ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CHU THỊ VÂN ANH
BIỂU TƯỢNG NGƯỜI KHỔNG LỒ TRONG
THẦN THOẠI MỘT SỐ CƯ DÂN NÓI TIẾNG
THÁI Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hµ Néi, 2009
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN CHU THỊ VÂN ANH BIỂU TƯỢNG NGƯỜI KHỔNG LỒ
1.1. Định nghĩa và nguồn gốc của biểu tượng 14
1.1.1. Khái niệm “biểu tượng” 14
1.1.2. Nguồn gốc của biểu tượng 15
1.2. Tính chất và chức năng cơ bản của biểu tượng 23
1.2.1. Tính chất của biểu tượng 23
1.2.2. Các chức năng cơ bản của biểu tượng 27
1.3. Sự phân loại biểu tượng 31
CHƯƠNG 2: BIỂU TƯỢNG NGƯỜI KHỔNG LỒ TRONG KHO TÀNG
THẦN THOẠI MỘT SỐ TỘC NGƯỜI NÓI TIẾNG THÁI Ở VIỆT NAM 46
2.1. Khái quát về một số cư dân nói tiếng Thái ở Việt Nam 46
2.1.1. Địa bàn cư trú 46
2.1.2. Lịch sử hình thành các tộc người nói tiếng Thái ở Việt Nam 47
2.1.3. Một số đặc điểm kinh tế, văn hoá, xã hội truyền thống 50
2.2. Biểu tượng người khổng lồ trong văn học dân gian cư dân nói tiếng Thái và
một số dân tộc anh em 54
2.2.1. Thần thoại và biểu tượng người khổng lồ 54
2
2.2.2. Người khổng lồ trong thần thoại các tộc người nói tiếng Thái 57
2.2.3. Hình tượng người khổng lồ trong truyện kể một số tộc người anh em….62
2.3. Ý nghĩa của biểu tượng người khổng lồ 73
2.3.1. Thể hiện khát vọng chinh phục và sống hoà đồng với tự nhiên của con
người trong buổi đầu của lịch sử 73
2.3.2. Đề cao vai trò của lao động sáng tạo 76
2.3.3. Khẳng định sức mạnh của cư dân trồng lúa nước 79
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA BIỂU TƯỢNG NGƯỜI KHỔNG LỒ
TRONG KHO TÀNG THẦN THOẠI MỘT SỐ TỘC NGƯỜI NÓI TIẾNG
THÁI Ở VIỆT NAM 85
3.1. Giá trị lịch sử của biểu tượng người khổng lồ trong thần thoại 85
3.1.1. Thần thoại - một nguồn sử liệu về lịch sử phát triển của tộc người 85
Chính vì vậy, ý thức về vai trò của bản thân, cụ thể ở đây là của lao động,
trong thế giới tự nhiên đã được người nguyên thuỷ nhận thức rõ nét. Với lòng
tự hào về khả năng lao động, người xưa đã mạnh dạn đặt khả năng lao động
của con người sánh ngang với sự sáng tạo của tự nhiên.
Lúc này, trong tư duy của người nguyên thuỷ, tự nhiên không còn là
một lực lượng quá xa lạ đối với họ. Tuy vẫn còn e sợ trước sức mạnh vô song
của tự nhiên nhưng người xưa cũng phần nào gắn kết những sức mạnh ấy với
sức lao động, với khả năng sáng tạo của con người. Từ đó họ đi đến sự thần
thánh hoá khả năng lao động của con người, coi đó là cội nguồn sáng tạo nên
tự nhiên. Họ mong muốn tác động đến tự nhiên theo hướng có lợi cho cuộc
sống của mình, thông qua vai trò của những vị thần khổng lồ trong thần thoại
- một loại hình văn học dân gian ra đời vào giai đoạn sớm của lịch sử nhân
loại, khi con người đứng trước sự tan rã của chế ‘độ công xã nguyên thuỷ và
manh nha hình thành xã hội có giai cấp.
