ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
_________________________________
NGUYễN THị HƯƠNG
NHữNG NHÂN Tố TáC ĐộNG ĐếN Sự BIếN ĐổI
CủA GIA ĐìNH VIệT NAM HIệN NAY LUậN VĂN THạC Sĩ TRIếT HọC
LUậN VĂN THạC Sĩ TRIếT HọC
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. D-ơng Văn Duyên Hà Nội, 2014
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
NỘI DUNG 7
Chƣơng 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH VÀ BIẾN ĐỔI GIA ĐÌNH 7
1.1. Gia đình và chức năng của gia đình 7
1.1.1 Khái niệm gia đình 7
1.1.2. Chức năng của gia đình 13
1.2. Biến đổi gia đình và những nhân tố tác động đến sự biến đổi của
gia đình 19
1.2.1. Khái niệm biến đổi gia đình 19
1.2.2. Những nhân tố tác động đến sự biến đổi của gia đình Việt Nam 23
Kết luận chương 1 47
Chƣơng 2. BIẾN ĐỔI GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY DƢỚI SỰ
TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ. THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP 49
2.1. Thực trạng một số biến đổi của gia đình ở nước ta hiện nay 49
2.1.1. Những mặt tích cực của sự biến đổi gia đình ở nước ta hiện nay 49
2.1.2. Những mặt tiêu cực của sự biến đổi gia đình ở nước ta hiện nay 64
thầy giáo TS. Dương Văn Duyên, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ
bảo và luôn động viên em trong quá trình làm luận văn để em hoàn thành luận
văn thạc sĩ này.
Trong quá trình làm luận văn, chắc chắn sẽ còn những hạn chế và
thiếu sót không thể tránh khỏi, em rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của các thầy cô và các bạn để luận văn của em được bổ sung và hoàn
thiện hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn !
Bắc Giang, ngày 08 tháng 08 năm 2014
Học viên Nguyễn Thị Hƣơng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của
riêng tôi, các số liệu trích dẫn trong luận văn là chính xác và
trung thực.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN Nguyễn Thị Hƣơng
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
con cháu đối xử tệ bạc với ông bà, cha mẹ, anh chị em đưa nhau ra tòa, người
già cô đơn không nơi nương tựa, trẻ em không được chăm sóc giáo dục chu
đáo, phó mặc cho nhà trường, xã hội…
Trước hiện tượng này, những người quan tâm đến gia đình đã tỏ ra lo
lắng, băn khoăn và còn gọi là “sự khủng hoảng gia đình”. Những nhà nghiên
cứu đã đặt ra câu hỏi vậy đâu là những nguyên nhân gây ra sự biến đổi đó?
Liệu đây có phải là quy luật khách quan, tất yếu của cơ chế thị trường hay
không? Song một thực tế chúng ta phải thừa nhận rằng hậu quả của hiện
tượng này – tức sự xuống cấp của thiết chế gia đình, đến một lúc nào đó nếu
không được điều chỉnh sẽ quay lại phá vỡ chính thiết chế xã hội cũng như sự
tăng trưởng kinh tế bước đầu của đất nước ta hiện nay. Vậy những yếu tố gì
đã và đang tác động đến sự biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay? Khi trả
lời được câu hỏi này chúng ta sẽ có nhận thức một cách toàn diện và đưa ra
những chính sách hợp lý để gia đình xứng đáng là trường học đầu tiên của thế
hệ trẻ, để nhân cách và văn hóa của thế hệ trẻ sớm được nảy nở và phát huy.
Vì vậy việc làm rõ “những nhân tố tác động đến sự biến đổi của gia đình Việt
Nam hiện nay” vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn nên tôi đã chọn đề tài này
làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về gia đình
dưới nhiều góc độ và quy mô khác nhau. Liên quan đến đề tài của luận văn có
thể phân chia các công trình này thành các nhóm cơ bản như sau:
Nhóm vấn đề quan hệ giới và sự bất bình đẳng, bạo lực gia đình, có
một số công trình như: “Một số vấn đề về bạo lực gia đình hiện nay” của Lê
Thị Quý, Tạp chí khoa học về phụ nữ, số 4 - 1991; “Bất bình đẳng nam nữ
nhìn từ góc độ lịch sử” của Lê Thị Quý, Tạp chí khoa học về phụ nữ, số 32 –
1998; “Bạo lực gia đình - bất bình đẳng trong quan hệ giới” của Lê Thị Quý,
Tạp chí khoa học về phụ nữ, số 42 – 2000; “Bạo lực gia đình - một sự sai lệch
3
Nhóm vấn đề chung về xây dựng và phát triển gia đình có một số công
trình: “Gia đình Việt Nam ngày nay”, Nxb Khoa học xã hội 1996; “Gia đình
Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” của giáo sư Lê Thi Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội, 2002; “Suy nghĩ về xây dựng chiến lược phát triển gia đình
hiện nay của Lê Thị Quý, Tạp chí cộng sản, số 30, 2003”; “ Cuộc sống và
biến đổi của hôn nhân gia đình Việt Nam hiện nay” của giáo sư Lê Thi, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007; “Gia đình học” của Đặng Cảnh Khanh – Lê
Thị Quý, Nxb Chính trị Hành chính, Hà Nội, 2009. Đặc biệt, với “Gia đình và
biến đổi gia đình ở Việt Nam” của tác giả Lê Ngọc Văn. Đây là công trình có
cái nhìn khá sâu sắc và toàn diện về biến đổi gia đình ở Việt Nam hiện nay.
