Định hướng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


TRẦN THỊ THU HIỀN ĐỊNH HƯỚNG NGHỀ NGHIỆP CỦA
SINH VIÊN SAU KHI RA TRƯỜNG
HIỆN NAY NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA
HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Mã ngành: 60 31 30

giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Phát huy trí tuệ con người
thông qua phát triển giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn lực, đuổi kịp
trình độ tiên tiến của các nước trong khu vực, đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong văn kiện Đại hội VIII đã nhấn
mạnh “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu”, nhà nước cũng đã quan
tâm xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị dạy và học, đào tạo, bồi dưỡng

2
đội ngũ giáo viên có đủ tố chất về năng lực cũng như trình độ giảng dạy
cho sinh viên.
Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong những trường đại học lớn nhất
Việt Nam đồng thời là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, nghiên
cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng
cao, giữ vai trò nòng cốt cho hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Đại học
Quốc gia Hà nội luôn đưa ra những chiến lược nhằm đào tạo ra một nguồn
nhân lực xuất sắc phục vụ cho yêu cầu chung của đất nước. Trong quá trình
xây dựng và phát triển, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị,
có uy tín lớn ở trong nước và quốc tế. Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn là trường dẫn đầu về thành tích đào tạo khoa học xã hội cơ bản,
cung cấp cán bộ giảng dạy và nghiên cứu cho các trường đại học, cao đẳng
và các viện nghiên cứu trong cả nước. Với phương thức đào tạo từ niên chế
sang học chế tín chỉ thể hiện quyết tâm thực hiện khâu đột phá trong lộ
trình nâng cao chất lượng đào tạo và hội nhập quốc tế. Nhà trường đã chú
trọng mở rộng những ngành đào tạo đáp ứng cho nhu cầu xã hội và tăng
cường liên kết, hợp tác với thị trường sử dụng lao động bằng việc ký kết
hợp tác với Hội các nhà quản trị doanh nghiệp Việt Nam, các tập đoàn
khách sạn Accor của Pháp, Sunway của Malaixia… đồng thời đẩy mạnh
hoạt động hướng nghiệp trong học sinh trung học phổ thông và trong sinh
viên. Bên cạnh đó Nhà trường không ngừng bổ sung số lượng giảng viên

Đề tài mong muốn góp phần làm sáng tỏ thực trạng, những yếu tố
tác động và xu hướng chọn nghề của tầng lớp sinh viên nói chung và nhóm
sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nói riêng.
2. Ý nghĩa của đề tài
2.1. Ý nghĩa khoa học:

4
Đề tài “Định hướng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường hiện
nay” tìm ra được những yếu tố tác động tới hành vi lựa chọn nghề nghiệp
tương lai của sinh viên từ đó khái quát nên những quy luật và tính quy luật
chi phối đến hành vi lựa chọn đó. Đề tài tìm ra sự nhận thức về việc làm
tương lai của sinh viên và những nguyên nhân dẫn tới sự nhận thức đó,
đồng thời cũng đưa ra một số giải pháp tích cực giúp cho họ nhận thức và
hành động đúng đắn.
Trong đề tài này, chúng tôi cũng sử dụng một số khái niệm công cụ
và những lý thuyết xã hội học để làm phương tiện cho việc nghiên cứu qua
đó phát hiện tính quy luật và những khám phá mới bổ sung hoàn thiện các
khái niệm, lý thuyết đã sử dụng.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn:
Đề tài này làm rõ thực trạng của việc định hướng nghề nghiệp, việc
làm của sinh viên Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trong bối
cảnh hiện nay. Đồng thời chỉ ra những nguyên nhân và những yếu tố ảnh
hưởng đến xu thế chọn nghề của sinh viên từ đó đưa ra những khuyến nghị
mang tính thực tiễn giúp các cơ quan chức năng có cơ sở khoa học cho việc
hoạch định các chính sách hợp lý đặc biệt là chính sách giáo dục và đào
tạo.
3. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu định hướng nghề nghiệp của sinh viên Trường ĐH
KHXH& NV sau khi ra trường.
- Phân tích quan điểm của sinh viên về việc làm và tác động của gia

