1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_______***______
NGUYỄN KIM LÊ VĂN HOÁ THÁI VỚI HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
Ở MƯỜNG LÒ (NGHĨA LỘ), YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI – 2012
5
MỤC LỤC
Trang
Mục lục
Bảng danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng biểu
Mở đầu 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 4
3.1 Cơ sở lý thuyết 4
3.2 Phương pháp nghiên cứu 5
4. Mục đích nghiên cứu 6
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5.1 Đối tượng nghiên cứu 7
5.2 Phạm vi nghiên cứu 7
6. Nguồn tài liệu sử dụng trong luận văn 8
7. Đóng góp của luận văn 8
8. Kết cấu của luận văn 8
Chương 1. Tổng quan về văn hoá tộc người với hoạt động du lịch ở Yên Bái 10
1.1. Phân vùng văn hoá tộc người với hoạt động du lịch ở Yên Bái 10
3.1 Ngôn ngữ, chữ viết 76
3.2 Lễ tết 77
3.2.1 Tết nguyên đán 77
3.2.2 Lễ hội “xên mường” (cúng mường) 79
3.2.3 Lễ hội “xên bản” (cúng bản) 81
3.2.4 Sàn diễn “hạn khuống” 82
3.2.5 Lễ hội “lồng tồng” (xuống đồng) 85
3.2.6 Lễ hội hoa ban 86
3.2.7 Lễ “xên đông” (cúng rừng) 88
3.2.8 Tết “xíp xí” (14/7 âm lịch) 89
3.3 Tôn giáo – tín ngưỡng 91
3.4 Dân ca, dân vũ, dân nhạc 95
3.4.1 Dân ca 96
3.4.2 Dân vũ 97
3.4.3 Nhạc cụ dân gian 102
7
3.5 Các trò chơi dân gian 105
3.5.1 Ném còn 105
3.5.2 “Tó mắc lẹ” (chọi quả lẹ) 108
3.5.3 Chơi đu 110
3.6 Văn học dân gian 111
3.7 Y học dân gian 112
Tiểu kết chương 3 115
Chương 4. Tác động của hoạt động du lịch đối với các giá trị
văn hoá Thái ở Mường Lò 116
4.1 Những tác động tích cực 117
4.2 Những tác động tiêu cực 123
4.3 Một số giải pháp khắc phục 130
Tiểu kết chương 4 133
Kết luận 134
LĐ - XH: Lao động xã hội
NXB: Nhà xuất bản
UBND: Uỷ ban nhân dân
VH: Văn hoá
VHDT: Văn hoá dân tộc
VHTT: Văn hoá thông tin
VHTT & DL: Văn hoá, thể thao và du lịch
9
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Số lượng khách du lịch và doanh thu qua các năm của tỉnh Yên Bái
(trang 24).
Bảng 2: Bảng thống kê thu nhập từ một số ngành nghề kinh doanh phục vụ du
lịch ở Mường Lò, năm 2009 (trang 119).
Bảng 3: Bảng thống kê đối tượng nghiên hút, trộm cắp tài sản ở thị xã Nghĩa
Lộ (Từ năm 2004 đến năm 2010), (trang 124).
10
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, nhu cầu
hưởng thụ của con người cũng không ngừng được nâng cao, trong đó nhu cầu về du
(chủ yếu là nhóm Thái Đen); ngoài ra là các tộc Kinh, Tày, Mường, …Nơi đây, được
biết đến là một vùng văn hóa dân gian đặc sắc của nhiều tộc người, đặc biệt là văn hóa
Thái. Có lẽ, ít có nơi nào văn hóa Thái còn giữ được nhiều nét truyền thống như
Mường Lò, từ nếp nhà sàn với biểu tượng “khau cút” đến nghề dệt thổ cẩm cùng trang
phục, phong cách ẩm thực, các lễ hội độc đáo; những điệu “khắp” trữ tình, những điệu
khèn, pí da diết; những vòng xòe cùng nhiều thiên truyện thơ nổi tiếng. Tất cả những
viên ngọc quý đó đã và đang được bảo tồn, phục vụ hoạt động du lịch bằng chính bản sắc
văn hóa tộc người.
