1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
ĐẶNG QUANG TRUNG
Đ
Đ
Á
Á
N
N
H
HG
G
I
I
Á
ÁH
Ấ
P
PG
G
I
I
Ấ
Ấ
Y
YC
C
H
H
Ứ
Ứ
N
N
G
GN
N
H
N
G
GĐ
Đ
Ấ
Ấ
T
TM
M
A
A
N
N
G
GT
T
Ê
Ê
N
N
G( Nghiên cứu trường hợp tại Từ Sơn - Bắc Ninh, Mê linh- Vĩnh Phúc)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC Hà Nội - 2012
2
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Ệ
Ệ
U
UQ
Q
U
U
Ả
ẢV
V
I
I
Ệ
Ệ
C
CC
C
Ấ
Ấ
P
P
N
NQ
Q
U
U
Y
Y
Ề
Ề
N
NS
S
Ử
ỬD
D
Ụ
Ụ
N
N
G
G
Ợ
ỢV
V
À
ÀT
T
Ê
Ê
N
NC
C
H
H
Ồ
Ồ
N
N
G
G
( Nghiên cứu trường hợp tại Từ Sơn - Bắc Ninh, Mê linh- Vĩnh Phúc)
4 MC LC
M U 7
1. Lí DO CHN TI 7
2. í NGHA KHOA HC V í NGHA THC TIN 11
2.1. í ngha khoa hc 11
2.2. í ngha thc tin 11
3. CU HI NGHIấN CU 11
4. MC TIấU NGHIấN CU 12
5. NHIM V NGHIấN CU 12
2. C s thc tin 29
2.1. Tỡnh hỡnh ng ký t ai Vit Nam trc v sau khi lut t ai 2003 ra i 30
2. 2.Trỡnh t cp giy chng nhn quyn s dng t. 32
2.5. Tng quan a bn nghiờn cu 36
CHNG 2- NH GI HIU QU VIC CP GIY CHNG NHN
QUYN S DNG T MANG TấN V V TấN CHNG 43
1. Tỡnh hỡnh thi hnh cỏc quy nh phỏp lut trong vic ỏnh giỏ hiu qu cp giy
chng nhn quyn s dng t mang tờn v v chng 43
1.1. Khỏi quỏt tỡnh hỡnh cp giy chng nhn quyn s dng t v quyn s hu
t t khi cú lut t ai nm 1988 n nay 43
1.2. Thc trng cp giy chng nhn quyn s dng t trờn a bn
huyn T Sn v Mờ Linh 46
1.2.1. Thc trng cp giy chng nhn GCNQSD ti Huyn Mờ Linh- Vnh Phỳc 46
1.2.2. Thc trng cp giy GCNQSD ti T Sn- Bc Ninh 49
2. Hiu qu cp giy chng nhn quyn s dng t mang tờn v v chng ti Mờ
Linh v T Sn 51
2.1. Đánh giá chung việc áp dụng pháp luật trong công tác
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 51
TI LIU THAM KHO 82
6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
QSHTS : Quyền sở hữu tài sản
UBND : Ủy ban nhân dân
NĐ- CP : Nghị định- Chính phủ
BTNMT : Bộ Tài nguyên môi trường
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
45
48
52
53
54
56
57
64
76
68
69
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu 1: Trình tự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất……………….
Biểu 2: Giao dịch về chuyển nhượng QSDĐ người phụ nữ được tham gia
30
Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước là người đại
diện chủ sở hữu với đầy đủ các quyền năng quan trọng, đó là quyền chiếm hữu,
quyền định đoạt và quyền sử dụng theo quy định của pháp luật. Trong đó,
quyền sử dụng đất là quyền của chủ sở hữu khai thác công dụng, hưởng hoa
lợi, lợi tức từ đất đai, tài sản. Quyền sử dụng đất được hiểu là quyền khai thác
các thuộc tính và công dụng từ đất để phục vụ cho các mục đích nhất định. Xét
về khía cạnh kinh tế, Quyền sử dụng đất có ý nghĩa quan trọng vì nó làm thoả
mãn các nhu cầu và mang lại lợi ích vật chất cho các chủ sử dụng trong quá
trình sử dụng đất. Quyền sử dụng đất của Nhà nước và của người sử dụng đất
tuy khác nhau về cấp độ nhưng đều thống nhất trên từng lô, thửa, mảnh đất,
mục đích sử dụng và mức độ hưởng lợi từ đất.