- Phƣơng pháp phân tích tài liệu
Các thông tin mà chúng tôi thu nhận được qua phiếu trưng cầu ý kiến
đã được xử lý qua chương trình phần mềm SPSS. Chúng tôi tiến hành phân
tích các thông tin thứ cấp để nhằm làm rõ động cơ, thực trạng và nguyên

6
nhân dẫn tới nhận thức và định hướng nghề nhiệp của sinh viên đồng thời
chỉ ra những mối quan hệ cũng như những yếu tố tác động tới việc định
hướng nghề nghiệp của sinh viên sau khi ra trường.
Ngoài phương pháp phân tích trên chúng tôi còn sử dụng phương pháp
phân tích tài liệu khác như sách báo, các thông tin trên mạng và các bài viết
liên quan để bổ sung thông tin cho đề tài nhằm hoàn thiện đề tài.
- Phƣơng pháp phỏng vấn bằng phiếu trƣng cầu ý kiến: Đối
tượng là sinh viên K50 của 09 khoa: Khoa Lưu trữ, Khoa Văn học, Khoa
Báo chí, Khoa Thông tin Thư viện, Khoa Triết học, Khoa Ngôn ngữ, Khoa
Khoa học Quản lý, Khoa Du lịch, Khoa Xã hội học.
Phương pháp phỏng vấn này bao gồm 18 câu hỏi với dung lượng là 398
phiếu, chúng tôi đã thu được những thông tin định lượng có độ chính xác
cao cung cấp thông tin chủ yếu cho việc kiểm chứng giả thuyết nghiên cứu
của đề tài.
- Phƣơng pháp chọn mẫu:
Cơ cấu giới tính: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn có
tỷ lệ nữ là 80 - 85% là nữ, số sinh viên phỏng vấn có cơ cấu giới như sau:
Nam: 27 sinh viên: 7,0 %
Nữ: 371 sinh viên: 93,0 %
* Tỷ lệ học lực của sinh viên:
Giỏi (trên 8.0): 44 sinh viên chiếm 11.1%
Khá (7.0 - 8.0): 254 sinh viên chiếm 63.8%
Trung bình (6.0 -7.0): 99 sinh viên chiếm 24.9%
TB kém (5.0 - 6.0):1 sinh viên chiếm 0.3%

8.5
Triết học
23
5.8
Tổng
398
100.0

6. Giả thuyết nghiên cứu:
- Hà nội là địa bàn có nhiều tiềm năng về chính trị, kinh tế văn hóa
xã hội. Sinh viên ra trường có nhu cầu tìm việc làm và sinh sống tại địa
bàn này.
- Định hướng nơi làm việc của sinh viên Trường ĐHKHXH&NV
có sự khác nhau giữa các ngành. Một số sinh viên tập trung theo hướng vào
các công ty tư nhân, nước ngoài.
- Định hướng việc làm của sinh viên ảnh hưởng bởi: gia đình, nhà
trường 8 7. Khung lý thuyết:
Điều kiện KT – VH - XH

quả, thỡ nhà hành động luận nhấn mạnh đến sự thấu hiểu. Vỡ khụng thể đi
vào bên trong đời sống tinh thần của chủ thể, nờn nhà xó hội học phải phỏt
hiện cỏc ý nghĩa, đạt được sự thấu hiểu bằng phương pháp lý giải, mà
khụng thể bằng đo lường khách quan. Vỡ cỏc ý nghĩa thường xuyên được
dàn xếp trong quá trỡnh tương tác, nên không thể thiết lập được các quan
hệ nhân quả đơn giản.
M.Weber thừa nhận sự tồn tại của các phạm trù như giai cấp, đảng
phái, nhóm vị thế, quan liêu. Nhưng tất cả những cái đó đều được tạo nên
bởi những cá nhân đang thực hiện hành động xó hội. Do đó, theo M.Weber,
hành động xó hội phải là tõm điểm của xó hội học.