Với ý nghĩa như vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Văn hóa Thái với hoạt
động du lịch ở Mường Lò (Nghĩa Lộ), Yên Bái” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.
Văn hóa Thái ở Mường Lò đã được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước để
tâm từ lâu nhưng đó chỉ là cái nhìn chung trong tổng thể văn hóa Thái ở Tây Bắc và ở
Việt Nam. Có lẽ, những tác phẩm đầu tiên nhắc đến người Thái ở vùng Văn Chấn,
Nghĩa Lộ sớm nhất và khái quát nhất có thể kể đến như: “Kiến văn tiểu lục” của Lê
Quý Đôn (viết năm 1777); “Hưng hóa ký lược” của Phạm Thật Duật (viết năm 1856);
“Hưng Hóa xứ phong thổ lục” của Hoàng Bình Chính (viết năm 1778) hay “Hưng
Hóa dư địa chí” của một sử gia thời Nguyễn. Trong những tác phẩm này, các tác giả
viết về nhiều vùng, nhiều tộc người khác nhau trên đất Hưng Hoá (trong đó có vùng
Mường Lò, Yên Bái hiện nay). Các tác giả có đề cập đến việc ở vùng này có tộc người
Thái (với hai ngành Thái đen và Thái trắng) và điểm sơ qua một số phong tục tập quán
mà họ nhận thấy trong quá trình điền dã chứ chưa đi vào nghiên cứu một vấn đề cụ thể
nào trong xã hội tộc người đó.
Vào những năm cuối của thế kỷ XX, một số nhà dân tộc Việt Nam tập trung
nghiên cứu về người Thái vùng Tây Bắc nói chung, trong đó có người Thái vùng lòng
chảo Mường Lò. Một số tác phẩm có thể đến là: cuốn “Tư liệu về lịch sử và xã hội dân
tộc Thái” do Đặng Nghiêm Vạn (cb) của NXB KHXH, H, 1977 hay tác giả Cầm
Trọng với những cuốn “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam”, NXB KHXH, H, 1978
hoặc “Mấy vấn đề về lịch sử kinh tế - xã hội cổ đại của người Thái Tây Bắc Việt Nam”,
NXB KHXH, H, 1987; “Những hiểu biết về người Thái ở Việt Nam”, NXB CTQG, H.
biệt chú ý đến văn hóa Thái ở Mường Lò. Ngành VHTT và DL tỉnh Yên Bái cũng đã
có nhiều chương trình nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Thái như việc khôi
phục 6 điệu xòe cổ, mở các lớp học chữ Thái, khôi phục sàn diễn dân gian “hạn
13
khuống”, tổ chức “xên mường”, “xên bản”, các trò chơi dân gian như “tó măk lẹ”, chơi
đu, … tiến hành quay phim, chụp ảnh nhằm bảo tồn các lễ hội truyền thống, các phong
tục tập quán tốt đẹp của đồng bào.
Trên các báo, tạp chí trung ương và địa phương cũng có những bài viết, giới
thiệu về văn hóa Thái vùng Mường Lò. Những năm gần đây, việc xuất bản những ấn
phẩm quảng bá về văn hóa Thái vùng Mường Lò đã bắt đầu được chú ý nhằm phục vụ
cho hoạt động du lịch như: Tuần văn hoá Mường Lò, chương trình “Du lịch về cội
nguồn”, …
Tuy là thế, nhưng văn hóa Thái Mường Lò cần một cái nhìn toàn diện hơn, hệ
thống hơn. Đặc biệt trong điều kiện hiện nay, khi du lịch văn hóa đã và đang trở thành
một món ăn tinh thần không thể thiếu của nhiều du khách không chỉ ở Việt Nam mà cả
quốc tế các giá trị văn hóa nơi đây càng phải được xem xét cụ thể, đúng đắn để có kế
hoạch khai thác phục vụ phát triển du lịch một cách khoa học và bền vững. Làm sao để
vừa khai thác được các giá trị văn hóa phục vụ du lịch, nâng cao đời sống kinh tế tộc
người vừa lấy du lịch làm hoạt động góp phần bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
truyền thống của tộc người một cách hữu hiệu nhất.
3. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu.