4
Biểu tượng người khổng lồ và nhiều biểu tượng khác liên quan đến sức
mạnh của con người đã được thần thánh hoá và sinh ra từ những quan niệm
đó. Đồng thời, biểu tượng người khổng lồ cũng là ước mơ, mong muốn của
con người có thể sống chan hoà với thế giới tự nhiên đầy trắc trở. Chỉ có sức
mạnh người khổng lồ mới mong đạt được những ước muốn đó. Những biểu
tượng đó đã trở thành nơi hội tụ ước mơ, hy vọng và niềm tin của con người
trước các lực lượng tự nhiên hùng vĩ. Vì vậy, tìm hiểu, nghiên cứu về các biểu
tượng chính là tìm hiểu, nghiên cứu về những ước mơ, hy vọng đó của con
người trong một thời kỳ lịch sử nhất định.
Nghiên cứu về thần thoại của các dân tộc ở Việt Nam cũng như trên
Thế giới là một đề tài khá phổ biến, đặc biệt trong văn học và văn hoá. Tuy
nhiên, dưới góc độ Nhân học, nghiên cứu về một biểu tượng phổ biến trong
thần thoại, biểu trưng cho sức mạnh sáng tạo và khả năng lao động của người
xưa như biểu tượng người khổng lồ lại là một đề tài mới mẻ. Tuy vấn đề này
gắn kết chặt chẽ với sự phát triển tư duy, nhận thức xã hội và thế giới quan, là
nghiên cứu nền tảng tinh thần của các dân tộc. Mỗi lý thuyết đều có cách tiếp
cận riêng, nhưng đều có xu hướng coi biểu tượng là những yếu tố văn hoá gắn
liền với thần thoại, các truyền thuyết tôn giáo và các nghi lễ truyền thống.
Một số tác phẩm tiêu biểu nghiên cứu về Biểu tượng trên Thế giới và
Việt Nam như sau:
2.1. Trên Thế giới:
Từ lâu, Biểu tượng đã thu hút được sự chú ý nghiên cứu của nhiều nhà
khoa học nổi tiếng, và là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội
và nhân văn khác nhau như: Triết học, mỹ học, dân tộc học, nhân học văn
hoá, xã hội học, văn hoá học…Trong tiếng Hy Lạp, biểu tượng có nghĩa
tương hợp với từ Sumbolum, tức là dấu hiệu để nhận ra nhau. Mà từ
6
sumbolum cũng là gốc của các từ symbole (tiếng Pháp), symbol (tiếng Anh)
hay symbol (tiếng Đức). Đây là đối tượng được nhiều ngành khoa học quan
tâm theo cách riêng của mình. Như vậy, có thể nói, nghĩa đầu tiên của biểu
tượng được xác định bằng chính lý do ra đời của nó: “biểu tượng là dấu hiệu
được phô bày ra bên ngoài để nhận biết sự sở thuộc cộng đồng” [73, tr38].
Với tư cách là đối tượng nghiên cứu của Triết học, phải kể đến tác
phẩm “Triết học các hình thái biểu tượng” [4] của nhà triết học Đức Ernst
Cassirer. Trong mỹ học, tác phẩm “Mỹ học” [30] của Heghen được coi là tiêu
biểu, trong đó biểu tượng được coi là một trong những thành tố quan trọng tạo
nên những giá trị thẩm mỹ của các xã hội tiền giai cấp.
Biểu tượng còn được tập hợp lại để xây dựng thành từ điển, tiêu biểu là công
trình “Từ điển biểu tượng văn hoá Thế giới” [5] của hai tác giả Jean Chevalier và
Alain Gheerbrant đã nêu những nét khái quát về thuật ngữ “biểu tượng”, cũng như
nguyên nhân ra đời, nội dung và những đặc trưng của biểu tượng.
Cùng với đó còn có tác phẩm “Dấu hiệu, biểu trưng và thần thoại” của
Lue Benoist[1] như một bản tóm tắt về những vấn đề của biểu tượng và bước
Về vấn đề xác định lý thuyết biểu tượng, phải kể đến luận án tiến sỹ
của Nguyễn Văn Hậu [27] và Bùi Thị Thanh Mai [57]. Hai luận án trên bên
cạnh việc đưa ra những nét khái quát nhất trong lý thuyết về biểu tượng còn
áp dụng vào thực tiễn nhằm giải mã một hiện tượng biểu tượng cụ thể. Trong
đó, cơ bản nhất là luận án của Nguyễn Văn Hậu. Dưới góc độ triết học và văn
hoá học, tác giả đã đưa ra những kiến giải khá đầy đủ về lý thuyết biểu tượng.
