại, chủ nghĩa duy lâm chủ quan và chủ nghĩa tương dối lại phủ
nhận yếu tố khách quan của giá trị, coi giá trị là hiện tượiìg của ý thức, là biểu
hiện thái độ chủ quan củ I con người đối với khách thể mà người dó đang đánh
giá. Giá trị chỉ là ý nghĩa mà con người gán ghép, áp dặt một cách võ đoan
hãy cùng Iham khảo một số định nghĩa đó đổ có the rút ra được những đặc
trưng cơ bản của phạm Irù này.
Từ điển bách khoa loàn thư Xô Viết định nghĩa: “Giá trị là sự khẳng
định hoặc phủ dinh ý nghĩa của các đối tượng tluiộc thô giới xung quanh đói
với con người, giai cấp, nhóm hoặc loàn xã hội nói chung. Giá trị được xác
định không phải bởi bản ihân các thuộc tính tự nhicn, m a là bởi tính chất CUOI1
hút (lôi cuốn) của các thuôc tính ấy vào phạm vi hoại dỏng sống của con
người, phạm vi các hứng thú và nhu cầu, các mối quan hệ xã hội, các cliuấn
mực và các phương thức đánh giá ý nghĩa nói trcn dược bicii hiện trong các
nguyên lắc và chuẩn mực đạo đức, Irong lý tirởns, tâm thổ và mục đích” [Dẫn
theo 60, tr. 51 - 52J.
20
Trong từ điển triếl học do M.M Rodcntan chủ hiển, giá trị đã được định
nghĩa: “Giá trị - nhũng định nghĩa về mặt xã hội của các khách thể trong the
giới chung quanh, nhằm I1CU bật lác dụng lích cực hoặc liêu cực của các klnkii
the ấy đối với con người và xã hội (lợi, thiện và ác, cái đẹp cái xấu nằm trong
những hiện tượng của dời sống xã hội hoặc lự nhicn). Xct bc ngoài, các giá trị
là các đặc tính của sự vậl hoặc của hiện lượng, luy nhiên, chúng không phái la
sái vốn có do thiên nhicn ban cho sự vật hiện tưựng, không phải dơn thuần do
kết cấu bên Irong của ban ihàn khách lliè, mà do khách ihể bị thu hút vào
phạm vi tồn tại xã hội của con người và trớ thành cái mang những quan hệ xã
hội nhất định. Đối với chu thê (con người), các giá tiị là những dổi tượng lợi
ích của nó, còn đối với ý Ihức của nó thì chúng (.lóng vai trò những vật định
hướng hàng ngày trong thực tại vậl thể và xã hội, những biểu thị các quan hệ
thực tiễn của con ngưừi đối với các sự vậl và hiện tượng chung quanh” [ỊỊ7, tr.
206].
Theo G.H.Phíchtơ , nhà xã hội học Hoa Kỳ, “tâì cả cái gì có ích lợi,
dang ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân, hoặc xã hội đêu có một
giá trị” [Dần Iheo 60, Ir. 53].
L.Dramalicp (Bungari) coi giá lí Ị là “một phẩm chất khách quan, một
của mình, là cái mà con người mong muốn được theo tluổi. Giá li ị là cơ sò'
đánh giá lliái độ, hành vi đúng sai, nôn có và không IICIÌ có của con nsười. Cìiá
trị là cư sớ của các chuẩn mực, quy tắc xác định cách lluíc hành động cùa con
người. Mõi người đều phai dựa vào các giá (l ị cìuực xã hội chấp nhận đe lựa
chọn cách tlníc suy nghĩ và hành dộng pliìi hợp lìliấl. Các giá trị làm hình
lliành động cơ, lliái độ, quycì lầm và sức mạnh giúp con người virợi qua khó
khăn, vươn lới mục đích, thúc đẩy hoại động con người. Theo Giáo sư Nguyen
Trọng Chuẩn, “nói đến giá trị tức là muốn khẳng định mặl lích cực, mặl chính
diện, nghĩa là dã bao hàm quail điểm coi giá trị gắn lien với cái đúng, cái tôl,
cái hay, cái dẹp; là nói đến cái cỏ khả năng thôi thúc con người nỗ lực hành
động và nỗ lực virưn tới” |6, Ir. 161
22
Hình thức biéu hiện của giá Irị là vô cùng phong pluì, da dạng phụ
lliuộc vào tính đa dạng trong nhu cầu của con người, cỏ những giá Irị vậi diâl,
có những giá trị tinh lliần; cổ những giá trị chung cho toàn nhãn loại, có
những giá trị ricng của mỗi dân tộc, cộng đổng hay cá nhãn; cỏ những gi;í Irị
thiết yếu và có những giá trị cao đẹp; cỏ những giá trị láu hổn tlược giữ gìn, kè
thừa qua nlìicu thố hệ nhưng lại cỏ những giá ti ị chỉ lổn lại Irong mộl ilìời gian
ngắn rồi sẽ bị mờ nhạt thin và bị mâì đi klii lioàn cánh lịch sử dã biến đoi vù
lliay ihế vào đó là nhũng giá trị mới điiực hìnli lliành.
Mỏi dan tộc có một hệ tliống chuẩn mực giá trị khác nhau, và 111ỘI hệ
thống chuẩn mực giá trị nào đó khi dã dirực xã hội cliâp nhận lliì sẽ trơ ihànli
cư sở dể hình thành nên truycn ihống của chính dân lộc đó.
Truyền tlìôiií> vốn là một từ Hán - Việt và hiện nay dang dược sử dụi)”
phổ biến trong tiếng Việt. Đã có nhiổu định nghĩa khác nhau về khái niệm
này, tuv nhiên, nói đến truyền thống người ta nghĩ ngay đến nhữnu thói quen
dược lặp lại nhiều lần và truyền qua nliiểu 1 hê' hệ.
Trong ngôn ngũ' nhiều nước phương Tây, lừ trnxêiì tlìô)ì\> lức Iradiiion
bát nguồn từ chữ tnuìitio trong tiếng La - linh có nghĩa là “giao, chuyên giao".
Bách khoa thư Pháp định nghĩa: ‘Truyền thống theo nghĩa lổng quát là Uìl cá
sử những diều kiện vật chát của mình và liên những quan hệ xã hội lương ÚIHI.
Một cá nhân, qua truyền thống hoặc qua giáo dục mà liếp 111 LI đưực những tình
cam và quan điểm ấy ” 139, li . 179 - 180].
Do tồn tại xã hội luôn vận động, bic'n đổi ncn những truyền llìống được
hình thành Irên dó cũng không lliể nhất thành, bàl biên. Tuy nhiên, lie'll Irụvcn
thông luôn luôn biến đổi thì nó kliõne còn dược gọi là Imyền thống nữa mà
trong quá trình vận động, truyền thống v;ìn giữ lại nlnìim yêu lô nhân lõi bên
trong của I1Ó.
Phải thừa nhận rằng, truyền lliống là mộl Irong những yếu ló' vững bón
nhất, khỏ thay dổi nhất trong ý lluic xã hội cho du lổn Uii xã hội tin llinv (loi.
Chính vì lính ổn dịiih và bao lliii của truvén Ihống mà (rong mỏi iliời đióni