3.1. Cơ sở lý thuyết.
Du lịch là một ngành kinh tế còn mới đối với Việt Nam, du lịch văn hóa lại là
một yếu tố mới hơn nữa, nó mới chỉ được khai thác trong những năm gần đây. Văn
hóa và du lịch có mối quan hệ chặt chẽ và tác động chi phối lẫn nhau, đó là việc bảo
tồn các giá trị văn hóa nói chung và đưa các giá trị văn hóa vào khai thác phục vụ phát
triển du lịch như thế nào để đạt hiệu quả nhất? Đồng thời, du lịch đã tác động trở lại
với văn hóa ra sao? Đó là các vấn đề đặt ra mà các nhà nghiên cứu văn hóa phục vụ du
lịch đang quan tâm. Trong đề tài luận văn của mình, chúng tôi đã sử dụng một số lý
thuyết để nhìn nhận và lý giải một số vấn đề xuất hiện trong quá trình nghiên cứu, có
Hoặc có thể vận dụng thuyết khuếch tán văn hóa của Ruth Benedict để giải
thích những vấn đề như: ảnh hưởng của văn học các tộc người Mường, Khơ Mú đến
văn học tộc người Thái ở Mường Lò.
Hay theo lý thuyết hậu hiện đại luận, có thể nhìn nhận khá nhiều vấn đề trong
việc thay đổi dần các yếu tố truyền thống không còn phù hợp để phục vụ cho hoạt
động du lịch trong điều kiện mới như: việc chuyển hệ thống chuồng trại ra khỏi gầm
nhà sàn, thay đổi kết kết cấu mái lợp nhà sàn, các lễ hội được mở rộng mang tính chất
quảng bá nhiều hơn.
15
Tất cả những lý thuyết này đều được vận dụng để giải thích cho các trường hợp
cụ thể xuất hiện trong luận văn.
3.2. Phương pháp nghiên cứu.
Để hoàn thành được luận văn này, chúng tôi đã sử dụng nhiều phương pháp
nghiên cứu, trong đó điển hình là:
Kết hợp giữa thu thập tài liệu định lượng và phân tích định tính. Chúng tôi áp
dụng các phương pháp này trong việc: thiết lập công cụ điều tra để thu thập về các giá
trị văn hóa Thái ở Mường Lò và việc sử dụng các giá trị văn hóa này hiện nay như thế
nào để phục vụ du lịch? Tình hình khai thác các dịch vụ phát triển du lịch tác động đến
kinh tế, văn hóa như thế nào ở vùng Mường Lò trong vài năm gần đây, kết hợp với
việc tìm kiếm các số liệu thống kê và báo cáo điều tra từ các nguồn có sẵn; quan sát
trực tiếp, phỏng vấn sâu, đặc biệt là các cuộc phỏng vấn mở trên địa bàn nghiên cứu,
coi trọng tiếng nói của người trong cuộc.
Phương pháp nghiên cứu điền dã và quan sát tham gia được đặc biệt chú ý để
hiểu về vai trò của các giá trị văn hóa đối với tộc người, họ ứng xử với văn hóa đó như
thế nào? Những tri thức văn hóa và hiện vật văn hóa của họ là gì? Ý nghĩa của nó ra
sao? Họ muốn khai thác để phục vụ du lịch dưới góc độ và mức độ nào?, …Tất cả
những vấn đề trên phải có thực địa, phải quan sát và phỏng vấn cư dân bản địa để có
câu trả lời thiết thực.
Phương pháp lịch sử - so sánh cũng được chúng tôi chú trọng khi nghiên cứu về
sự vận động của tộc người trong cái chung của các tộc người khác ở vùng Mường Lò,
hành chính) hiện nay và mở rộng ra toàn vùng văn hoá Mường Lò trước kia
2
. Đây là
địa bàn tập trung số lượng tộc người Thái đông nhất trong tỉnh, đồng thời đồng bào
cũng giữ được các giá trị văn hóa tộc người đậm nét nhất. Tỉnh Yên Bái cũng chọn đây
là địa bàn trọng tâm để phát triển loại hình du lịch văn hóa tộc người, mà điển hình là
tộc người Thái. Khi xem xét các giá trị văn hóa nói chung để phục vụ cho du lịch
chúng tôi nhìn nhận trên địa bàn toàn vùng song với một số phân tích cụ thể chúng tôi
chọn những địa bàn nhỏ, điển hình ở các phường, xã để phân tích.