Điều này rất có ích cho nghiên cứu của chúng tôi do đặc thù đối tượng nghiên
cứu khá gần nhau. Do vậy, trong luận văn này, chúng tôi cũng đã trích dẫn
một số quan điểm cũng như kết quả nghiên cứu của tác giả.
8
Nếu như các công trình trên chủ yếu tập trung giải thích biểu tượng ở
mặt lý thuyết thì những tác phẩm sau lại nhằm “giải mã” những biểu tượng cụ
thể. Như công trình “Nguồn gốc và sự phát triển của biểu tượng, kiến trúc và
ngôn ngữ Đông Sơn” của Tạ Đức [17], “Biểu tượng rồng, văn hoá và những
câu chuyện” của Nam Việt [105]. Các tác giả đã không chỉ dừng lại ở việc làm
rõ khung lý thuyết của biểu tượng mà còn áp dụng nó vào một đối tượng cụ
thể. Tuy khía cạnh tiếp cận cũng như phương pháp giải mã biểu tượng có
khác nhau nhưng đây được coi là những công trình đầu tiên nghiên cứu toàn
diện về một “biểu tượng” cụ thể trong văn hoá cũng như trong kiến trúc
truyền thống của Việt Nam.
Ngoài ra, trên các tạp chí chuyên ngành cũng xuất hiện nhiều bài viết
về biểu tượng như của tác giả Phan Đăng Nhật [59], Nguyễn Khắc Xương
[108], Tạ Đức [18], Nguyễn Văn Hậu [26], Mai Văn Hai [24], Trang Thanh Hiền
[28], Nguyễn Ngọc Mai [58], Vũ Trường Giang [21], Bùi Thị Hoa [31], Bùi
Xuân Tiệp [79], Nguyễn Kim Hoa [32], Huỳnh Ngọc Trảng [81], Hoàng Lương
[55]…Các tác giả đã tập trung nghiên cứu những biểu tượng cụ thể trong văn
hoá các tộc người nhằm bước đầu giải mã chúng. Tuy chưa phải là những
chuyên luận sâu, tiếp cận đầy đủ những khía cạnh của biểu tượng nhưng
những bài báo trên cũng góp phần làm rõ hơn những lý thuyết về nghiên cứu
những chương mục cụ thể. Trong luận văn này, trên cơ sở kế thừa những nhận
định của các tác giả kể trên, chúng tôi cố gắng tập trung, khái quát hoá nhằm
bước đầu tiếp cận và giải mã biểu tượng người khổng lồ một cách có hệ thống
trên cơ sở đối chiếu, so sánh với thần thoại của các tộc người khác về một đề
tài chung. Do vậy mà những tài liệu về văn học cổ các tộc người là nguồn
khảo cứu chính để chúng tôi thực hiện đề tài này.
10
Với ý nghĩa là một nguồn tài liệu quan trọng về xã hội con người thời
sơ sử, thần thoại các tộc người nói tiếng Thái nói riêng và các tộc người khác
nói chung luôn là bức tranh phản ánh trung thực về thực tế đời sống con
người. Trong đó hình ảnh những người khổng lồ - những vị anh hùng thời kỳ
dựng nước đã trở thành hình ảnh đại diện cho sức mạnh, trí tuệ của cả cộng
đồng. Thông qua hình ảnh những vị thần “đầu đội trời, chân đạp đất, san núi,
bạt sông”, con người thể hiện ước vọng chinh phục tự nhiên bằng chính sức
lao động và tinh thần cố kết cộng đồng trong buổi đầu lịch sử. Thần thoại
không chỉ là hiện thực xã hội con người thời sơ sử, mà nó còn khẳng định sức
mạnh của con người trước tự nhiên. Con người không chỉ còn là khách thể thụ
động trước những tác động của tự nhiên mà họ đã chủ động tác động trở lại
đối với thiên nhiên, buộc thiên nhiên phải phục vụ cho lợi ích của mình. Biểu
tượng người khổng lồ trong thần thoại các tộc người cũng chính là để chuyển
tải những khát vọng đó.