Tác giả đã chỉ ra được một số nhân tố tác động đến sự biến đổi của gia đình
hiện nay, phân tích xu hướng biến đổi của gia đình. Tuy nhiên, tác giả chưa đi
phân tích một cách cụ thể sự biến đổi của gia đình và chưa đưa ra được các
biện pháp để xây dựng gia đình trong điều kiện bị các nhân tố tác động. Từ
công trình nghiên cứu và bài viết trên, các tác giả đã khái quát một cách có hệ
thống về sự biến đổi quy mô, cấu trúc, chức năng của gia đình trong công
cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên, các công
trình nêu trên chỉ đề cập tới sự tác động của từng yếu tố đơn lẻ đến gia đình
và đưa ra một số giải pháp còn chung chung để giải quyết những vấn đề đang
tồn tại trong các gia đình. Cho đến nay, còn rất thiếu những công trình nghiên
cứu cơ bản và có hệ thống về những yếu tố cơ bản tác động đến sự biến đổi
của gia đình Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích một số nhân tố cơ bản tác động đến sự biến đổi
của gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, luận văn đưa ra những giải pháp
nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của những
tác động đó.
5
6
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: luận văn làm rõ những yếu tố tác động đến gia đình Việt
Nam gây ra những biến đổi tích cực và tiêu cực của gia đình. Vì vậy, luận văn
có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm nghiên cứu về vấn
đề gia đình Việt Nam.
Về thực tiễn: luận văn có thể được vận dụng để phát huy những mặt tích
cực, hạn chế những mặt tiêu cực đến sự thay đổi của gia đình Việt Nam hiện
nay để xây dựng gia đình Việt Nam: ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo luận văn gồm có 2
chương,4 tiết. 7
NỘI DUNG
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIA ĐÌNH VÀ BIẾN ĐỔI GIA ĐÌNH
1.1. Gia đình và chức năng của gia đình
1.1.1 Khái niệm gia đình
Trong cuộc đời mỗi người, gia đình luôn luôn là điểm tựa, là cội nguồn,
là cái nôi của sự yên bình, là yếu tố vô cùng cần thiết cho mỗi người và xã
hội. Nghiên cứu di sản của C. Mác và Ph.Ăngghen, chúng ta thấy, trong suốt
tiến trình xây dựng quan điểm duy vật về lịch sử bao giờ các ông cũng dựa
trên những tiền đề hiện thực. Những tiền đề hiện thực này thường được các
ông sử dụng với tư cách những phạm trù xuất phát để nghiên cứu, mổ xẻ các
quá trình xã hội nhằm phát hiện ra các quy luật, các mâu thuẫn, các xu hướng
vận động và phát triển của nó. Những tiền đề hiện thực này được biểu hiện
một cách cụ thể qua các phạm trù, như phạm trù hàng hóa, phạm trù con
của con người. Quan hệ thứ hai là quan hệ giữa con người với con người
trong quá trình sản xuất, phản ánh các quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất,
các quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, các quan hệ trong phân phối
sản phẩm lao động. Quan hệ thứ ba là quan hệ gia đình. Cũng theo C. Mác và
Ph.Ăngghen, ba quan hệ này tồn tại đan xen với nhau, hòa vào nhau, cùng tồn
tại bên nhau. Nhờ những nghiên cứu của C. Mác và Ph.Ăngghen về các hình
thức gia đình, chúng ta mới có thể hiểu rõ hơn nội dung của lực lượng sản
xuất (quan hệ thứ nhất), nội dung của quan hệ sản xuất (quan hệ thứ hai) và
ngược lại. Khi nhấn mạnh vai trò của gia đình đối với sự phát triển của lực
lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, C. Mác và Ph.Ăngghen còn cho rằng thực
ra, gia đình là “quan hệ xã hội duy nhất” trong buổi đầu của lịch sử xã hội.