Ngoài ra, trong luận văn còn mở rộng địa bàn nghiên cứu tới các xã khác của
huyện Văn Chấn và các huyện Mù Cang Chải, Trạm Tấu để tham khảo và so sánh.
1
N.N. Trêbôcxarôp và I.N. Trêbôxarôva, “Văn hóa là gì?”, TC Dân tộc học, số 3/1975
2
Theo Cầm Trọng trong tác phẩm “Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam” thì Mường Lò xưa gồm ba mường trung
tâm là: Mường Lò Luông, Mường Lò Cha, Mường Lò Da và các mường nhỏ xung quanh như: Mường Hồng,
Mường Hằng (nay là huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái); Mường Nặm, Mường Piu (nay là xã Thượng Bằng La,
huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái); Mường Pục, Mường Mẻng (nay là xã Đại Lịch, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái).
Cũng có ý kiến là Mường Pục, Mường Mẻng thuộc vùng Sơn Bục, Sơn Thịnh, Đồng Khê – huyện
Văn Chấn
ngày nay; Mường Min (nay là xã Gia Hội, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái); Mường Lùng (nay là xã Tú Lệ,
huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái).
17
6. Nguồn tài liệu sử dụng trong luận văn.
Trong quá trình nghiên cứu về các giá trị văn hóa Thái ở Mường Lò và việc sử
18
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA TỘC NGƯỜI VỚI
HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở YÊN BÁI
1.1. Phân vùng văn hóa với hoạt động du lịch ở Yên Bái.
Văn hóa tộc người được hiểu là tổng thể các yếu tố văn hóa mang tính đặc
trưng và đặc thù của tộc người, nó thực hiện chức năng cố kết tộc người và phân biệt
tộc người này với tộc người khác với các yếu tố như: ngôn ngữ mẹ đẻ, trang phục, các
tín ngưỡng và nghi lễ, văn hóa dân gian truyền miệng, tri thức nói chung, khẩu vị ăn
uống, tâm lý tộc người, ….
Với tỉnh Yên Bái, hoạt động du lịch chỉ mới được khởi động trong những năm
gần đây. Qua khảo sát, nghiên cứu, cho thấy Yên Bái có thể đẩy mạnh các loại hình
như du lịch văn hóa tâm linh, du lịch nghỉ dưỡng, tổ chức hội nghị, hội thảo, du lịch
sinh thái, du lịch tham quan, nghiên cứu, du lịch thể thao dưới nước. Với đặc thù của
một tỉnh miền núi nhiều tộc người thì du lịch văn hóa được xác định là thế mạnh của
địa phương.
Theo đó, toàn tỉnh có 12 tộc người có số dân tương đối đông và lưu giữ được
nhiều sắc thái văn hóa đặc trưng là: Kinh, Tày, Thái, Nùng, Mường, Hmông, Dao,
Khơ Mú, Cao Lan, Phù Lá (Xá Phó), Hoa. Trong số này, chỉ trừ người Hoa có số
lượng ít nhất và sống không tập trung nên việc khai thác văn hóa để phục vụ du lịch
không hiệu quả, còn lại 11 tộc người đều có những yếu tố văn hóa mang đặc trưng
riêng, rất phong phú và đa dạng. Hiện nay, tỉnh Yên Bái, đang tập trung khai thác và
phổ biến các giá trị văn hóa này.