3. Mục đích nghiên cứu
Trong nghiên cứu Dân tộc học – Nhân học ở Việt Nam và trên thế giới
hiện nay chưa có được một lý thuyết chung về nghiên cứu biểu tượng. Các tác
giả, tuỳ thuộc theo nội dung cũng như đối tượng nghiên cứu cụ thể mà đưa ra
những lý thuyết nghiên cứu riêng của mình.
Với đề tài “Biểu tượng người khổng lồ trong thần thoại một số cư dân
nói tiếng Thái ở Việt Nam”, mục đích của luận văn là:
Thứ nhất: sưu tầm và hệ thống kho tàng thần thoại của một số dân tộc
của các dân tộc nói tiếng Thái, mà còn mở rộng, so sánh, đối chiếu với thần
thoại về người khổng lồ của một số dân tộc khác trong nước và thần thoại các
nước khác trên thế giới thông qua các công trình sưu tầm, biên soạn về văn
học dân gian của các dân tộc ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
12
5. Phương pháp nghiên cứu
Do chưa có nhiều kinh nghiệm trước một đề tài mới mẻ, nên để giải
quyết những yêu cầu của luận văn, chúng tôi sẽ sử dụng các phương pháp
nghiên cứu sau:
- Tổng hợp và khái quát về lý thuyết biểu tượng của một số tác giả nước ngoài
và Việt Nam. Từ đó áp dụng vào giải quyết những vấn đề cụ thể của luận văn
là “Biểu tượng người khổng lồ trong thần thoại một số cư dân nói tiếng Thái
ở Việt Nam”.
- Thu thập và tổng hợp về biểu tượng người khổng lồ trong một số cư dân nói
tiếng Thái và các tộc người khác ở Việt Nam cũng như trên thế giới thông qua
những công trình sưu tầm, biên soạn về văn học dân gian sẵn có.
- Do đặc thù của đối tượng nghiên cứu, những tài liệu thu thập được chủ yếu
là những tư liệu gián tiếp nên phải có sự phê phán khách quan, phân tích định
tính, đối chiếu, so sánh giữa các dị bản trong khi sử dụng.
- Phương pháp đối chiếu, so sánh với biểu tượng người khổng lồ ở các tộc người
khác (cả trong nước và thế giới) cũng sẽ được sử dụng một các tích cực.
6. Đóng góp của luận văn
- Khai thác một đối tượng nghiên cứu mới dưới góc độ Nhân học của cư dân
nói tiếng Thái cũng như loài người về tiến trình phát triển ở thời kỳ sơ sử của
nhân loại.
- Coi biểu tượng như là một “phương tiện tiếp cận đối với con người trong xã
hội nguyên thuỷ”. Từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn về tiến trình lịch sử của các
tộc người.
- Gợi ra một cách tiếp cận mới nhằm giải mã những biểu tượng nói chung, về
14
CHƯƠNG 1
KHÁI NIỆM CHUNG VỀ BIỂU TƯỢNG
1.1. Định nghĩa và nguồn gốc của biểu tượng
1.1.1. Khái niệm “biểu tượng”
Biểu tượng là một loại “ký hiệu” cổ xưa, ra đời trong buổi bình minh
của lịch sử nhân loại. Biểu tượng được xem như là “vật thay thế” của tư duy
trong tiến trình phát triển nhận thức của con người. Hơn nữa, biểu tượng còn
là con đẻ của sự liên tưởng và sự tưởng tượng, nó giúp cho người ta khám phá
và nhận thức ra một thế giới đầy ý nghĩa, phong phú và đa dạng, nhằm truyền
đạt những thông tin và khơi dậy những cảm xúc thường có trong “đời sống
tâm lý” của con người.
