ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
_________________________________
NGUYễN THị HƯƠNG
NHữNG NHÂN Tố TáC ĐộNG ĐếN Sự BIếN ĐổI
CủA GIA ĐìNH VIệT NAM HIệN NAY
LUậN VĂN THạC Sĩ TRIếT HọC
Hà Nội, 2014
ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
_________________________________
NGUYễN THị HƯƠNG
NHữNG NHÂN Tố TáC ĐộNG ĐếN Sự BIếN ĐổI
CủA GIA ĐìNH VIệT NAM HIệN NAY
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội khoa học
Mã số: 66 22 85
LUậN VĂN THạC Sĩ TRIếT HọC
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS. D-ơng Văn Duyên
Hà Nội, 2014
Nam và tiếp thu những giá trị nhân văn của gia đình hiện đại trong
xây dựng gia đình...................................................................................... 78
2.2.4. Đổi mới nội dung, phương pháp và tăng cường vai trò giáo
dục của gia đình ........................................................................................ 80
2.2.5. Tăng cường các hoạt động tuyên truyền, giáo dục về giá trị
đạo đức truyền thống ................................................................................ 85
2.2.6. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận về gia đình, điều tra,
khảo sát toàn diện về gia đình ................................................................... 86
Kết luận chương 2 ........................................................................................ 87
KẾT LUẬN ..............................................................................................................89
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................91
LỜI CẢM ƠN
Luận văn hoàn thành là kết quả của cả một quá trình học tập và nghiên
cứu của em tại khoa Triết học, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa cùng toàn thể các bạn
học viên trong tập thể lớp. Đặc biệt, em xin được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới
thầy giáo TS. Dương Văn Duyên, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ
bảo và luôn động viên em trong quá trình làm luận văn để em hoàn thành luận
văn thạc sĩ này.
Trong quá trình làm luận văn, chắc chắn sẽ còn những hạn chế và
thiếu sót không thể tránh khỏi, em rất mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của các thầy cô và các bạn để luận văn của em được bổ sung và hoàn
thiện hơn.
Em xin trân trọng cảm ơn !
Bắc Giang, ngày 08 tháng 08 năm 2014
Học viên
về nó. Là một yếu tố cấu thành của xã hội, gia đình phản ánh một cách chân
thực, rõ nét những mối quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp. Nhận thức được
tầm quan trọng của gia đình, cho nên Liên hợp quốc đã lấy năm 1994 làm
năm quốc tế gia đình với khẩu hiệu: xây dựng nền dân chủ nhỏ nhất ở ngay cơ
sở của xã hội…khẩu hiệu này có nghĩa là xây dựng gia đình thành một nơi mà
ở đó, các nhu cầu được đáp ứng, những khác nhau được chấp nhận, quyền
chính đáng của con người được tôn trọng, mọi cá nhân đều được tạo điều kiện
để đóng góp có ý nghĩa cho một cuộc sống tốt đẹp hơn của gia đình mình, cho
tương lai, cho cộng đồng và cho xã hội.
Trong quá trình đổi mới và hội nhập của đất nước, chúng ta đã thu
được nhiều thành tựu to lớn trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội…Tuy
nhiên, với sự tăng trưởng và phát triển của đất nước chúng ta phải chứng kiến
những thay đổi của gia đình dưới nhiều góc độ khác nhau. Gia đình Việt Nam
1
đang phải chứng kiến một sự thật đau lòng là tỷ lệ ly hôn ngày một gia tăng,
con cháu đối xử tệ bạc với ông bà, cha mẹ, anh chị em đưa nhau ra tòa, người
già cô đơn không nơi nương tựa, trẻ em không được chăm sóc giáo dục chu
đáo, phó mặc cho nhà trường, xã hội…
Trước hiện tượng này, những người quan tâm đến gia đình đã tỏ ra lo
lắng, băn khoăn và còn gọi là “sự khủng hoảng gia đình”. Những nhà nghiên
cứu đã đặt ra câu hỏi vậy đâu là những nguyên nhân gây ra sự biến đổi đó?