Tỉnh Yên Bái đã tiến hành phân chia các vùng văn hoá và hiện đang phát triển
theo hướng khai thác các vùng văn hoá này để xác định các tour, tuyến du lịch như
Miền Tây hoa ban trắng, du xuân đất ngọc, mênh mang hồ Thác, sức sống thành phố
trẻ, hương sắc vùng cao, … Với 9 huyện, thị, thành phố, tỉnh Yên Bái được chia thành
3 vùng văn hoá, gồm: vùng văn hóa Sông Hồng, vùng văn hóa Sông Chảy và vùng văn
hóa Miền Tây. Nếu như vùng văn hóa sông Hồng (gồm thành phố Yên Bái, các huyện
Trấn Yên, Văn Yên) với văn hóa các tộc người Kinh, Dao, Phù Lá (Xá Phó) thì vùng
văn hóa sông Chảy (gồm hai huyện Yên Bình và Lục Yên) lại là nơi tụ cư của đồng
các dân tộc tỉnh Yên Bái (năm 1958), bến Âu Lâu, đền Tuần Quán, chùa Ngọc Am, …
(thành phố Yên Bái); chiến khu Vần, đình làng Dọc, khu du lịch sinh thái đầm Hậu, …
(huyện Trấn Yên); di tích chiến thắng sông Thao (năm 1949), đền Đông Cuông, đền
Nhược Sơn, khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hẩu, …(huyện Văn Yên).
20
Các giá trị văn hoá truyền thống của các tộc người ở vùng này cũng đã được
quy hoạch, khai thác trong những năm gần đây. Người Kinh trong vùng nổi tiếng với
các làng nghề truyền thống như làng miến dong (xã Giới Phiên, thành phố Yên Bái),
làng nghề tơ tằm (xã Việt Thành, huyện Trấn Yên). Văn hoá tộc người Tày ở Trấn
Yên thu hút đông đảo sự chú ý của du khách trong những dịp đầu xuân, trong hội đình
làng Dọc với những điệu xoè then, hội chơi đu, ném còn, hội yến, hội hát đối, chọi gà,
chứng kiến lễ cúng thần thành hoàng và ông tổ của 6 dòng họ khai sinh ra vùng đất
này từ thế kỷ XVIII. Tuy nhiên, văn hóa Tày nơi này không được đậm nét bằng một số
vùng khác trong tỉnh.
Lên tới huyện Văn Yên, văn hóa tộc người Dao được bảo lưu đậm đặc. Từ
những làng nghề chuyên sản xuất và chế biến quế đến những bộ trang phục, nhà cửa
truyền thống, rồi đến các nghi lễ, phong tục tập quán, các làn điệu dân ca, dân vũ, hệ
thống tri thức dân gian được đồng bào duy trì và phát huy như lễ cấp sắc, tết nhảy, tục
cưới xin, tang ma,… Nhiều làng văn hóa của tộc người Dao đã được ra mắt như làng
văn hóa Khe Ván, Khe Cam, … đều là những nơi lưu giữ những giá trị văn hoá tộc
người độc đáo. Lên cao hơn nữa, tới xã Châu Quế Thượng, du khách sẽ được tìm hiểu
những nét văn hóa đặc trưng của người Phù Lá (Xá Phó). Những thiếu nữ Phù Lá
trong những bộ trang phục truyền thống không lẫn với bất cứ tộc người nào khác.
Ngoài ra, chúng ta còn có thể tham dự lễ cưới, lễ tang, lễ lên nhà mới, lễ mừng cơm
mới, các cuộc thi hát đối đáp, thổi sáo Cúc Kẹ, khèn Ma Nhí và những điệu xoè “Xình
xi bá” vui nhộn.
Văn hóa các tộc người Tày, Dao và Phù Lá (Xá Phó) ở vùng văn hoá sông
Hồng đã và đang được khai thác phục vụ du lịch song vùng này chưa thu hút được
đông đảo khách du lịch đến tham quan và tham gia trực tiếp vào cuộc sống cộng đồng
như các vùng văn hóa khác trên địa bàn tỉnh. Nguyên nhân chính là do đặc trưng văn
kg dùng nướng, rán vàng hay nấu canh chua; cá chiên, cá trắm, cá chép, cá chạch, cá
rưng rán; cá trê kho với lá gừng; cá nheo, cá bò kho với chuối xanh; cá ngạnh nấu với
dưa chua; cá mương, cá thiểu, cá thầu dầu kho khô hoặc đem nấu canh hoa chuối, tra
mẻ ngấu; cá chép hấp bia, cá trắm om trám, cá quả ám rau cần; cá tép riu kho với quả
khế chua, giã với muối và thịt lợn băm nhỏ ăn cùng xôi nếp, hay tép kho ăn với cơm
trắng hay mọc vịt, gà trống thiến, rau dớn, khoai tím Lục Yên, hồng không hạt, cam
sành, …
Trong vùng văn hoá này, làng văn hoá thôn Ngòi Tu, xã Vũ Linh, huyện Yên
Bình được xác định là trọng điểm du lịch cộng đồng trên vùng hồ Thác Bà. Đây là nơi
1
Khu du lịch này với quy hoạch 260ha, dự kiến hoàn thành vào năm 2015.