Nhờ quan hệ thứ ba này, với chức năng sinh con đẻ cái, quan hệ gia đình đã
sản sinh ra và duy trì các quan hệ xã hội khác. Theo ý nghĩa đó, gia đình là
một xã hội thu nhỏ, gia đình sản sinh ra các cá thể người, gắn kết các cá thể
người thành xã hội và khi xã hội loài người được hình thành thì những hoạt
9
động của nó thường xuyên tác động tới gia đình làm cho gia đình biến đổi về
cả hình thức, cấu trúc cũng như vai trò của nó đối với xã hội. Chính vì vậy, C.
Mác và Ph.Ăngghen luôn đòi hỏi nghiên cứu gia đình, nghiên cứu lịch sử loài
người phải gắn liền với lịch sử của công nghiệp và của sự trao đổi sản phẩm.
Khi luận chứng về những tiền đề, điều kiện cho sự tồn tại của con
người, C. Mác đã viết: “Hằng ngày khi tái tạo ra đời sống bản thân mình, con
người bắt đầu tái tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó là quan hệ
giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” [ 27, tr.41]. Với quan
điểm này gia đình được nhìn nhận với một số nội dung chính sau:
Thứ nhất, gia đình ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của xã
hội loài người; con người cùng với quá trình tái tạo ra chính bản thân mình thì
đồng thời cũng tạo ra gia đình.
Thứ hai, chức năng chính của gia đình là tái tạo, sinh sôi nảy nở ra con
biệt có giá trị Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
(1884), Ph.Ăngghen đã chỉ ra vị trí quy định của gia đình đối với các thiết chế
xã hội. Ông chỉ ra rằng: “Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong
lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Nhưng
bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại. Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh
hoạt: thực phẩm, quần áo và nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra
những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi
giống. Những thiết chế xã hội, trong đó những con người của một thời đại lịch
sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất
quyết định: Một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do
trình độ phát triển của gia đình” [29, tr 414]. Theo Ph.Ăngghen, quá trình sản
xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp là nhân tố quyết định tiến trình phát
triển của lịch sử, cùng với trình độ phát triển của lao động, trình độ phát triển
của gia đình quyết định trình độ phát triển của xã hội, đồng thời đến lượt
mình trình độ phát triển của gia đình cũng tùy thuộc vào trình độ phát triển
của sản xuất, của lao động và của xã hội.
11
Thực tế đã chứng minh rằng, những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin về hôn nhân và gia đình đã và đang được thực tiễn chứng minh
là hoàn toàn có cơ sở khoa học, có giá trị thực tiễn cao, nhất là những biến
đổi của gia đình phụ thuộc và gắn liền với sự biến đổi của các điều kiện kinh
tế - xã hội, nhưng có tác động quan trọng đối với những biến đổi kinh tế - xã
hội ấy.
Trên thế giới, hiện tồn tại rất nhiều hình thức gia đình với cấu trúc và
chức năng khác nhau, do đó khó có thể đưa ra một định nghĩa chung và khoa
học về gia đình. Ở Việt Nam, từ xưa đến nay, gia đình, đặc biệt là gia đình
truyền thống không chỉ là cộng đồng mà còn là cộng cảm, tính xã hội đặc biệt
của gia đình là ở đó. Căn cứ vào thực tiễn của hôn nhân và gia đình ở nước ta,
GS Lê Thi đã đưa ra quan niệm về gia đình: “Khái niệm gia đình được sử
gia đình: gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng chung sống
và có ngân sách chung.
Trong thời đại ngày nay, trước yêu cầu của phát triển, đổi mới và hội
nhập quốc tế là vấn đề mang ý nghĩa sống còn đối với mọi dân tộc, mọi quốc
gia dân tộc trong đó có Việt Nam. Trong quá trình này, không thể không xét
đến mối quan hệ của nó đối với vấn đề gia đình và do vậy, không thể không
vận dụng lý luận về gia đình trong kho tàng lý luận của các nhà sáng lập chủ
nghĩa Mác. Nghiên cứu quan hệ gia đình trong sự phát triển kinh tế - xã hội,
nhất là mối quan hệ giữa gia đình và sự phát triển của lực lượng sản xuất
trong di sản lý luận của C.Mác và Ph.Ăngghen không những giúp cho chúng
ta thấy được tác động của quá trình cải tạo và phát triển kinh tế - xã hội, thấy
được những khuynh hướng biến đổi tất yếu của gia đình, mà còn giúp chúng
ta nhận thức được vai trò của gia đình đối với sự nghiệp đổi mới và mở rộng
quốc tế của nước ta hiện nay. Đó là vai trò của gia đình trong việc trang bị tri
thức mới cho thế hệ lao động tương lai, trang bị những hiểu biết căn bản về
những giá trị và văn hóa đạo đức; nâng cao nhận thức về sự cần thiết phải bảo
vệ những ngành, nghề truyền thống trước những tác động tiêu cực do mặt trái
kinh tế thị trường gây ra.