Liệu đây có phải là quy luật khách quan, tất yếu của cơ chế thị trường hay
không? Song một thực tế chúng ta phải thừa nhận rằng hậu quả của hiện
tượng này – tức sự xuống cấp của thiết chế gia đình, đến một lúc nào đó nếu
không được điều chỉnh sẽ quay lại phá vỡ chính thiết chế xã hội cũng như sự
tăng trưởng kinh tế bước đầu của đất nước ta hiện nay. Vậy những yếu tố gì
đã và đang tác động đến sự biến đổi của gia đình Việt Nam hiện nay? Khi trả
lời được câu hỏi này chúng ta sẽ có nhận thức một cách toàn diện và đưa ra
trong những giải pháp quan trọng của việc hạn chế những tác động tiêu cực
của các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến đổi của gia đình hiện nay.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu có rất nhiều bài viết trên các tạp
chí khoa học như: Ngô Ngọc Anh – Hoàng Thị Tây Ninh với bài viết: “giáo
dục gia đình với hành vi sai lệch ở trẻ vị thành niên”, Tạp chí gia đình và trẻ
em số 4 năm 2005; Lê Thị Quý với bài viết “ Gia đình Việt Nam – nghiên cứu
và đề xuất”, Tạp chí Gia đình và trẻ em; Lương Thị Cảnh trong tạp chí Gia
đình và trẻ em có bài viết “Gia đình Việt Nam trước thách thức toàn cầu hóa”
(số 8/2005); Nguyễn Linh Khiếu với bài viết “Gia đình và một số vấn đề đặt
ra ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học số 3, tháng 6 năm 1999, Lê Thảo
với bài viết “ Gia đình Việt Nam trong điều kiện phát triển kinh tế thị
trường”, Tạp chí Cộng sản số 792, tháng 2 năm 2009. Trong các bài viết trên,
các tác giả đã đưa ra vai trò giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ, những
thuận lợi và khó khăn đối với các gia đình trong quá trình toàn cầu hóa, đồng
thời các tác giả đã đề xuất một số giải pháp để gia đình Việt Nam phát triển
trong thời kỳ mới.
3
Nhóm vấn đề chung về xây dựng và phát triển gia đình có một số công
trình: “Gia đình Việt Nam ngày nay”, Nxb Khoa học xã hội 1996; “Gia đình
Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới” của giáo sư Lê Thi Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội, 2002; “Suy nghĩ về xây dựng chiến lược phát triển gia đình
hiện nay của Lê Thị Quý, Tạp chí cộng sản, số 30, 2003”; “ Cuộc sống và
biến đổi của hôn nhân gia đình Việt Nam hiện nay” của giáo sư Lê Thi, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2007; “Gia đình học” của Đặng Cảnh Khanh – Lê
Thị Quý, Nxb Chính trị Hành chính, Hà Nội, 2009. Đặc biệt, với “Gia đình và
biến đổi gia đình ở Việt Nam” của tác giả Lê Ngọc Văn. Đây là công trình có
cái nhìn khá sâu sắc và toàn diện về biến đổi gia đình ở Việt Nam hiện nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn.
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước về gia đình.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận
văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu như phân tích và tổng hợp,
lôgic và lịch sử, so sánh, chứng minh…trên tinh thần kết hợp giữa lý luận và
thực tiễn.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những nhân tố tác động đến sự biến đổi
của gia đình Việt Nam hiện nay.
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung vào nghiên cứu những nhân tố chính tác động đến
sự biến đổi của gia đình Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đến nay.
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn đã làm rõ những yếu tố tác động đến sự biến đổi của gia đình
từ đó đề xuất ra những phương hướng nhằm phát huy những mặt tích cực và
hạn chế những mặt tiêu cực đến sự biến đổi của gia đình.
5
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: luận văn làm rõ những yếu tố tác động đến gia đình Việt
Nam gây ra những biến đổi tích cực và tiêu cực của gia đình. Vì vậy, luận văn
có thể trở thành tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm nghiên cứu về vấn
đề gia đình Việt Nam.