1
Bailey, 2003, tr. 185

10
Định nghĩa hành động xó hội
Theo quan niệm của Weber, một hành động xó hội là một hành động
của một cá nhân mà có gắn một ý nghĩa vào hành động ấy, và cá nhân đó
tính đến hành vi của người khác, bằng cách như vậy mà định hướng vào
chuỗi hành động đó. Một hành động mà một cá nhân không nghĩ về nó thỡ
khụng thể là một hành động xó hội. Mọi hành động không tính đến sự tồn
tại và những phản ứng có thể có từ những người khác thỡ khụng phải là
hành động xó hội. Hành động không phải là kết quả của quá trỡnh suy nghĩ
cú ý thức thỡ khụng phải là hành động xó hội.
Hành động xó hội gồm bốn kiểu: kiểu hành động truyền thống được
thực hiện bởi vỡ nú vẫn được làm như thế từ xưa đến nay, kiểu hành động
cảm tính bị dẫn dắt bởi cảm xúc, kiểu hành động duy lý - giỏ trị hướng tới
các giá trị tối hậu, kiểu hành động duy lý - mục đích hay cũn gọi là kiểu
hành động mang tính công cụ. ễng giải thớch hành động như sau:
Trước khi có thể tỡm ra nguyờn nhõn của một hành động, cần phải

+ Giai đoạn kích thích: những kích thích từ môi trường tác động tới
các giác quan và các cơ quan giác quan tiếp nhận các kích thích đó nhiệm
vụ của giai đoạn này là thu thập thông tin và chuyển về cơ quan phân tích.
+ Giai đoạn nhận thức: phân tích các thông tin sau khi đã được tiếp
nhận, chủ thể hành động đánh giá những yếu tố quan trọng, không quan
trọng , những yếu tố phù hợp hay không phù hợp với nhu cầu của chủ thể
từ đó đưa ra phương án trả lời kích thích.
+ Giai đoạn thao tác tình huống: các thao tác được hình thành chủ
thể hành động cân nhắc, tính toán, dự báo những khả năng trả lời kích thích
chuẩn bị sẵn mô hình hành động bên trong.

12
+ Giai đoạn thực hiện hành động: các chương trình hành động đã
được thao tác từ phía bên trong nó được thể hiện ra hành vi bên ngoài dưới
dạng các phản ứng để trả lời cho các kích thích nó nhận được
2
.
1.1.3. Thuyết xã hội hóa:
Xã hội hóa là một quá trình, nhờ đó mỗi cá nhân lĩnh hội được các
giá trị, chuẩn mực từ xã hội hay nói cách khác xã hội hóa là quá trình mỗi
con người học tập và đóng các vai trò.
Quá trình xã hội hóa diễn ra trong suốt đời của mỗi con người, thậm
chí có tác giả còn cho rằng xã hội hóa được diễn ra trong giai đoạn bào
thai. Môi trường xã hội hóa gồm ba môi trường cơ bản là: Gia đình, Nhà
trường và xã hội.
Thực tế cho thấy, mỗi cá nhân không thể tách rời người khác, họ
không thể thực hiện các vai trò nếu như không tồn tại trong mối quan hệ
đối với những người xung quanh. Các đặc điểm kinh tế văn hoá là những
yếu tố chi phối mạnh nhất trong quá trình xã hội hoá của họ. Có thể nói
mỗi hoạt động của cá nhân là phức hợp tác động của cả những yếu tố chủ

Quan điểm của các nhà xã hội học kinh tế không phủ nhận những
khác biệt sinh học giữa nam và nữ nhưng tập trung sâu hơn vào một số vấn
đề như cơ cấu của xã hội, các thiết chế xã hội để tìm những tác nhân hình
thành và củng cố sự bất bình đẳng giới trong kinh tế lao động và quản lý.
Vận dụng lý thuyết giới có thể lý giải sự khác biệt khi tham gia vào lĩnh
vực nghề nghiệp giữa hai giới.
1.1.5. Mạng lƣới xã hội
Lý thuyết về mạng lưới xó hội là một vấn đề của phương pháp luận
liên quan đến các nghiên cứu về xó hội học, nhõn học và nhiều chuyờn
ngành khoa học xó hội. Mạng lưới xó hội là một cỏch tiếp cận mới với
cụng cụ nghiờn cứu được xây dựng trên 4 định đề cơ bản:
- Cỏc cỏ nhõn cỏ thể hoỏ trong cỏc mối quan hệ