22
sinh sống của 5 tộc người: Kinh, Tày, Nùng, Dao và Cao Lan. Trong đó, nhóm Dao
Quần Trắng và tộc người Cao Lan chiếm ưu thế. Nhận thấy du lịch là thế mạnh để
phát triển kinh tế của địa phương, nơi đây văn hóa truyền thống các tộc người được
bảo tồn và phát huy rất tốt và hiện đang là một điểm đến hấp dẫn của du khách quốc tế,
tham quan và tìm hiểu văn hóa truyền thống của tộc người.
Tại đây, dưới những làn cây xanh, gió mát, nghỉ ngơi trên những ngôi nhà sàn
đặc trưng của các tộc người, thưởng thức thứ rượu ngô ủ với men lá, các món ăn độc
đáo, nghe những làn điệu then truyền thống của tộc người Tày, tham dự các nghi lễ
theo chu kỳ đời người theo phương thức truyền thống hay tìm hiểu cuộc sống cộng
đồng người Dao qua: lễ cấp sắc, tết nhảy, các nghi lễ tang ma, cưới xin, thơ ca dân
gian, nghệ thuật múa truyền thống, … Tất cả đều thu hút được sự chú ý của những du
khách ham khám phá văn hoá tộc người. Nét nổi bật nhất của văn hoá tộc người Cao
Lan vùng sông Chảy này là kho tàng văn hoá, văn nghệ dân gian vô cùng phong phú,
đa dạng. Chỉ riêng nghệ thuật hát ví (tiếng Cao Lan gọi là “Xình ca”) đã có hơn chục
tập sách ghi lại bằng tiếng Nôm Cao Lan, người ta cùng nhau hát suốt 36 đêm liên tục.
Một số điệu múa của đồng bào được du khách rất chú ý như: múa xúc tép, múa trống
tang sành, múa chày, múa mừng cơm mới, … Ngoài ra, các nghi lễ như: cưới xin, tang
lịch ruộng bậc thang Mù Cang Chải, … Các món ăn đặc sản của địa phương, các nghi
lễ, phong tục tập quán truyền thống, các loại hình dân ca, dân vũ, dân nhạc, … của mỗi
tộc người là những yếu tố tạo nên phần hồn cho hoạt động du lịch nơi đây. Ngành du
lịch Yên Bái đã xây dựng các đề tài nghiên cứu nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị
văn hóa truyền thống của các tộc người, từ đó đẩy mạnh du lịch cộng đồng, du lịch bản
làng như: “Thực trạng và giải pháp bảo tồn văn hóa phi vật thể ở Yên Bái gắn với phát
triển kinh tế - xã hội và du lịch”, “Bảo tồn văn hóa truyền thống tộc người Hmông ở
bản Pang Cáng, xã Suối Giàng”, “Bảo tồn làng văn hoá truyền thống nhóm Thái Đen
ở bản Hốc, xã Sơn Thịnh, huyện Văn Chấn”, Từ đó, các giá trị văn hóa tộc người
được gìn giữ nhằm đẩy mạnh du lịch.