Về thực tiễn: luận văn có thể được vận dụng để phát huy những mặt tích
hoặc làm biến đổi hình thức và kết cấu của gia đình.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề gia đình như vậy, nên trong
các tác phẩm của mình, C. Mác và Ph.Ăngghen đã không ít lần đề cập tới vấn
đề gia đình. C. Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét gia đình với tư cách một xã
hội thu nhỏ, các hình thức lịch sử của gia đình, nhất là gia đình với sự xuất
hiện của sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất; nghiên cứu mối quan hệ giữa gia
đình và nhà nước, sự khác biệt giữa gia đình dưới chế độ tư bản chủ nghĩa và
7
gia đình dưới chế độ xã hội chủ nghĩa trong tương lai. Không những thế, C.
Mác và Ph.Ăngghen còn nghiên cứu gia đình trong quan hệ tính giao - vấn đề
trong hôn nhân, và gia đình với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất
trong lịch sử phát triển xã hội.
Có thể nói, vấn đề gia đình trong di sản lý luận của C. Mác và
Ph.Ăngghen không chỉ dừng lại ở khái niệm “gia đình” thuần túy, mà còn
khám phá nguồn gốc gia đình, ảnh hưởng của những biến đổi xã hội tới gia
đình, tác động của gia đình tới xã hội và đặc biệt là ảnh hưởng của sự biến đổi
kinh tế, của tiến trình công nghiệp hóa.
Trong Hệ tư tưởng Đức, khi nói về tiến trình phát triển của lịch sử nhân
loại, C. Mác và Ph.Ăngghen đã xem xét ba mối quan hệ con người đã được
hình thành trong lịch sử nhân loại. Quan hệ thứ nhất là quan hệ giữa con
người với tự nhiên, phản ảnh khát vọng chinh phục tự nhiên, nghiên cứu tự
nhiên để tồn tại và cũng để thỏa mãn những nhu cầu không ngừng nảy sinh
của con người. Quan hệ thứ hai là quan hệ giữa con người với con người
trong quá trình sản xuất, phản ánh các quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất,
các quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất, các quan hệ trong phân phối
sản phẩm lao động. Quan hệ thứ ba là quan hệ gia đình. Cũng theo C. Mác và
Ph.Ăngghen, ba quan hệ này tồn tại đan xen với nhau, hòa vào nhau, cùng tồn
tại bên nhau. Nhờ những nghiên cứu của C. Mác và Ph.Ăngghen về các hình
nghiệp tư bản chủ nghĩa với lực lượng sản xuất mới đã dần xóa bỏ toàn bộ hệ
thống công trường thủ công, đã thay đổi sự phân bố dân cư và kết cấu ngành
nghề của xã hội và do vậy sự “yên ấm” của từng gia đình cũng bị phá vỡ theo
dòng xoáy của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Không chỉ thế, nó còn làm thay
đổi vị trí và điều kiện sinh sống của gia đình, thay đổi nhu cầu thưởng thức
những giá trị vật chất và tinh thần của mọi thành viên trong gia đình. Nếu
trước đây, nhu cầu tiêu dùng được thỏa mãn bằng những sản phẩm trong
nước, thì nay đã nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thỏa mãn bằng
những sản phẩm từ những miền và xứ xa xôi nhất về và một khi “sản xuất vật
chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế”, nó làm cho
những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản
9
chung của tất cả các dân tộc. Nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa còn tạo ra
một chế độ xã hội và chính trị thích ứng với quan hệ sản xuất mới, với cơ sở
hạ tầng mới. Nó xóa bỏ mọi phẩm chất và đức hạnh do chế độ phong kiến tạo
dựng; nó “tước hết hào quang thần thánh của tất cả những hoạt động xưa nay
vẫn được trọng vọng và tôn sùng” [28,tr 600]; nó biến đổi cả quan hệ gia
đình vốn được xem là thiêng liêng nhất, “xé toang tấm màn tình cảm bao phủ
những quan hệ gia đình và làm cho những quan hệ ấy chỉ còn là những quan
hệ tiền nong đơn thuần” [28, tr 600].
Trong Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, C. Mác và Ph.Ăngghen cũng đã
khẳng định, với sự hình thành và phát triển của nền đại công nghiệp thì không
chỉ các quan hệ xã hội, mà cả quan hệ gia đình cũng đã bị thay đổi.