Ngày nay, vai trò của biểu tượng trong hoạt động xã hội của con người
đã được quan tâm và nghiên cứu một cách sâu sắc với tinh thần khoa học. Trí
tưởng tượng không còn bị xem nhẹ như trước đây mà nó đã được xác định lại
vị trí và được coi là “mặt thứ hai của lý trí”. Không những vậy, biểu tượng còn
là nguồn cảm hứng cho các tìm tòi khám phá. Điều đó đã được khẳng định là
do phần lớn những hư cấu viễn tưởng có giá trị tiên báo mà khoa học đã từng
bước xác minh. Chính vì vậy, hiện nay biểu tượng đang ngày được quan tâm.
Vấn đề “giải mã” biểu tượng đang được nhiều ngành hướng tới như tâm lý học,
xã hội học, triết học, văn hoá học, Dân tộc học, Nhân học văn hoá…
Vậy, “biểu tượng” (symbol) là gì?
Thuật ngữ “Biểu tượng” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: “Sumbolum” là
dấu hiệu, có nghĩa tương ứng với các từ: ký hiệu (sign), hoặc tín hiệu (signal).
Cũng có thuyết cho rằng, chữ Symbol bắt nguồn từ động từ Hy Lạp
“Symballo” có nghĩa là: “ném vào vị trí”, “liên kết”, “suy nghĩ về”, “thoả
thuận”, “ước hẹn”…
16
Trong buổi bình minh của lịch sử đó, những cuộc cách mạng về trí năng, về
sự sáng tạo ra các công cụ sản xuất cũng lần lượt xuất hiện cùng với sự ra đời
của ngôn ngữ. Điều đó đã thúc đẩy nhanh chóng quá trình sống kiểu quần thể
bầy bàn - vượn người lên đời sống xã hội của loài người. Con người đã vượt
lên bản chất động vật của chính mình để trở thành “con người xã hội”.
Nhờ có hoạt động ngôn ngữ, loài người có thể giao tiếp với nhau và
truyền thông cho nhau những kinh nghiệm đã được đúc kết trong lao động,
trong chiến đấu cũng như trong hoạt động trí tuệ. Trong xã hội nguyên thuỷ,
chính nhờ vào hoạt động trí tuệ này mà sức mạnh của nhóm, của cộng đồng
và từng cá nhân sống trong cộng đồng đó ngày càng tăng lên gấp bội. Đó là
cơ sở đảm bảo cho sự thắng lợi của con người trong đấu tranh sinh tồn và
trong lao động chinh phục tự nhiên.
Tuy nhiên, ở thưở bình minh lịch sử ấy, trước khi có chữ viết ra đời, hoạt
động lời nói của con người còn bị hạn chế và bị bó hẹp trong không gian và thời
gian hữu hạn. Do vậy, ngoài lời nói ra, họ còn dùng những phương tiện ngoài
ngôn ngữ, đó là những “ngôn ngữ không lời” bao gồm: hình vẽ, tranh khắc, điệu
bộ, cử chỉ, dấu hiệu và các ký hiệu đơn giản hoặc phức tạp khác.
Ngay từ thời nguyên thuỷ, khi mà tiếng nói còn rất nghèo nàn thì điệu
bộ, cử chỉ, nét mặt của con người đã có vai trò rất lớn trong quá trình giao tiếp
giữa con người với nhau, nhất là trong hoàn cảnh khi mà tiếng nói chưa định
hình đầy đủ và ở trong điều kiện có sự khác biệt về ngôn ngữ. Chúng là
những dạng thức nguyên mẫu được sao chép từ trong cuộc sống thực tế, đã
được “cách điệu hoá” cao, gần như là những “ký hiệu nghệ thuật”, để sử dụng
trong mọi sinh hoạt của người nguyên thuỷ với mục đích tạo ra những “tín
hiệu thông tin” trong hoạt động giao tiếp của họ.