Đến với vùng văn hóa Thái (chủ yếu quanh khu vực lòng chảo Mường Lò), du
khách sẽ cảm thấy vô cùng thích thú khi tham quan những bản Thái vẫn mang vẻ
nguyên sơ, thăm những làng nghề dệt vải thổ cẩm truyền thống, đan lát (ớp, thúng,
bung, …); những khu rừng sinh thái, những làng văn hóa Xà Rèn (xã Nghĩa Lợi), Nậm
Đông (Nghĩa An) bên dòng Nậm Thia, thăm “Nặm tốc tát” (Thác nước rơi) và “Đông
quái hà” (Rừng trâu chết) – nơi linh hồn người Thái lên mường trời; đến với di tích
lịch sử Căng và Đồn Nghĩa Lộ, khu tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh, di tích thành
24
cổ Viềng Công. Đặc biệt đến với văn hóa Thái là đến với những sinh hoạt lễ hội độc
đáo như: “Xên bản xên mường”; “xên đông” - tưởng nhớ những bậc tổ tiên có công
khai phá bản mường; sinh hoạt hạn khuống - một hình thức diễn xướng sân khấu sơ
khai, nơi trai gái hát đố, hát giao duyên; những điệu “khắp” (hát, ngân) trữ tình; những
điệu khèn, pí da diết hay những vòng xòe nồng say; hòa mình trong tục gõ sạp của
đồng bào Thái. Dự hội “Lồng tồng”; tết “Xíp xí” (14/7 âm lịch). Đắm mình thư giãn
trong những suối khoáng nóng, những khu rừng nguyên sinh, những hang động nổi
tiếng; thưởng thức phong cách ẩm thức Thái như: cốm Mường Lò, xôi ngũ sắc, thịt
trâu sấy, gà nướng, cá suối, rêu suối, rau rừng, thưởng thức những chén rượu thơm
trong tiếng “khắp mơi lẩu” (hát mời rượu) của những thiếu nữ Thái, bên những chum
rượu cần mà thưởng thức phải qua một sừng rót, một sừng đổ. Đến Mường Lò còn
được ngồi trên nhà sàn, nghe người già kể chuyện: sự tích Mường Lò, sự tích “khau
ven cánh đồng, ven các dòng suối. Người Mường ở Văn Chấn di cư từ Thanh Sơn
( tỉnh Phú Thọ) lên đã nhiều đời nay, đồng bào còn giữ được nhiều đặc trưng văn hóa
truyền thống mà Yên Bái hiện đang khai thác phục vụ cho du lịch. Người Mường sống
chủ yếu ở các xã Sơn A, Thanh Lương, Phúc Sơn của huyện Văn Chấn. Kho tàng văn
hóa của người Mường nơi đây khá phong phú và đa dạng với các giá trị tinh thần độc
đáo đã được khai thác như: hội đu xuân, hội xuống đồng, hội “séc bùa”, hội cơm mới,
múa Mơi hay múa “mỡi” (nghĩa là múa mời), múa “trống đu” (troống tu), múa nàng
tiên, múa “cuổi” (là múa Cuội hay múa thần tiên xuống chơi), múa sạp, múa ống. Đến
với những bản văn hoá Mường, thăm hang “thẳm Han” – một di tích khảo cổ học độc
đáo ở xã Sơn A, ngồi trên những ngôi nhà sàn thoáng đãng, hàng đêm nghe người già
kể sự tích “nàng Han” – một nữ tướng tài ba của tộc người rồi về ngâm mình trong
dòng suối nóng bản Bon, thưởng thức những món ăn truyền thống của tộc người.
Vùng thấp và thung lũng lòng chảo Mường Lò của vùng văn hóa Miền Tây tỉnh Yên
Bái là vậy. Còn vùng rẻo giữa và rẻo cao lại là nơi phổ biến của văn hóa các tộc người
Khơ Mú, Giáy, Dao và Hmông. Tất cả đã làm nên cái độc đáo, đa dạng, hấp dẫn để nơi
đây trở thành vùng du lịch văn hóa tộc người số một của địa phương.
Từ thị xã Nghĩa Lộ đi lên chừng 3, 4 km, vượt qua lòng chảo Mường Lò là tới
xã Nghĩa Sơn, nơi sinh sống tập trung của đồng bào Khơ Mú ở Yên Bái (chiếm 97%
dân số xã). Tuy số dân hiện nay không nhiều (trên 2.000 người) song tộc người Khơ
Mú còn lưu giữ được nhiều yếu tố văn hóa truyền thống, đặc sắc, rất được du khách ưa
thích và tìm đến.