Tiếp tục nghiên cứu về gia đình, trong một tác phẩm chuyên khảo đặc
biệt có giá trị Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
(1884), Ph.Ăngghen đã chỉ ra vị trí quy định của gia đình đối với các thiết chế
xã hội. Ông chỉ ra rằng: “Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong
lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Nhưng
hàng nội ngoại) cùng chung sống. Đồng thời gia đình có thể bao gồm một số
người được gia đình nuôi dưỡng, tuy không có quan hệ máu mủ. Các thành
viên gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm, quyền lợi (kinh tế, văn hóa,
tình cảm), giữa họ có những điều kiện ràng buộc có tính pháp lý, được nhà
nước thừa nhận và bảo vệ (được ghi rõ trong Luật hôn nhân và gia đình nước
ta). Đồng thời trong gia đình có những quy định rõ ràng về quyền được phép
và cấm đoán trong quan hệ tình dục giữa các thành viên” [46, tr 7].
Hiện nay có rất nhiều khái niệm về gia đình, mỗi khái niệm đều
nhằm mục đích khái quát lên những yếu tố cơ bản, đặc thù. Sau đây là một
số khái niệm:
a. Gia đình là tập hợp những người cùng chung sống thành một đơn vị
nhỏ nhất trong xã hôi, họ gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng
máu, thường gồm vợ chồng, cha mẹ và con cái.
b. Gia đình là nhóm người chung sống với nhau dưới một mái nhà có
quan hệ hôn nhân, huyết thống và nền kinh tế chung.
11
c. Theo Levi strauss thì gia đình là một nhóm xã hội được quy định bởi
ba đặc điểm nổi bật là: bắt nguồn từ hôn nhân bao gồm vợ chồng, con cái phát
sinh từ sự hôn phối của đôi nam nữ, tuy nhiên trong gia đình có mặt của
những người họ hàng, bà con hoặc con nuôi, họ gắn bó với nhau bởi các
nghĩa vụ và quyền lợi có tính chất kinh tế và về sự cấm đoán tình dục giữa các
thành viên.
Hướng tới xây dựng gia đình bền vững, tổ chức UNESCO của Liên hợp
quốc đã quyết định lấy năm 1994 là năm Quốc tế gia đình và thống nhất
khẳng định: Gia đình là một yếu tố tự nhiên và cơ bản, một đơn vị kinh tế của
xã hội. Gia đình được coi như một giá trị vô cùng quý báu của nhân loại cần
được giữ gìn và phát huy. Trên tinh thần đó UNESCO đã đưa ra định nghĩa về
gia đình: gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng chung sống
phát triển kinh tế - xã hội, có thể khẳng định chủ trương đó của Đảng ta là định
hướng chiến lược đối với việc xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay.
1.1.2. Chức năng của gia đình
Gia đình được xem như là một xã hội thu nhỏ, là tổ chức tế bào của xã
hội, là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Xã hội Việt Nam với nền văn
minh lúa nước từ lâu đã sống định cư và lấy gia đình làm đơn vị gốc. Trải qua
bao biến thiên của lịch sử cho đến ngày nay, trên con đường đổi mới và tiếp
cận với văn hóa Phương Tây, gia đình Việt Nam vẫn giữ được được giá trị
của mình. Gia đình được sinh ra tồn tại và phát triển chính vì nó có sứ mệnh
đảm đương những chức năng đặc biệt mà xã hội và tự nhiên giao cho, không
một thiết chế xã hội nào khác có thể thay thế được. Các chức năng đó tồn tại
trong mối liên hệ thống nhất, tác động lẫn nhau để tạo nên con người và xã
hội hóa con người. Dù ở thời kỳ nào, gia đình bao giờ cũng có bốn chức năng
cơ bản: chức năng duy trì nòi giống; chức năng kinh tế; chức năng nuôi
dưỡng, giáo dục; chức năng tình cảm.
Thứ nhất: Chức năng duy trì nòi giống.