Trong thực tế, xuất phát từ việc nhận thức chưa đầy đủ các quy định của
pháp luật đất đai, mặt khác điều kiện liên quan đến quyền tiếp cận đất đai đối
với phụ nữ còn hạn chế nên hiện trạng tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất mang tên cả vợ và chồng (không chỉ trong địa bàn khảo sát) mà ở
nhiều địa phương tỷ lệ đạt không cao. Tôn trọng và bảo vệ quyền công dân nói
chung và quyền bình đẳng của phụ nữ nói riêng được ghi nhận tại Hiến pháp
của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992. Chính sách bảo hộ
9
của pháp luật đối với phụ nữ ở Việt Nam được thực hiện thống nhất thông qua
hệ thống văn bản từ Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đến các Luật
(Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình…) và hệ thống văn
bản dưới luật được áp dụng, thi hành trong đời sống xã hội, trong đã có các chế
định liên quan đến quyền sử dụng đất.
Với tư cách là một chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai, chịu sự
điều chỉnh của Luật đất đai 2003, phụ nữ có đầy đủ các quyền sử dụng đất bình
đẳng như nam giới được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là
GCNQSDĐ); thông qua việc cấp GCNQSDĐ, Nhà nước công nhận quyền sử
dụng đất hợp pháp, bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng
chưa nhận thức đầy đủ về sự cần thiết phải tiến hành cấp đổi giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất từ một tên sang hai tên, do công tác thông tin tuyên truyền về
Luật đất đai 2003 chưa được quan tâm đúng mức, cũng như do bản thân người
dân, đặc biệt là phụ nữ cũng chưa hiểu về quy định này và ý nghĩa của nó, và thủ
tục hành chính còn rườm rà, chi phí mà người dân phải trả còn cao.
Từ Sơn và Mê Linh là hai điểm nóng về vấn đề đất đai. Tại đây nhu cầu
về đất đai rất lớn để phát triển kinh tế đặc biệt là các làng nghề. Quá trình phát
triển kinh tế đã làm thay đổi các nhu cầu của con người, trong đó có nhu cầu sử
dụng đất đai. Người dân xem đất đai như là tài sản quý giá để làm nơi cư trú và
dùng đất đai để thực hiện các giao dịch như: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê, thế chấp… Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trở nên rất quan trọng, là
căn cứ pháp lý duy nhất để người dân sử dụng mảnh đất của mình. Song hiện
nay công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện trong thời gian qua gặp rất
nhiều khó khăn trong việc đẩy nhanh tiến độ cấp GCNQSDĐ, lập và quản lý hồ
sơ địa chính
.
Nhu cầu đất lớn kéo theo giá trị đất tăng cao, việc đứng tên giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất là rất quan trọng.
Mặc dù đã được Đảng và nhà nước đã quan tâm nhưng tình trạng bất bình
đẳng trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ và tên
chồng vẫn còn nhiều bất cập. Tại Từ Sơn và Mê Linh vẫn còn nhiều trường hợp
người dân đặc biệt là phụ nữ không biết quyền lợi của mình hoặc bị tước đoạt
quyền lợi trong việc đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Với các
lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “Đánh giá hiệu quả việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang tên vợ và tên chồng (Nghiên cứu trường hợp tại Từ Sơn- Bắc
Ninh và Mê Linh- Vĩnh Phúc)” vì đề tài này có ý nghĩa sâu sắc về chính trị - xã
11
hội. Nghiên cứu đề tài này tôi mong muốn nêu lên thực trạng cấp giấy chứng
12
4. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Thông qua kết quả điều tra xã hội học, đề tài sẽ đánh giá tác động của
việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang cả họ và tên vợ, chồng để
đảm bảo bình đẳng giới trong sử dụng đất đai, nâng cao vai trò và vị trí của
người phụ nữ trong xã hội và trong quản lý, sử dụng đất đai.
- So sánh hiệu quả của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khi chỉ
đứng tên một người với việc cấp giấy mang cả tên vợ tên chồng theo quy định hiện
nay ở các địa bàn nghiên cứu. Từ đó có những đề xuất điều chỉnh chính sách nhằm
đảm bảo quyền bình đẳng giới trong hưởng dụng tài nguyên đất đai và góp phần
đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo yêu cầu của Chính
phủ.