Có thể đọc ra một số “danh từ” của thứ “ngôn ngữ đặc biệt” nằm trong
trang từ điển những “ký hiệu hình ảnh” của người tiền sử:
17
Việc thông tin trực tiếp tại chỗ như muốn thông báo: chỗ này là khu
vực nguy hiểm, chỗ kia là nơi có thú dữ, chỗ khác là bãi săn thú tốt, có thể săn
bắn được. Thay vì phải thông báo chỉ dẫn trực tiếp thì họ dùng vật thực để
làm “vật thay thế” cho ngôn từ, như: hình ảnh một chiếc đầu lâu treo trên bìa
rừng, xác một con rắn đặt trên tảng đá ven đường hoặc một cái sừng hươu gác
bên bờ suối nào đó sẽ có giá trị như là một “ký hiệu” khuyến cáo, nhắc nhở
mọi người trong cộng đồng biết được nơi nào có nhiều thú dữ, rắn độc nên
tránh xa, hoặc nơi kia có nhiều hươu nai, là bãi săn lý tưởng…
Theo nhận định của Giáo sư Đặng Đức Siêu, thì “điều này vốn bắt
nguồn từ tính cụ thể trong lối tư duy của người cổ xưa mà chứng tích còn tìm
thấy trong hoạt động ngôn ngữ của họ” [27, tr31]
Theo các tư liệu Khảo cổ học và Dân tộc học, hình vẽ và dấu hiệu –
ngôn ngữ không lời, cũng đã xuất hiện ngay trong thời tiền sử, ở giai đoạn
hậu kỳ đồ đá cũ (40.000 đến 9000 năm TCN) với những tranh khắc vẽ trên
vách động. Phần lớn các nhà nghiên cứu cho đó là “ký hiệu ma thuật săn thú”,
nhưng dù sao cũng có thể gọi những người sáng tạo ra các bức bích hoạ đó là
những “nghệ sỹ”, không chỉ vì họ biết minh hoạ những con vật trong tự nhiên,
mà vì sự tinh tế và hoàn mỹ đến mức kinh ngạc của những “tác phẩm” của họ.
Bên cạnh những bức hoạ có mục đích thông báo tin tức và mang tính
chất lễ thức “ma thuật”, còn có sự xuất hiện trên các vách hang động, trên đá,
mảnh xương…nhiều nét vạch rất lạ lùng, bí ẩn. Những nét khắc vạch đó có lẽ
không phải là ngẫu nhiên bởi chúng được thể hiện khá tỉ mỉ và được lặp lại
với độ chính xác cao trong số hàng trăm hình ảnh khác nhau, theo phong cách
ước lệ hay trừu tượng mang “tính biểu tượng”.
19
Như vậy là, tất cả những điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, vật thực, hình vẽ, vật
tượng trưng và ngôn ngữ nói, nếu nhìn dưới góc độ “thông tin” thì chúng đều
là những “ký hiệu” ra đời từ rất xa xưa, cùng với sự hình thành nên “ý thức”
của loài người. Các hệ thống “ký hiệu” đó đã tồn tại và phát triển ngày càng
đúng với quy luật tự nhiên và trở thành quen thuộc đối với chúng ta. Nhưng
đối với người nguyên thuỷ thì hoàn toàn ngược lại. Họ tin vào sự tồn tại của
cái “siêu tự nhiên” theo lối “tư duy nguyên thuỷ” (huyền thoại) bằng những lý
lẽ riêng của họ. Người nguyên thuỷ đã hình dung như sau:
Theo thần thoại Hy Lạp, “vũ trụ được sinh ra từ một vực thẳm bao la,
trống rỗng và không hình thù, một vùng hỗn độn miên man và tối tăm. Đó là cõi
Hỗn mang (Chaos), nguồn gốc của vạn vật. Từ nơi này sinh ra tất cả mọi dạng
thể của vũ trụ cổ đại: thần linh, quái vật, mặt đất và con người” [88, tr 18].
Những giải thích theo lối “tư duy nguyên thuỷ” ấy cho dù hỗn độn và
bất thuần lý đến đâu đi chăng nữa, cũng biểu hiện kiểu nắm bắt thế giới của
người nguyên thuỷ bằng lối tư duy thuần phác, chân thật và nguyên sơ theo
dạng thức sơ khai của loại hình “biểu tượng sơ khai”.
