ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM HUY CƯỜNG
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP
CỦA SINH VIÊN NĂM CUỐI CÁC NGÀNH KHOA HỌC XÃ HỘI
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 603130 LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Kim Hoa Hà Nội - 2009
1
MỤC LỤC
Trang
Mục lục
1
Danh mục các bảng biểu, sơ đồ
3
PHẦN MỞ ĐẦU
22
1.4. Một số khái niệm công cụ
24
Chƣơng 2: Các yếu tố tác động đến định hƣớng nghề nghiệp
của sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội
27
2.1. Thực trạng định hướng nghề nghiệp của sinh viên năm cuối các
ngành khoa học xã hội
27
2.2. Các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên
năm cuối các ngành khoa học xã hội
33
2.2.1. Yếu tố “Gia đình”
35
2
2.2.2. Yếu tố “Môi trường học tập”
37
2.2.3. Yếu tố “Truyền thông đại chúng”
39
2.2.4. Yếu tố “Bạn bè”
42
2.2.5. Yếu tố “Môi trường nghề nghiệp, việc làm”
44
2.3. Phân tích các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp giữa
các nhóm sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội chia theo
ngành học, địa bàn cư trú, nghề nghiệp của cha mẹ và kết quả học
22
Bảng 2.1:
Thực trạng định hướng nghề nghiệp của sinh viên
27
Bảng 2.2:
Định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên
29
Bảng 2.3:
Mức độ phù hợp giữa ngành học và định hướng nghề
nghiệp của sinh viên
30
Biểu đồ 01:
Mức độ nắm bắt thông tin về ngành học khi sinh viên lựa
chọn ngành thi đại học
32
Biểu đồ 02:
Các “kênh” lựa chọn ngành học của sinh viên
33
Bảng 2.4:
Ảnh hưởng của gia đình đến định hướng nghề nghiệp của
sinh viên
35
Bảng 2.5:
Sự trao đổi về định hướng nghề nghiệp giữa sinh viên và gia
đình
36
Bảng 2.10:
Ảnh hưởng của các môi trường nghề nghiệp đến định
hướng nghề nghiệp của sinh viên
45
4
Biểu đồ 05:
Tỉ lệ sinh viên làm thêm
46
Bảng 2.11
Tương quan giữa nhóm sinh viên chia theo ngành học và
các kênh thông tin lựa chọn ngành học.
49
Bảng 2.12
Tương quan giữa yếu tố môi trường học tập và định
hướng nghề nghiệp của các nhóm sinh viên chia theo
ngành đào tạo 51
Bảng 2.13
Tương quan giữa địa bàn cư trú và mức độ thường xuyên
trao đổi với gia đình, người thân về định hướng nghề
nghiệp của sinh viên 52
Bảng 2.14
58 5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
“Nghề nghiệp” vốn là một yếu tố quan trọng trong đời sống xã hội. Đối
với mỗi cá nhân, nghề nghiệp phản ánh địa vị, vai trò, uy tín của cá nhân đó
trong cộng đồng. Đối với mỗi cộng đồng xã hội, cơ cấu và sự biến đổi cơ cấu
nghề nghiệp phản ánh mức độ phát triển của cộng đồng xã hội đó trong mỗi
giai đoạn lịch sử. Chính vì lẽ đó việc nghiên cứu tìm hiểu cũng như nắm bắt
các quy luận biến đổi của vấn đề nghề nghiệp luôn được quan tâm thường
xuyên.
Trong xã hội Việt Nam hiện nay, với đặc thù nền kinh tế - xã hội đang
trong giai đoạn phát triển và biến đổi không ngừng thì vấn đề “nghề nghiệp”
lại càng trở nên quan trọng. Đối với các nhà nghiên cứu khoa học thì đây là
một lĩnh vực nghiên cứu rộng lớn, nhiều vấn đề, nhiều chiều cạnh và có ý
nghĩa thực tiễn, phục vụ mục đích phát triển xã hội. Thực tế cho thấy có rất
nhiều nhà khoa học đã và đang quan tâm nghiên cứu vấn đề nghề nghiệp ở
các cấp độ lớn nhỏ khác nhau.