- Đưa ra các đề xuất, khuyến nghị giải pháp.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về đánh giá tác động của việc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất; nghiên cứu những chính sách, quy định về việc cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiệu quả của việc cấp GCNQSDĐ.
- Tiến hành điều tra thực tế nhằm đánh giá thực trạng và tác động của
những chính sách, quy định về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Đưa ra các đề xuất khuyến nghị mang tính khả thi
6. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Đánh giá hiệu quả việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang
tên vợ và tên chồng
7. KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
- Hộ gia đình nông thôn được cấp sổ có quyền sử dụng đất cả vợ và chồng
- Cán bộ nhà nước có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ
8. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
8.1. Phạm vi không gian :Mê Linh-Vĩnh Phúc, Từ Sơn - Bắc Ninh
Đề tài tập trung nghiên cứu ở các xã điển hình và có những vấn đề bất cập về
trong nghiên cứu này thì chưa thể suy rộng nếu xét trên phạm vị rộng của vấn đề
nghiên cứu. Chính vì vậy, nghiên cứu này chỉ xem xét vấn đề trong phạm vi hẹp
với tác động của những chính sách, quy định về việc cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất
Mô tả về cơ cấu mẫu khảo sát
Tỷ lệ nam nữ được đều tra theo tỷ lệ 100 nam- 100 nữ vì theo tác giả
như vậy sẽ đảm bảo sự bình đẳng trong việc thu thập thông tin
Số lượng người được hỏi là chủ hộ: 172 người chiếm 86%, số lượng người
được hỏi là vợ/ chồng với người được hỏi: 17 người chiếm 8,5%, số người là con dâu/
con rể với người được hỏi: 2 người chiếm 1%, số người là cha mẹ với người được
hỏi: 9 người chiếm 4,5%
14
Trong 200 người được hỏi thì có 180 người làm nông nghiệp chiếm 90 %, số
người là công nhân viên chức: 7 người chiếm 3,5% và số người làm các ngành nghề
khác là 13 người chiếm 6,5%
Trong việc điều tra bằng bảng hỏi tác giả đã cùng phối hợp với nhóm sinh
viên trường Đại Học Lao động xã hội tiến hành xuống 2 địa bàn Từ Sơn và Mê
Linh. Đoàn sinh viên gồm 10 người được chia ra 2 nhóm : 1 nhóm 5 người
xuống Từ Sơn, một nhóm 5 người xuống Mê Linh.
Phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc: Đề tài tiến hành 10 cuộc phỏng vấn
bán cấu trúc (5 nam- 5 nữ) đối với các đối tượng là cán bộ chính quyền địa
phương, trong đó có ông Nguyễn Mạnh C, Phó trưởng phòng Tài Nguyên Môi
trường -Từ Sơn và 02 chủ tịch hội phụ nữ Huyện Mê Linh và huyện Từ Sơn để
rà soát lại việc thực thi Luật đất đai trong thời gian qua, những khó khăn, vướng
mắc mà họ gặp phải trong quá trình thực hiện…; và phỏng vấn bán cấu trúc 07
Quy định của pháp luật về
cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất mang
tên vợ và tên chống
Phong tục tập quán và quan
niệm truyền thống của nhân
dân về nam và nữ đứng tên
trong GCNQSDĐ
Bình đẳng giới và quyền phụ nữ
hoạch sử dụng đất để phân bổ hợp lý nguồn tài nguyên đất đai. Đảm bảo đất
được giao đúng đối tượng, sử dụng đúng mục đích, phù hợp với quy hoạch, kế
hoạch, sử dụng có hiệu quả ở hiện tại và bền vững trong tương lai, tránh hiện
tượng phân tán đất và đất bị bỏ hoang hóa.