14
- Các kinh nghiệm được sử dụng và mang ý nghĩa trong cỏc hệ thống
cỏc mối quan hệ.
- Các mối quan hệ quyết định một phần các kinh nghiệm thực tế và
các biểu hiện của nó.
- Nghiờn cứu cỏc mối quan hệ giúp ta hiểu được các hiện tượng
xó hội.
Các phân tích bằng thuyết mạng lưới xó hội xuất hiện lần đầu tiên
năm 1954 trong bài viết của John A. Barnes, nhà xó hội học thuộc trường
phái Manchester, công bố trên tạp chí “Quan hệ con người”. Những tư
tưởng tiên phong xuất hiện trong triết học xó hội của Georg Simmel (đầu
thế kỷ XX), tư tưởng tâm lý xó hội của Moreno (đầu những năm 30), nhân
học cấu chức chức năng của Radcliffe Brown, nhân học cấu trúc của
Claude Levis-Strauss, ngôn ngữ học của Roman Jakobson và cỏc lý thuyết
toỏn học (đại số tuyến tính, ma trận và các lý thuyết về đồ thị). Nghiên cứu
mạng lưới hoàn chỉnh và dựa vào lý thuyết về biểu đồ và ma trận để thể
hiện và phân tích các dữ liệu về quan hệ nhằm làm rừ cỏc đặc tính cấu trúc

năng đảm nhận vai trũ của người khác dựa vào việc sử dụng biểu tượng
trong tương tác xó hội là nền tảng của cỏi tụi và mọi kinh nghiệm xó hội.
Như vậy, đánh giá, phản ứng của người khác có thể gây tác động lớn đến
việc một người tự nhận xét về bản thân mỡnh.
Người đó cú cụng định hỡnh và phổ biến lý thuyết gỏn nhón hiệu là
nhà xó hội học người Mỹ Howard Becker (1928). ễng khẳng định rằng sự
lệch lạc chỉ có thể định nghĩa như "hành vi mà con người được gọi như
thế" />A1n_nh%C3%A3n_hi%E1%BB%87u - cite_note-2#cite_note-2 vỡ sự lệch
lạc cú tớnh tương đối và phụ thuộc vào tỡnh huống tương tác xó hội cụ thể.
ễng tập trung vào phõn tớch cơ chế và nguyên nhân dẫn đến một hành vi
nào đó được xác định là lệch lạc hay phạm tội trong khi những hành vi
tương tự lại không. Lý thuyết của Becker nhấn mạnh đến phảm ứng của

16
người khác cũng như những hệ quả của phản ứng đó là tạo ra sự lệch lạc.
Khi một người đó bị gỏn nhón hiệu lệch lạc, người đó sẽ trở nên bị tách rời
khỏi xó hội, tỡm đến với những người cùng cảnh ngộ và đến một mức độ
nào đó, sẽ phản ứng theo đúng những gỡ mà xó hội gỏn cho.
1.2. Các khái niệm
1.2.1 Khái niêm sinh viên:
Thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ “Study” có nghĩa là người làm
việc, học tập, người tìm hiểu, khai thác tri thức
Theo TS. Phạm Minh Hạc: “Sinh viên là người đại biểu cho nhóm xã
hội đặc biệt là thanh niên đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất
hay tinh thần của xã hội’
3

V.I Lênin khi phân tích tình hình và hoạt động của giới sinh viên
cũng đã nói về sinh viên như sau: “Sinh viên là bộ phận nhạy cảm nhất
trong giới tri thức, mà sở dĩ giới tri thức được gọi là tri thức chính vì nó

thời gian nhất định, thường tính theo tháng, năm
(4)

Lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra cấc
loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội.
Như vậy, khi nói tới một việc làm là phải hội tụ được ba đặc điểm sau:
- Là hoạt động tạo ra những sản phẩm vật chất hoặc tinh thần.
- Có mục đích tạo ra hoặc nhận được thu nhập bằng tiền bạc hiện vật.
- Không bị pháp luật ngăn cấm.
Chúng ta có thể phân biệt giữa lao động và việc làm ở chỗ lao
động chủ yếu nhấn mạnh tới hoạt động cơ bắp hoặc trí tuệ của con người
còn việc làm nói tới quá trình sử dụng sức lao động.