Thông thường khi nghiên cứu về vấn đề nghề nghiệp và định hướng nghề
nghiệp thì khách thể nghiên cứu chủ yếu là nhóm lao động trẻ tuổi, những
người còn đang trong giai đoạn tích lũy kỹ năng, kiến thức để từng bước ra
nhập hệ thống cơ cấu nghề nghiệp. Trong các nghiên cứu đó, hướng nghiên
cứu tìm hiểu, đánh giá những yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp
được đặt ra như một tất yếu khách quan và nó mang ý nghĩa khoa học cũng
như thực tiễn quan trọng.
Thực vậy, đứng ở góc độ lý thuyết xã hội hóa, định hướng nghề nghiệp
của mỗi cá nhân là sản phẩm của quá trình xã hội hóa (về mặt nghề nghiệp)
tâm thế sẵn sàng nhất cho một nghề nghiệp nào đó trong tương lai.
Là một học viên học tập, làm việc và nghiên cứu tại Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả có thuận lợi vì địa
7
bàn nghiên cứu vốn là đơn vị đào tạo về khoa học xã hội đa ngành, chuyên
sâu hàng đầu cả nước; hơn nữa việc trực tiếp làm việc tại đây cũng là thuận
lợi trong quá trình triển khai đề tài, đặc biệt trong quá trình thu thập số liệu
thực tế. Bên cạnh đó đề tài luận văn này cũng nhằm bày tỏ mong muốn có
một đóng góp nhỏ bé của bản thân người nghiên cứu vào quá trình xây dựng
và phát triển Nhà trường thông qua các số liệu điều tra thực nghiệm của đề tài
luận văn về một vấn đề Nhà trường cũng đang hết sức quan tâm. Điều này
cũng phản ánh “tính xã hội học” của đề tài luận văn theo như quan điểm của
K. Marx rằng “trách nhiệm của xã hội học là góp phần làm biến đổi xã hội”
[13, tr52].
Như vậy, quá trình học tập, nghiên cứu và kinh nghiệm thực tiễn công tác
của bản thân; cùng với những tìm hiểu ở góc độ lý luận cũng như sau khi
tham khảo ý kiến của một số nhà khoa học tiền bối, tác giả đã đi đến lựa chọn
vấn đề nghiên cứu: “Các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của
sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội (nghiên cứu trường hợp
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Hà Nội) làm đề tài luận văn
tốt nghiệp của mình.
2. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.
2.1. Ý nghĩa lý luận.
- Góp phần kiểm nghiệm lý thuyết xã hội học về xã hội hóa được vận
dụng để nhận diện và phân tích các vấn đề trong đề tài.
- Đóng góp thêm những phát hiện có tính quy luật, lý luận về sự tác động
của các yếu tố xã hội đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên năm cuối các
ngành khoa học xã hội đồng thời có thể mở ra những định hướng nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên năm
cuối các ngành khoa học xã hội.
9
4.2. Khách thể nghiên cứu:
Sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội.
4.3. Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu trường hợp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội.
Thời gian triển khai nghiên cứu: Từ tháng 11/2008 đến tháng 11/2009.
5. Giả thuyết nghiên cứu
- Đa số sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội có định hướng
nghề nghiệp của mình một cách rõ rệt.
- Có nhiều yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên năm
cuối các ngành khoa học xã hội, trong đó các yếu tố cơ bàn là: gia đình, bạn
bè, truyền thông đại chúng, môi trường học tập và các môi trường nghề
nghiệp việc làm.
- Mức độ tác động của mỗi yếu tố đến định hướng nghề nghiệp đối với
từng nhóm sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội có sự khác biệt.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu:
Phân tích các tài liệu về nghề nghiệp và định hướng nghề nghiệp của sinh
viên, tổng quan điểm luận các nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề mà đề tài luận văn
quan tâm.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Nhằm thu thập các thông tin định lượng tác giả tiến hành thu thập
thông tin qua bàng hỏi với dung lượng mẫu là: 250 mẫu (sinh viên năm cuối).
Cách thức chọn mẫu trong điều tra bằng bảng hỏi: Căn cứ điều kiện
thực tiễn của địa bàn nghiên cứu là đơn vị đào tạo đại học được chia ra các
7. Khung lý thuyết.
Sinh viên năm cuối
các ngành KHXH
mục bảng biểu, phần mở đầu, Chương 1, Chương 2, phần kết luận, danh mục
tài liệu tham khảo và phần phụ lục.