1.1.3. Vai trò quản lý của Nhà nước về đất đai
Quản lý Nhà nước về đất đai có vai trò rất quan trọng cho sự phát triển
kinh tế, xã hội, và đời sống nhân dân. Cụ thể là:
- Thông qua hoạch định chiến lược, quy hoạch, lập kế hoạch phân bổ đất
đai có cơ sở khoa học nhằm phục vụ cho mục đích kinh tế, xã hội của đất nước;
bảo đảm sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, đạt hiệu quả cao. Giúp cho Nhà
17
nước quản lý chặt chẽ đất đai, giúp cho người sử dụng đất có các biện pháp hữu
hiệu để bảo vệ và sử dụng đất đai có hiệu quả.
- Thông qua công tác đánh giá phân hạng đất, Nhà nước quản lý toàn bộ
đất đai về số lượng và chất lượng để làm căn cứ cho các biện pháp kinh tế - xã
hội có hệ thống, có căn cứ khoa học nhằm sử dụng đất có hiệu quả.
- Thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai (văn
bản luật và dưới luật) tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi chính đáng của hộ
gia đình, các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, cá nhân trong những quan hệ
về đất đai.
- Thông qua việc ban hành và thực hiện hệ thống chính sách về đất đai
như chính sách giá, chính sách thuế, chính sách đầu tư Nhà nước kích thích
các tổ chức, các chủ thể kinh tế, các cá nhân sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm
đất đai nhằm nâng cao khả năng sinh lợi của đất, góp phần thực hiện mục tiêu
kinh tế - xã hội của cả nước và bảo vệ môi trường sinh thái.
- Thông qua việc kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng đất, Nhà nước
nắm chắc tình hình sử dụng đất đai, phát hiện những vi phạm và biện quyết
những vi phạm pháp luật về đất đai. [15, chương 4]
1.1.4.Những vấn đề về quyền sử dụng đất ở và giấy chứng nhận quyền
+ Trang 4 in chữ màu đen gồm nội dung tiếp theo của mục "IV. Những
thay đổi sau khi cấp Giấy chứng nhận"; những vấn đề cần lưu ý đối với người
được cấp Giấy chứng nhận; mã vạch.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên vợ và chồng
GCNQSDĐ mang tên vợ và chồng là giấy chứng nhận do cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền cấp cho cả vợ và chồng để bảo hộ quyền và lợi ích hợp
pháp của người sử dụng đất.
19
Mẫu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo quy định tại Điều 27 Luật Hôn nhân và Gia đình, tài sản chung của
vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản
xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ
hôn nhân… Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp
luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu
phải ghi tên của cả vợ chồng.
Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 quy định chi tiết thi hành
Luật Hôn nhân và gia đình cũng hướng dẫn cụ thể tại Điều 5: Các tài sản thuộc
nắm chắc và quản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất của quốc gia.
21
1.1.5. Một số khái niệm về Giới
- Tư tưởng của Ph. Ăng- Ghen về bình đẳng giới
Cùng với C.Mác, Ph. Ăng-Ghen đã có nhiều đóng góp to lớn trong việc
bảo vệ các giá trị lý luận và phát triển chúng lên một tầm cao mới. Một trong
những giá trị đó là tư tưởng về giải phóng phụ nữ hay bình đẳng giới theo cách
nói hiện nay. Xuất phát từ quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về
sự phát triển của lịch sử và xã hội, ông đã chỉ ra rằng, địa vị xã hội của nam và
nữ gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất, sự biến đổi của phương
thức sản xuất và phân công lao động trong nền sản xuất xã hội.
Tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước
xuất bản lần đầu tiên ở Xuyrich (Đức) năm 1884 của Ăng-ghen là một trong
những tác phẩm kinh điển có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu tiến
trình phát triển của gia đình và vai trò, vị thế của người phụ nữ qua từng giai
đoạn lịch sử khác nhau. Trên cơ sở đó, Ăng-Ghen đã nêu và phân tích nguyên
nhân của sự bất bình đẳng giới, chỉ ra những giải pháp thực hiện sự bình đẳng
giới trong gia đình và xã hội như sau:
- Sự bất bình đẳng giới có nguồn gốc từ sự bất bình đẳng kinh tế giữa
phụ nữ và nam giới, chính vì vậy vị thế xã hội của người phụ nữ bị đánh giá
thấp kém hơn so với nam giới bắt nguồn từ sự không ngang nhau về mặt kinh
tế. Như vậy, cơ sở kinh tế quy định mối quan hệ bình đẳng hay bất bình đẳng
giữa phụ nữ và nam giới và người ta coi việc phụ nữ có địa vị thấp kém hơn
nam giới, phải phụ thuộc vào nam giới như là lẽ đương nhiên.