(4)
941 – Hoàng phê: Từ điển tiếng việt , trung tâm từ điển ngôn ngữ viện ngôn ngữ Hà nội 18
Việc làm và lao động là những khái niệm có liên quan chặt chẽ
nhưng không hoàn toàn giống nhau. Việc làm có giới hạn về số lượng,
nguồn lao động cũng có giới hạn về số lượng và nhân khẩu học nhưng sức
lao động thì không. Việc làm thể hiện mối quan hệ giữa con người với
những chỗ làm việc cụ thể, là những giới hạn xã hội cần thiết trong đó lao
động diễn ra. Việc làm là điều kiện cần thiết để thoả mãn nhu cầu xã hội về
lao động, là nội dung chính của hoạt động con người. Đứng ở góc độ kinh
tế việc làm thể hiện mối tương quan giữa sức lao động và tư liệu sản xuất,
giữa yếu tố con người và yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất. Như vậy
việc làm là một phạm trù tổng hợp liên kết các quá trình kinh tế, xã hội và
nhân khẩu, nó thuộc loại những vấn đề chủ yếu nhất của toàn bộ đời sống
xã hội.

1.2.6. Khái niệm nơi làm việc:
Nơi làm việc là không gian vật chất xã hội, nơi mà việc làm được
thực hiện. Nơi làm việc bao gồm : Vị trí xã hội nhất định trong cơ cấu xã
hội của một cơ quan hay tổ chức, bởi một môi trường tự nhiên, môi trường
xã hội ở đó hoạt động nghề nghiệp và việc làm được thực hiện. Nơi làm
việc cũng là giá trị mà con người trong xã hội định hướng tới. Xu hướng
chung người ta đều mong muốn được làm việc ở những nơi có điều kiện
tốt. Điều kiện tự nhiên như : môi trường tự nhiên, cảnh quan, khí hậu,
nguồn nước, đất đai điều kiện xã hội như nhà cửa, giao thông, thông tin
liên lạc, văn hoá xã hội, tôn giáo, chính trị pháp luật
Căn cứ theo các tiêu chí về các điều kiện tự nhiên và điều kiện xã hội
trong phạm vi đề tài này chúng tôi nghiên cứu định hướng địa bàn làm việc
của sinh viên là : thành phố, thị xã và nông thôn.
1.2.7. Khái niệm thị trƣờng
Thị trường là phạm trù kinh tế tổng hợp gắn liền với quá trình sản
xuất và lưu thông hàng hóa. Thừa nhận sản xuất hàng hóa không thể phủ

6
Trần Thị Minh Đức: Tâm lý học đại cương. NXB Giáo dục Hà nội, 1996.
7
Vũ Hào Quang: Định hướng giá trị của sinh viên - con em cán bộ khoa hoc. NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội 2001.

20
định sự tồn tại khách quan của thị trường. Qua nghiên cứu và phân tích lí
thuyết về thị trường của các nhà kinh điển ta thấy một số vấn đề sau:
- Thị trường gắn với sản xuất hàng hóa. Sản xuất hàng hóa là cơ sở
kinh tế quan trọng của thị trường. Thị trường phản ánh trình độ và mức độ
của nền sản xuất xã hội.
- Mối quan hệ giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài

Như vậy, có thể tổng hợp lại rằng, người bán và người mua là hai lực
lượng cơ bản trên thị trường. Đó cũng là hình ảnh cụ thể nhất của hai yếu
tố cung- cầu của thị trường. Trong hệ thống thị trường, mọi thứ đều có giá
cả, đó là giá trị của hàng hóa và dịch vụ được tính bằng tiền.
1.3. Tổng quan vấn đề nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu
1.3.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Lĩnh vực lao động - nghề nghiệp - việc làm là một trong những vấn
đề được các nhà khoa học quan tâm. Các tác giả nghiên cứu tập trung chủ
yếu tới việc định hướng giá trị, định hướng nghề nghiệp, dự định nghề
nghiệp và việc làm, thực trạng lao động việc làm, tuy nhiên việc định
hướng nghề nghiệp cho sinh viên trước khi ra trường có rất ít công trình đề
cập tới. Trong khi nghiên cứu về định hướng nghề nghiệp phần lớn các tác
giả chỉ hướng đến đối tượng là thanh niên nói chung mà ít bàn đến định
hướng nghề nghiệp cho sinh viên nói riêng. Trong việc nghiên cứu lĩnh vực
này chỉ có một số ít tác giả đề cập như sau:
- Trong đề tài “Định hướng giá trị của thanh niên trong lĩnh vực nghề
nghiệp và việc làm”, tác giả Trần Xuân Vinh cho rằng: nghề nghiệp và việc
làm chính là mối quan tâm hàng đầu và là giá trị quan trọng nhất của thanh
niên hiện nay. Ở đây tác giả nhấn mạnh đến giá trị việc làm bên cạnh hàng
loạt các giá trị khác mà người thanh niên cần đạt được như học vấn, phẩm
chất đạo đức, tác phong, lối sống qua đó ta cũng thấy được tầm quan

22
trọng của nghề nghiệp việc làm đối với tầng lớp thanh niên nói chung, sinh
viên nói riêng.
- Trong một nghiên cứu do Viện thanh niên tiến hành tháng 10 năm
1992 cho thấy: trong tổng số 1542 người được hỏi có tới 72,0% trong số đó
đã khẳng định việc làm là mối quan tâm số một hiện nay. Trong khi đó mối
quan tâm tới học tập và phát triển tài năng là 49,0%, quan tâm tới tình yêu
hôn nhân gia đình là 37,0%, quan tâm đến thu nhập làm giàu là 24,0%,

23
Tác giả Phạm Tất Thắng với đề tài “Định hướng chọn nghề và nơi
làm việc của sinh viên khi tốt nghiệp” đã đi sâu vào hai khía cạnh: Thực
trạng định hướng chọn nghề của sinh viên sau khi ra trường và định hướng
nơi làm việc của sinh viên sau khi tốt nghiệp.
Tác giả Nguyễn Văn Buồm trong “Nghề nghiệp và việc làm của sinh
viên hiện nay” cũng đã đề cập đến ba vấn đề:
Thứ nhất là việc chọn nghề của sinh viên
Thứ hai là việc kiếm sống của sinh viên
Thứ ba là việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp
Nhìn chung, các nghiên cứu xã hội học về đề tài việc làm – nghề
nghiệp của sinh viên là khá phong phú và đã cho thấy một bức tranh toàn
cảnh về thực trạng lao động và việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp
cũng như tầm quan trọng của đào tạo – việc làm. Việc nghiên cứu đề tài
“Định hướng việc làm của sinh viên sau khi ra trường hiện nay” sẽ bổ sung
cho điều đó đồng thời gợi mở một số biện pháp đối với Trường Đại học
Khoa học Xã hội và Nhân văn nhằm phát huy những kết quả đã đạt được
và góp phần thúc đẩy công tác đào tạo có hiệu quả nhất.
- Nghiờn cứu của Trần Trung Dũng về động cơ học tập của sinh
viờn hiện nay cho thấy:
Thứ nhất, động cơ học tập của sinh viên rất đa dạng, chịu sự chi
phối của các yếu tố kinh tế - xó hội và điều kiện hoạt động khác nhau
nhưng nhỡn chung rất lành mạnh và luụn hướng tới các nhu cầu mưu sinh,
lập nghiệp. Nhu cầu này luôn thích ứng với xó hội, thoả món được các
chuẩn mực và xu thế phát triển của xó hội.
Thứ hai, động cơ học tập của sinh viên hiện nay chủ yếu hướng vào
các động cơ mang tính cá nhân như học để kiếm việc, học để nâng cao tri
thức, phát triển nhân cách cũn động cơ học để phục vụ yêu cầu phát triển

24


Trích đoạn Định hướng về khu vực làm việc của sinh viên Một số nguyên nhân dẫn tới định hướng nghề nghiệp của sinh Một số dự báo về định hướng việc làm của sinh viên trong những
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status