Chƣơng 1 có tiêu đề “Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài”. Trước tiên
tác giả tiến hành tổng quan điểm luận lịch sử vấn đề nghiên cứu và đưa ra một
cái nhìn khái quát về địa bàn nghiên cứu. Lý thuyết xã hội học về xã hội hóa và
lý thuyết về định hướng giá trị sẽ được trình bày sau đó một cách chi tiết, đặc
biệt đi sâu vào các khía cạnh mà đề tài sẽ vận dụng làm cơ sở phương pháp
luận nhằm tìm hiểu, phân tích, lý giải các vấn đề nghiên cứu. Kết thúc chương
tác giả đưa ra một số khái niệm công cụ làm cơ sở tạo nên cái nhìn thống nhất,
khách quan và khoa học trong quá trình tiến hành thực hiện đề tài.
Chƣơng 2 có tiêu đề “Các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp
của sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội”. Trong chương này, tác giả
trình bày các kết quả nghiên cứu đã thu thập được, trong đó mở đầu bằng việc
khái quát về thực trạng định hướng nghề nghiệp của sinh viên năm cuối các
ngành khoa học xã hội. Nhận diện, đánh giá các yếu tố tác động đến định hướng
nghề nghiệp của sinh viên năm cuối các ngành khoa học xã hội qua các kết quả
điều tra được xem như nội dung chính tác giả tập trung phân tích trong chương
này. Trong phần cuối chương 2 tác giả đi vào phân tích các yếu tố tác động
đến định hướng nghề nghiệp giữa các nhóm sinh viên năm cuối các ngành
khoa học xã hội chia theo ngành học, địa bàn cư trú, nghề nghiệp của cha mẹ
và kết quả học tập của sinh viên. Quá trình phân tích này có ý nghĩa lý luận và
thực tiến quan trọng, đồng thời nó phản ánh “chất xã hội học” của đề tài luận
văn.
13
NỘI DUNG CHÍNH
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu.
Hà Nội. Tuy nhiên việc mới chỉ đi sâu phân tích ảnh hưởng của hai yếu tố gia
đình và trường học đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên là chưa đủ, hay
nói cách khác dưới góc độ lý thuyết xã hội học về các môi trường xã hội hóa
thì đó mới là các yếu tố tác động chính thức mà thôi (môi trường xã hội hóa
chính thức: gia đình và trường học).
Một đề tài khoa học khá quen thuộc nữa cần được nhắc tới là nghiên
cứu “Định hướng giá trị của sinh viên là con em cán bộ nghiên cứu khoa
học” của PGS. TS Vũ Hào Quang có đề cập đến định hướng giá trị nghề
nghiệp như một mảng nghiên cứu nhỏ của đề tài lấy khách thể nghiên cứu tập
trung vào sinh viên là con em cán bộ nghiên cứu khoa học thuộc Đại học
Quốc gia Hà Nội.
Bên cạnh đó, hướng nghiên cứu tìm hiểu một yếu tố tác động cũng
được một số tác giả quan tâm, trong đó sự tác động của gia đình đến định
hướng nghề nghiệp của thanh niên nói chung được lưu ý hơn cả. Có thể kể
đến đề tài luận văn “Vai trò của cha mẹ trong việc định hướng bậc học và
nghề nghiệp của con cái trong gia đình nông thôn hiện nay” của Nguyễn Thị
Phương Dung (Khoa Xã hội học, Trường Đại hoc Khoa học Xã hội và Nhân
văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) hay đề tài khoa học “Vai trò của gia đình
trong việc định hướng nghề nghiệp cho con hiện nay (Qua khảo sát tại TP. Hồ
Chí Minh) của tác giả Nguyễn Bảo Huân Chương – ĐH Mở TP Hồ Chí Minh.
Các tác giả đã đi sâu phân tích vai trò quan trọng của gia đình trong việc định
hướng nghề nghiệp cho con. Trên cơ sở những số liệu thu thập được, tác giả
đã chỉ ra thực trạng vai trò định hướng nghề nghiệp của gia đình đối với con
15
cái đồng thời tác giả cũng đã đi sâu phân tích các mối tương quan giữa thực
trạng đó với giữa trình độ học vấn, nghề nghiệp của cha mẹ, điều kiện kinh tế
của gia đình. Tuy nhiên chúng ta đều nhận thấy khách thể nghiên cứu của đề
tài có sự khác biệt nhiều, thậm chí hoàn toàn so với đối tượng đề tài luận văn
này hướng tới.