Qua nhận định trên, ta có thể nhận ra sự khác nhau giữa hai hình thức
tư duy. Nếu như hình thức “tư duy khoa học” mang tính nhân quả, tính kinh
nghiệm, chủ yếu tạo nên mối liên hệ đơn nghĩa giữa một số “nguyên nhân”
với một số “kết quả”, thì “tư duy nguyên thuỷ” lại có sự lựa chọn hoàn toàn tự
do về nguyên nhân. Với cách tư duy này, mọi cái có thể sinh thành từ tất cả,
đồng thời cũng có thể có những liên hệ với tất cả, trong mọi chiều không gian
và thời gian. Như vậy, nếu như tư duy khoa học chú trọng đến các “quy tắc”
một cách logic, thì tư duy nguyên thuỷ chỉ đề cập đến sự biến hình đơn giản,
21
mang tính đột biến, ngẫu nhiên của một sự vật cụ thể, cá biệt để trở thành một
sự vật khác mà không theo một quy tắc nào cả.
Nhà dân tộc học người Pháp Lucien Lévy Bruhl trong tác phẩm “Kinh
nghiệm thần bí và các biểu tượng ở người nguyên thuỷ” cũng cho rằng, thực
tiễn mà người nguyên thuỷ sống và hoạt động có hai mặt. Một mặt bao gồm
những sự vật hiện tượng có trong thế giới hiện thực có thể trông thấy, nắm bắt
và nhận thức được (thế giới hữu hình). Còn một mặt khác lại không nhìn thấy
và nắm bắt được. Họ quan tâm nhiều ở mặt thứ hai, bởi mặt này luôn bí ẩn, khó
“cảm nhận” hơn là hình dung ra chúng theo nhận thức lý tính. Ở đây có sự
tham dự hết sức thân thiết giữa hai yếu tố với nhau, bởi nếu cái gì tác động
đến cái này thì nó cũng tác động đến cái kia theo cùng một cách thức. Họ cho
như thế là phù hợp, bởi hai thực thể đó có sự “đồng chất” với nhau.
Qua phân tích trên đây, có thể nói rằng, những “biểu tượng sơ khai” đã
ra đời từ thời công xã thị tộc – thửơ cội nguồn của lịch sử loài người. Nó
không dựa trên mối quan hệ, nắm bắt được hoặc xác lập bởi trí óc, giữa “biểu
tượng” và cái mà nó biểu hiện, mà dựa trên sự “tham gia” và thường dẫn đến
sự “đồng chất” giữa các yếu tố. Các biểu tượng ở thời kỳ này được người
nguyên thuỷ cảm nhận theo một cách hết sức đặc biệt – “ma thuật giao cảm
tính” (Magic sympathique) với mọi sự biểu hiện của các đối tượng ở đây đều
có thật, nghĩa là làm cho nó như là “hiện đang có mặt”. Từ cách tư duy
nguyên thuỷ như vậy đã dẫn đến những hành động “cảm ứng ma thuật” tác
động lên các “biểu tượng sơ khai”. Người tiền sử tin rằng, nếu tác động lên
biểu tượng của một người hay một vật cũng có nghĩa là tác động lên chính
bản thân người hay vật đó. Do dựa vào niềm tin vững chắc này, mà đã có
23
nhiều hình thức phù thuỷ - “ma thuật” ra đời và phổ biến rộng rãi trong đời
sống của các thị tộc nguyên thuỷ lúc bấy giờ.
Tóm lại, quan niệm về biểu tượng đối với người nguyên thuỷ có ý
nghĩa khác hẳn đối với chúng ta. Một cách khái quát nhất, theo quan niệm
hiện đại, biểu tượng trước hết bao hàm mối quan hệ nắm bắt được hay xác lập
bởi trí tuệ. Ở người nguyên thuỷ, biểu tượng tham gia thực sự vào một đối
tượng cụ thể. Nó không biểu hiện mối tương quan, ít nhất là ngay từ thưở cội
nguồn, khi nó vừa mới xuất hiện và thường luôn dẫn đến sự “đồng chất”.
Vấn đề chủ yếu chính là, hệ thống các “biểu tượng sơ khai” đã thực
hiện được vai trò của nó là một loại công cụ tinh thần của tư duy, nhằm giúp
cho nhận thức của người nguyên thuỷ ngày một phát triển ở trình độ cao hơn.
Chính quá trình này đã tách con người ra khỏi đời sống động vật để trở thành