Chức năng sinh đẻ (tái sản xuất ra con người) là chức năng đặc thù của
gia đình như theo V. A Xukhômlinxki đã viết: Có hàng chục, hàng trăm
ngành nghề, công việc khác nhau: người xây dựng đường sắt, người kia làm
13
nhà ở, người làm bánh mỳ, người thì chữa bệnh…Nhưng có một công việc
phổ biến nhất, phức tạp nhất và cao quý nhất như nhau đối với mọi gia đình,
đồng thời lại có tính đặc thù và không lặp lại trong mỗi gia đình - sự sáng tạo
ra con người là nỗ lực cao nhất của tất cả các sứ mạng tình thần của bạn. Đó
là sự khôn ngoan, là tài nghệ, nghệ thuật trong cuộc sống của bạn.
Mặt khác theo quan điểm duy vật: “ nhân tố quyết định trong lịch sử,
quy đến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp…Một mặt là sản
xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần
mạnh về trí tuệ và đẹp về nhân cách, vóc dáng. Cho nên, chức năng sinh đẻ
không chỉ đơn giản là “sinh sản” mà còn phải “dưỡng” để tạo ra những con
người Việt Nam mới về chất tạo nguồn lực tốt nhất cho đất nước. Đây cũng
chính là vấn đề mà Năm Quốc Tế về gia đình Việt Nam nhấn mạnh.
Thứ hai: Chức năng kinh tế.
Kinh tế gia đình đóng vai trò quyết định cho sự bền vững của gia đình.
Cùng với quá trình xã hội hóa lực lượng sản xuất ở từng lúc, từng nơi kinh tế
gia đình biến đổi với nhiều dạng phong phú và có vị trí khác nhau. Kinh tế gia
đình phát triển có ảnh hưởng đến các chức năng khác của gia đình, giúp con
người thỏa mãn nhu cầu của mình: ăn học, giải trí, nuôi dạy con, chăm sóc
cha mẹ…ngược lại kinh tế gia đình eo hẹp, không ổn định sẽ ảnh hưởng ngay
đến sự ổn định và hạnh phúc gia đình.
Trong xã hội nông nghiệp, gia đình là đơn vị sản xuất, một đơn vị kinh
tế độc lập. Mọi thành viên trong gia đình cùng ở trong một ngôi nhà, cùng
chung thu nhập vì vậy các thành viên có sự lệ thuộc vào nhau. Chức năng
kinh tế quyết định đến sự ổn định của gia đình. Trong xã hội công nghiệp hiện
nay, chức năng kinh tế của gia đình được chuyển hóa dưới dạng khác nhau.
Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhiều gia đình có điều kiện (có sở
hữu hoặc tham gia sở hữu tư liệu sản xuất) đều có thể trở thành một đơn vị
kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh. Để có thể phát huy mọi tiềm năng
sáng tạo trong kinh tế, Đảng và Nhà nước đề ra và thực hiện các chính sách
sao cho mọi gia đình, mọi cá nhân có thể làm giàu chính đáng bằng hoạt động
sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ pháp luật. Cùng với sản xuất kinh
15
doanh, các gia đình và hộ gia đình công nhân viên chức, cán bộ hành chính sự
nghiệp, giáo viên, nhà khoa học, trí thức văn nghệ sỹ... cũng được khuyến
khích trong lao động sáng tạo, tăng thu nhập chính đáng từ lao động sáng tạo
của mình. Các loại gia đình này tuy không trực tiếp thực hiện chức năng sản
những gì được cho là bẩm sinh đều là sản phẩm của văn hóa, kết hợp với nhân
cách thông qua quá trình xã hội hóa. Xã hội hóa vai trò giới tính luôn là một
trong những chức năng quan trọng nhất của gia đình.
Gia đình rất quan trọng trong quá trình xã hội hóa không phải đơn
thuần là định dạng nhân cách mà còn hình thành ở trẻ một quan điểm xã hội.
Nói cách khác, bố mẹ không chỉ đưa trẻ vào thế giới hữu hình mà còn đặt trẻ
vào trong xã hội hiện hữu. Nhiều nghiên cứu khẳng định đặc điểm của giai
cấp, xã hội, tôn giáo, chủng tộc, dân tộc đều được gia đình trực tiếp ảnh
hưởng, tác động và hình thành cho trẻ, đều trở thành một phần trong khái
niệm cái tôi của trẻ. Rất lâu trước khi mỗi người trưởng thành đủ khôn lớn để
hiểu rõ bản chất mọi vấn đề, thì chúng ta đã nắm giữ một ví trí trong cấu trúc
xã hội do gia đình mình xác định. Quan điểm xã hội mà trẻ có được từ phía
gia đình hầu như có thể tác động đến sự hình thành các khuôn khổ trong sự
tồn tại của cá nhân trong suốt cuộc đời.