Người Khơ Mú nổi tiếng hiếu khách, đến bản Khơ Mú bao giờ bạn cũng sẽ
được ăn thịt gà với xôi dẻo cùng rượu nếp cẩm. Nơi đây, các già làng luôn có ý thức
26
kể cho con cháu nghe về những truyền thuyết giải thích nguồn gốc của muôn loài, về
sự hình thành tộc người, cũng như các dòng họ của tộc người như Truyền thuyết “Quả
bầu”, “Tiếng nói”, “Cây thuốc trên cung trăng”, “Rvai”, “Tvạ”, “Tmoong”, “Ôm”,
“Ríc”, … Tới đây, thăm cách thức bài trí trong ngôi nhà, dự những dịp lễ đặc biệt như
lên nhà mới, sửa lại nhà, lễ hỏi cưới, trong tang ma, tục đón tết cổ truyền, … để hiểu
hơn về các yếu tố văn hoá truyền thống của tộc người.
hơn. Ngoài ra, nghệ thuật múa và hệ thống tri thức dân gian về y, dược học cũng được
nhiều người chú ý. Kho tàng văn hóa dân gian độc đáo này hiện đang được tỉnh Yên
Bái sưu tầm, bảo lưu và phổ biến rộng rãi với khách tham quan.
Sống chủ yếu ở rẻo giữa của vùng văn hóa Miền Tây là tộc người Dao (các
nhóm Dao Quần Chẹt, Dao Đỏ). Nhóm Dao Đỏ sống ở các xã Nậm Mười, Nậm Lành,
Nậm Búng, Suối Quyền, An Lương (huyện Văn Chấn), nhóm Dao Quần Chẹt tụ cư ở
các xã Minh An, Cát Thịnh. Đây là những địa chỉ được đông đảo các nhà nghiên cứu
và du khách quan tâm bởi những giá trị truyền thống được tộc người lưu giữ và truyền
tải qua nhiều thế hệ. Từ nếp nhà, những bộ trang phục truyền thống đến các nghi lễ
tâm linh của tộc người như: tục cưới xin, tang ma, tết nhảy (Nhiàng chầm đao), lễ cấp
sắc, cầu mùa, nhập tịnh, đặt tên của đồng bào. Tới đây, còn để chứng kiến những tiết
mục múa nghệ thuật, múa trong nghi lễ của các chàng trai Dao như: múa đao, múa
kiếm, múa bắt ba ba, múa diễn tả các thao tác trong lao động sản xuất như: múa xúc
tép, múa đẵn gỗ, múa gặt lúa, Hoà nhập trong cuộc sống của đồng bào còn để nghe
các làn điệu dân ca (páo dung) độc đáo như: hát giao duyên, hát đám cưới, hát nhà mới,
hát mời rượu, hát ru, hát ca ngợi thiên nhiên, con người, ca ngợi lao động sản xuất, …
Lên cao hơn hẳn của vùng văn hóa độc đáo này là nơi cư trú của cộng đồng tộc
người Hmông. Văn hóa tộc người Hmông cùng với văn hóa Thái được xác định là
điểm nhấn của du lịch văn hóa tộc người ở Yên Bái. Ở Miền Tây, người Hmông sống
tập trung ở hai huyện Trạm Tấu (10/11 xã, thị trấn) và Mù Cang Chải (13/13 xã, thị
trấn) cùng một số xã vùng cao của huyện Văn Chấn như: Suối Giàng, Suối Bu, Sùng
Đô. Người Hmông ở Yên Bái có 4 nhóm: Hmông Đơ (Hmông Trắng), Hmông Đu
(Hmông Đen), Hmông Lình hay Hmông Lềnh (Hmông Hoa), và Hmông Si (Hmông
Xanh). Văn hóa Hmông ở Yên Bái được du khách đặc biệt chú ý bởi sự đa dạng, đặc
sắc, không pha trộn.
Cùng là thiên nhiên và văn hóa tộc người Hmông song mỗi nơi lại mang một
nét đặc trưng riêng. Nếu như đến với người Hmông ở Mù Cang Chải, du khách được
chiêm ngưỡng những triền ruộng bậc thang như những nấc thang nghệ thuật trải rộng
từ chân lên đỉnh đồi thì đến với người Hmông ở xã Suối Giàng khách tham quan lại