động đào tạo chính quy của Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
được tổ chức tập trung tại địa chỉ 336 – Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.
Từ năm học 2007, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã
bắt đầu nghiên cứu và từng bước áp dụng mô hình đào tạo theo tín chỉ. Trong
quá trình đó, vấn đề sinh viên với định hướng nghề nghiệp trước khi vào
trường, trong quá trình học tập và đặc biệt sau khi tốt nghiệp qua các ngành
đào tạo được Nhà trường hết sức quan tâm. Thực tiến, trong trường đã xây
dựng hẳn một bộ phận trực thuộc Phòng Chính trị và Công tác sinh viên làm
công tác tư vấn và định hướng nghề nghiệp cho sinh viên. Bên cạnh đó các tổ
chức đoàn thể sinh viên (Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên) cũng tổ chức các
hoạt động liên quan tới vấn đề định hướng nghề nghiệp cho sinh viên một
cách trực tiếp hay gián tiếp. Bên cạnh đó, trong một vài năm trở lại đây, Nhà
trường cũng đã bắt đầu quan tâm tới việc định hướng nghề nghiệp cho đối
tượng đầu vào của mình là học sinh các trường phổ thông trung học thông qua
nhiều hình thức quảng bá khác nhau. Tuy nhiên, thực tiễn các kết quả nghiên
cứu đã cho thấy định hướng nghề nghiệp của sinh viên vẫn còn nhiều vấn đề
đáng quan tâm. Một bộ phận lớn sinh viên thi vào các khoa/ ngành dường như
ít vì sự cân nhắc tới hướng chuyên môn sau này, mà chủ yếu vì khả năng có
một chỗ trong đại học và tương lai có bằng đại học để dễ xin việc. Sự lựa
chọn khối/ ngành đại học chủ yếu thể hiện nguyện vọng bằng cấp để xin việc
hơn là sự hứng thú hoặc gắn kết với một hướng nghề nhất định [10, tr20,
tr21]. Trong khi đó các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy ảnh hưởng của gia
17
đình đến định hướng chuyên môn của sinh viên Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn là rất ít, bên cạnh đó định hướng nghề nghiệp của một bộ phận lớn
sinh viên có độ gắn kết với chuyên môn khá lỏng lẻo [10, tr33].
Nhìn chung địa bàn nghiên cứu Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn là thuận lợi để triển khai đề tài luận văn với mong muốn tìm hiểu
các yếu tố tác động đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên năm cuối các
nhận khác nhau, có khi nhấn mạnh sự bị động của cá nhân hay ngược lại nhấn
mạnh sự chủ động sáng tạo của cá nhân. Tuy vậy, về căn bản họ đều thống
nhất rằng xã hội hóa là một quá trình có khởi đầu, có diễn biến và có kết thúc,
trong quá trình đó cá nhân chịu sự tác động của phức hợp nhiều yếu tố khác
nhau.
Cho tới nay, các nhà xã hội học đều thừa nhận tính hai mặt của quá
trình xã hội hóa rằng đó là quá trình cá nhân thu nhận kinh nghiệm xã hội
đồng thời chuyển hóa nó thành những giá trị, tâm thế xu hướng của cá nhân
để tham gia “tái tạo” lại chúng trong xã hội.
Các môi trường xã hội hóa.
Trong quá trình xã hội hóa, cá nhân chịu sự ảnh hưởng của môi trường
sống xung quanh, trong đó có gia đình, trường học, bạn bè, các phương tiện
truyền thống đại chúng, các nhóm thành viên, Đó chính là nơi cá nhân có
điều kiện thuận lợi để thực hiện các tương tác xã hội của mình nhằm mục
đích thu nhận và tái tạo kinh nghiệm xã hội. Môi trường xã hội hóa phù hợp
là không thể thiếu cho sự hình thành của một nhân cách hoàn thiện. Môi
trường xã hội hóa cá nhân được chia ra hai loại: Môi trường xã hội hóa chính
thức và môi trường xã hội hóa không chính thức.