Thực chất của công tác giáo dục gia đình là xã hội hóa đứa trẻ. Xã hội
hóa đứa trẻ trong đời sống gia đình là quá trình xã hội hóa cá nhân, đó là một
quá trình hai chiều, cá nhân học hỏi để thực hiện vai trò xã hội và ngược lại;
xã hội tác động đến cá nhân làm cho cá nhân tự điều chỉnh nhận thức, cảm
xúc, hành vi để thích ứng với môi trường xã hội mà cá nhân đó đang sống. Xã
hội hóa là một tiến trình rất dài của đời người, dựa trên sự tương tác xã hội.
Qua đó cá nhân được cung cấp kinh nghiệm sống, kỹ năng sống, để biến đổi
từ con người sinh vật sang con người xã hội. Gia đình tham gia vào tất cả các
giai đoạn xã hội hóa trong chu trình sống của con người, ở giai đoạn nào vai
trò của gia đình cũng chiếm vị trí quan trọng…Sabran, nhà xã hội học người
Pháp đã có lý khi nhận xét rằng: xã hội như một con tàu, cá nhân phải bước
lên con tàu xã hội thì mới trở thành người xã hội, nếu không thì phải đứng
mãi ở bến tàu. Có thể nói, những mầm mống ban đầu của nhân cách, những
17
xung đột, mọi vấn đề được giải quyết kịp thời, tế nhị sẽ mang lại niềm vui,
hạnh phúc cho mọi thành viên trong gia đình, đặc biệt đối với trẻ nhỏ và
người cao tuổi. Việc chăm sóc và nuôi dưỡng người già, người thân mất sức
lao động không chỉ là bổn phận và trách nhiệm của các thành viên trong gia
đình mà còn là lòng hiếu thảo, sự biết ơn đối với ông bà, cha mẹ.
Trong xã hội hiện đại, độ bền vững của gia đình không chỉ phụ thuộc
vào sự ràng buộc các mối quan hệ về trách nhiệm, nghĩa vụ giữa các thành
viên. Nó ngày càng bị chi phối bởi các mối quan hệ tình cảm, tình yêu giữa
đôi vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, sự bảo đảm yêu cầu về tự do, dân chủ,
bình đẳng, sự quan tâm đến nhu cầu chính đáng của mỗi cá nhân trong cuộc
sống chung. Gia đình là nơi thể hiện tình cảm sâu sắc nhất, thực sự là tổ ấm
của mỗi cá nhân. Đời sống nội tâm có ý nghĩa ngày càng tăng khiến cho chức
năng tình cảm và chăm sóc giáo dục con cái trở nên hết sức quan trọng.
1.2. Biến đổi gia đình và những nhân tố tác động đến sự biến đổi
của gia đình
1.2.1. Khái niệm biến đổi gia đình
Để hiểu được biến đổi gia đình, trước tiên phải hiểu được biến đổi xã
hội vì gia đình không nằm ngoài xã hội. Biến đổi xã hội luôn là chủ đề trung
tâm của xã hội học. Từ giữa thế kỷ XIX, các nhà xã hội học đã bắt đầu
nghiên cứu về biến đổi xã hội xuất phát từ nhu cầu thực tiễn: đi tìm lời giải
thích cho hai làn sóng biến đổi lớn đang xảy ra sau cuộc cách mạng Pháp và
Mỹ. Đó là quá trình công nghiệp hóa và sự mở rộng nền dân chủ, mở rộng
quyền công dân.
Từ cơ sở lý thuyết chức năng luận, Emile Durkheim cho rằng các biến
đổi có thể được giải thích như là hiện tượng thường xuyên đi tìm kiếm trạng
thái trung lập. Herbert Spencer trong quan điểm tiến hóa luận nhìn nhận sự
biến đổi dựa trên sự tăng trưởng dân số và những khác biệt về cấu trúc. Một
xã hội có thể biến đổi một cách tích cực (thích ứng) hay tiêu cực (không thích