- Kinh tế cũng không phải là yếu tố duy nhất quy định sự bất bình đẳng
nam nữ, mà cả yếu tố nhận thức của từng người, sự tác động của văn hóa, xã
hội cũng ảnh hưởng không nhỏ. Trình độ nhận thức và các phong tục tập quán
phản ánh rõ nét sự bất bình đẳng kinh tế giữa phụ nữ và nam giới đã ăn sâu,
giảm bớt và tiến tới xóa bỏ định kiến giới là biện pháp cấp bách, trước mắt và
là chiến lược lâu dài của đất nước.
- Bình đẳng giới
Ngay từ khi thành lập nước, trong bản tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã tuyên bố “nam nữ bình đẳng”.
23
Bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (năm
1946) đã khẳng định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi
phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa” (Điều 6) và “Đàn bà ngang quyền
đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9). Nội dung này liên tục được đề cập
đến trong Hiến pháp năm 1959,1980,1992. Đặc biệt Luật Bình đẳng giới được
phê duyệt vào tháng 7/2007.
Vậy Bình đẳng giới: “là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau,
được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của
cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng nhu nhau về thành quả của sự phát triển
đó” [18, điều 5]
Như vậy có thể hiểu là Bình đẳng giới trong việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất là việc nam nữ có vai tò ngang nhau, được tạo điều kiện và
cơ hội để phát huy năng lực và quyền hạn của mình trong việc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và sự thụ hưởng như nhau về lợi ích của việc cấp giấy
CNQSDĐ.
- Định kiến giới:
+ Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về
đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ [18, điều 5]
+ Định kiến giới là nhận định của mọi người trong xã hội về những gì
mà phụ nữ và nam giới có khả năng và các loại hoạt động mà họ có thể làm với
tư cách họ là nam hay nữ. Có nhiều biểu hiện khác nhau của định kiến giới
song phổ biến hơn cả là những quan niệm về đặc điểm, tính cách và khả năng
của phụ nữ và nam giới.[29,tr44]
Hiệu quả kinh tế quốc dân còn đợc gọi là hiệu quả KT-XH là hiệu quả tổng
hợp đợc xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế. Chủ thể của hiệu quả KT-XH là
toàn bộ xã hội mà người đại diện cho nó là Nhà nớc, vì vậy những lợi ích và chi
phí đợc xem xét trong hiệu quả KT-XH xuất phát từ quan điểm toàn bộ nền
KTQD
+ Hiệu quả trực tiếp và hiệu quả gián tiếp
Hiệu quả trực tiếp là hiệu quả đợc xem xét trong phạm vi chỉ một dự án,
một doanh nghiệp (một đối tợng).
Hiệu quả gián tiếp là hiệu quả mà một đối tợng nào đó tạo ra cho đối tợng khác.
Việc xây dựng một dự án này có thể kéo theo việc xây dựng hàng loạt các dự án
khác. Hiệu quả của dự án đang xem xét là hiệu quả trực tiếp còn hiệu quả của các
dự án khác là hiệu quả gián tiếp
25
1.2. Lý thuyết nghiên cứu
* Một số lý thuyết
- Lý thuyết xung đột (M. Weber)
Weber cho rằng sự khác biệt về vị trí xã hội dẫn tới những cơ hội xã hội
khác nhau, sự khác biệt giữa nhóm này với nhóm khác dựa trên cơ sở của ba loại
bất bình đẳng đó là bất bình đẳng về kinh tế, địa vị xã hội và chính trị.
Quan điểm này của Weber tương đối đồng nhất với Mác. Tuy nhiên Mác
chỉ lấy yếu tố cơ bản là kinh tế để giải thích mâu thuẫn xã hội thì Weber đã tiến
thêm một bước mới, ông cho rằng nguồn gốc dẫn đến xung đột xã hội là bất bình
đẳng về cơ hội xã hội. Trong xã hội có nhóm người có uy tín xã hội cao hơn so
với nhóm khác. Vì thế họ giành được những ưu thế do địa vị xã hội mang lại.
Bất bình đẳng về chính trị cụ thể những người giữ quyền hành cao trong