13
Chúng ta đang đứng trước cơ hội lớn để phát triển trong bối cảnh toàn
cầu hóa, đồng thời cũng có những thách thức nghiệt ngã cần phải vượt qua,
trong đó có thách thức về xây dựng gia đình Việt Nam, gìn giữ và phát huy
những giá trị tốt đẹp của gia đình truyền thống, đáp ứng những đòi hỏi ngày
càng cao của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế,
Không thể phủ nhận được vai trò to lớn và rất quan trọng của gia đình
trong đời sống xã hội. Các tế bào cấu thành xã hội ấy vẫn còn và sẽ còn là nhân
tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững của xã hội Việt Nam. Từ quan
niệm của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác về gia đình trong mối quan hệ với sự
là sự truyền nòi giống”. [29, tr44]. Chức năng này một mặt đáp ứng nhu cầu
tình cảm riêng tự nhiên của con người, mặt khác tạo ra những công dân mới,
đem lại sự trường tồn trong xã hội. Cũng vì đặc trưng này nên dù việc sinh đẻ
diễn ra trong từng gia đình nhưng nó lại quyết định đến mật độ dân cư, liên
quan mật thiết đến sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội.
Tái sản xuất ra chính bản thân con người là một chức năng cơ bản và
riêng có của gia đình.Chức năng này đảm bảo sự phát triển liên tục và trường
tồn của xã hội loài người. Tái sản xuất sức lao động là yếu tố quan trọng góp
phần vào sự tồn tại và phát triển của xã hội. Nói tới tái sản xuất sức lao động,
trước hết phải nói tới tái sản xuất ra bản thân con người, nghĩa là phải sinh
con để nối dõi và duy trì nòi giống và làm cho dân số ổn định ở mức cần thiết.
Chức năng này bao gồm các nội dung cơ bản: tái sản xuất, duy trì nòi giống,
nuôi dưỡng nâng cao thể lực, trí lực bảo đảm tái sản xuất nguồn lao động và
sức lao động cho xã hội.
Sinh đẻ tái sản xuất ra con người là chức năng quan trọng của mỗi gia
đình. Các gia đình được xây dựng trên cơ sở hôn nhân tự nguyện, được pháp
luật công nhận và bảo hộ. Những đứa con sinh ra cũng được pháp luật công
nhận và bảo hộ. Trong xã hội phong kiến, do quan niệm có con đông là gia
đình có phúc nên dẫn đến việc sinh đẻ không có kế hoạch. Ngày nay, chức
năng sinh đẻ được kế hoạch hóa. Mỗi gia đình chỉ có từ 1 đến 2 con. Như vậy,
15
sẽ đảm bảo tái sản xuất con người hợp lý, đảm bảo chất lượng cuộc sống.
Chính vì vậy, trang bị cho thế hệ trẻ có những kiến thức khoa học và kế hoạch
hóa gia đình chính là nội dung trong toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế - xã
hội của xã hội chủ nghĩa.
Trong xã hội Việt Nam của chúng ta ngày nay gia đình có một sứ mệnh
lớn lao là sản sinh ra những con người Việt Nam sau này khỏe về thể lực,
mạnh về trí tuệ và đẹp về nhân cách, vóc dáng. Cho nên, chức năng sinh đẻ
không chỉ đơn giản là “sinh sản” mà còn phải “dưỡng” để tạo ra những con
hiện tốt chức năng kinh tế sẽ tạo ra tiền đề và cơ sở vật chất vững chắc cho tổ
chức đời sống của gia đình.
Thứ ba: Chức năng giáo dục con cái (chức năng xã hội hóa).