- Môi trường xã hội hóa chính thức: Có ảnh hưởng quan trọng chủ yếu,
có định hướng đối với cá nhân. Nó đưa ra các nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực
đòi hỏi phải được tuân thủ chấp hành. Nó trang bị các kỹ năng, kiến thức,
nguyên tắc cần có cho cuộc sống. Trong môi trường xã hội hóa chính thức, cá
19
nhân chịu sự kiểm soát và điểu chỉnh hành vi ở mức độ cao. Trong đó gia
đình, trường học, nơi làm việc là những môi trường xã hội hóa chính yếu đầu
tiên.
Gia đình: Là môi trường xã hội hóa chính thức có tầm quan trọng rất
lớn vì đây là nhóm xã hội đầu tiên mà mỗi cá nhân trong xã hội phải phụ
thuộc vào. Mỗi con người từ khi sinh ra đến lúc mất đi đều gắn bố với một gia
việc cá nhân sẽ có cơ hội tương tác với các cá nhân khác nữa, trong quá trình
tương tác đó, cá nhân sẽ phải học tập và điều chỉnh hành vi của mình cho phù
hợp.
Ở một góc độ thì môi trường làm việc là chính thức đối với cá nhân,
nhưng đồng thời nó lại tạo điều kiện cho cá nhân tham gia vào các môi trường
xã hội không chính thức là các nhóm.
Môi trường làm việc gắn bó với cá nhân lâu dài (trong suốt độ tuổi lao
động) và thường trực hàng ngày vì vậy nó có ảnh hưởng hết sức thường
xuyên đến quá trình phát triển cá tính của cá nhân
- Môi trường xã hội hóa không chính thức: Là môi trường mà trong đó
quá trình xã hội hóa bằng cách cá nhân tiếp thu, hấp thu, sàng lọc những gì cần
thiết cho mình. Trong môi trường này, cá cá nhân vừa là khách thể, đồng thời
vừa là chủ thể của quá trình xã hội hóa. Nhóm xã hội, đám đông công chúng,
truyền thông đại chúng, đều là những môi trường xã hội hóa không chính
thức.
Nhóm xã hội: Là một số người đang sống và hoạt động cùng với nó có
chức năng cơ bản là thỏa mãn nhu cầu giao tiếp, nhu cầu giải trí giữa các cá
nhân. Trên thực tế, quan hệ giữa cá nhân trong nhóm xã hội là tác nhân quan
trọng ảnh hưởng nhiều tới quá trình xã hội hóa.
Quan hệ bàn bè là quan hệ bình đẳng, cùng vị thế xã hội nên các cá
nhân thường chia sẻ thái độ, tâm tư và cảm xúc với nhau. Tác động của nhóm
21
bạn bè đôi khi mạnh mẽ đến mức lấn át cả ảnh hưởng của môi trường xã hội
hóa chính thức là gia đình và nhà trường.
Đám đông và công chúng: Trong đám đông, do ảnh hưởng tâm lý lẫn
nhau nên các cá nhân có thể có những hành vi không bình thường, không chủ
định. Đồng thời qua trao đổi giữa các cá nhân trong đám đông, mỗi cá nhân
có những suy nghĩ và cảm xúc bộc phát nhất thời, thậm trí sai lệch.
Công chúng ảnh hưởng đến quá trình xã hội hóa theo một cách thức
Bảng 1.1: Mô hình môi trường xã hội hóa cá nhân.
1.3.2. Lý thuyết “Định hướng giá trị”.
Giá trị định hướng hành vi con người trong đời sống xã hội theo xu
hướng xác định, đồng thời nó kích thích, thúc đẩy và điều chỉnh những hành
động nhằm đạt tới mục tiêu cụ thể. Nội dung của giá trị bao gồm ba khía
cạnh:
Cá nhân
(xã hội hóa)
Trường học
Nơi làm
việc
Gia đình
Đám đông,
Công chúng
Nhóm bạn
sống và cả quá trình di cư, lối sống của các nhóm xã hội khác nhau trng một
cơ cấu xã hội cụ thể. Định hướng giá trị ảnh hưởng trực tiếp tới xu hướng
chọn nghề của mỗi cá thể. Chính vì vậy, bên cạnh việc vận dụng lý thuyết xã