Nội dung của giáo dục gia đình tương đối toàn diện, cả giáo dục tri
thức và kinh nghiệm, giáo dục đạo đức và lối sống, giáo dục nhân cách, thẩm
mỹ, ý thức cộng đồng. Phương pháp giáo dục của gia đình cũng rất đa dạng,
song chủ yếu là phương pháp nêu gương, thuyết phục, chịu ảnh hưởng
không ít của tư tưởng, lối sống, tâm lý, gia phong của gia đình truyền
thống. Dù giáo dục xã hội đóng vai trò ngày càng quan trọng, có ý nghĩa
quyết định, nhưng có những nội dung và phương pháp giáo dục gia đình
mang lại hiệu quả lớn không thể thay thế. Giáo dục gia đình còn bao hàm cả
tự giáo dục. Do đó, chủ thể giáo dục gia đình cơ bản và chủ yếu là thế hệ cha
mẹ, ông bà đối với con cháu.
Gia đình là bối cảnh xã hội quan trọng nhất trong đó diễn ra xã hội hóa.
Trong những năm đầu tiên của cuộc đời mỗi trẻ nhỏ, gia đình là thế giới xã hội.
Chỉ khi trẻ đến trường, thì khi ấy trẻ mới có nhiều thời gian sống xa gia đình.
Vì thế, gia đình là tập thể cơ bản ban đầu đối với hầu hết mọi người. Kinh
nghiệm xã hội ngày càng tăng, diễn ra bên trong gia đình hình thành nền tảng
nhân cách của trẻ. Gia đình là nơi truyền lại những giá trị văn hóa dân tộc, gia
đình từ thế hệ đi trước cho thế hệ sau, thông qua sự dạy dỗ của cha mẹ đối với
con cái. Cha mẹ dạy cho con cái những giá trị tốt đẹp, những chuẩn mực đạo
đức của xã hội để nhân cách của thế hệ trẻ phát triển hoàn thiện.
17
Phần lớn thái độ của con người khi trưởng thành đối với xã hội phụ
thuộc nhiều vào kinh nghiệm từ tẹ hời thơ ấu sống trong gia đình. Phần lớn
những gì được cho là bẩm sinh đều là sản phẩm của văn hóa, kết hợp với nhân
cách thông qua quá trình xã hội hóa. Xã hội hóa vai trò giới tính luôn là một
trong những chức năng quan trọng nhất của gia đình.
Gia đình rất quan trọng trong quá trình xã hội hóa không phải đơn
và cảm thấy đều in sâu vào tâm hồn trẻ, những điều đó là “tài sản” được trẻ
lưu giữ; theo năm tháng trẻ sẽ vận dụng những kinh nghiệm tích lũy được vào
cuộc sống. Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên biến đứa trẻ thành một
thực thể xã hội có khả năng thích ứng, sống, học tập, vui chơi, giao tiếp trong
xã hội mới, theo nhu cầu xã hội. Như vậy, sự thành công và thất bại của một
con người đều phần lớn chịu sự tác động của quá trình xã hội hóa cá nhân
trong đời sống gia đình.
Thứ tƣ: Chức năng thỏa mãn nhu cầu tâm sinh lý.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Viện, chức năng tình cảm lứa đôi
giữa vợ và chồng, đấy là chức năng cơ bản của gia đình phải thực hiện và là
những yếu tố tạo ra sự bền vững của gia đình trong quá trình phát sinh, phát
triển của xã hội loài người. Việc chung sống dưới một mái nhà và có cùng
huyết thống chưa đủ kết dính, gắn bó các thành viên. Chất kết dính ở đây là
tình yêu thương lẫn nhau giữa những người đang sống và cả với những người
đã khuất.
Chức năng tình dục lứa đôi giữa vợ và chồng: không có quan hệ liên
kết này gia đình sẽ dẫn đến ly tán và tan vỡ. Một số công trình nghiên cứu
khoa học cho thấy nhiều gia đình bất hạnh vì không có sự hòa hợp tình dục.
Ngày nay tại các nước văn minh tiên tiến, vấn đề tình dục được coi là văn
hóa, đạo đức, cần phải dạy cho thế hệ trẻ. Như vậy, sẽ mang lại hạnh phúc và
quyền bình đẳng thực sự cho con người. Tuy nhiên, điều cần thiết của mỗi tổ
ấm đó là sự ra đời của đứa con, những mối quan hệ trong gia đình sẽ xoay
quanh đứa con và càng gắn bó, yêu thương lẫn nhau, thỏa mãn nhu cầu tinh
thần cho các thành viên trong gia đình. Bầu không khí đầm ấm tránh những
19
xung đột, mọi vấn đề được giải quyết kịp thời, tế nhị sẽ mang lại niềm vui,
hạnh phúc cho mọi thành viên trong gia đình, đặc biệt đối với trẻ nhỏ và
người cao tuổi. Việc chăm sóc và nuôi dưỡng người già, người thân mất sức
lao động không chỉ là bổn phận và trách nhiệm của các thành viên trong gia