Năng lực cạnh tranh điểm đến của Bình Thuận - Pdf 25

1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ TUYẾT
NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐIỂM ĐẾN
CỦA BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH

HÀ NỘI – 2014
2

2. Mục đích nghiên cứu. 8
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 8
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu. 9
5. Lịch sử nghiên cứu 9
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 10
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 11
8. Cấu trúc luận văn 12
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 13
1.1. Du lịch và điểm đến du lịch 13
1.1.1. Khái niệm về du lịch 13
1.1.2. Khái niệm điểm đến du lịch. 15
1.1.3. Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch. 16
1.1.3.1. Sự hấp dẫn du lịch (attrations) 16
1.1.3.2. Khả năng tiếp cận nơi đến (Accession) 17
1.1.3.3. Dịch vụ lƣu trú, ăn uống (Accomodation) 18
1.1.3.4. Các tiện nghi và dịch vụ bổ sung 19
1.2. Cạnh tranh 19
1.2.1. Khái niệm về cạnh tranh 19
1.2.2. Nguồn gốc và phân loại 22
1.2.3. Đối thủ cạnh tranh 27
1.3. Năng lực cạnh tranh điểm đến 31
1.3.1. Khái niệm 31
4

1.3.2. Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh điểm đến 32
1.3.2.1. Các yếu tố vĩ mô
1.3.2.2. Các yếu tố vi mô
1.3.3. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch 42
1.3.3.1. Đặc điểm của điểm đến 42

2.2.1.1. Các yếu tố vĩ mô 61
2.2.1.2. Các yếu tố (vi mô) 64
2.2.2. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Bình
Thuận 66
2.2.2.1. Đặc điểm của điểm đến Bình Thuận 66
2.2.2.2. Đặc điểm của du khách du lịch Bình Thuận 67
2.2.2.3. Hành vi của các công ty lữ hành 69
2.2.2.4. Các nhân tố bên ngoài 69
2.3. Đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch Bình Thuận 72
2.3.1. Đánh giá theo phƣơng diện cung và cầu du lịch 72
2.3.2. Đánh giá theo mô hình SWOT 74
2.3.3.1. So sánh cạnh tranh trong nƣớc 76
2.3.3.2. So sánh cạnh tranh quốc tế 77
2.3.4. Xác định lợi thế cạnh tranh của du lịch Bình Thuận 78
Tiểu kết chƣơng 2 80
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO NĂNG
LỰC CẠNH TRANH, PHÁT TRIỂN DU LỊCH BÌNH THUẬN 81
3.1. Định hƣớng, mục tiêu và nhiệm vụ phát triển du lịch Bình Thuận. 81
3.1.1 Định hƣớng phát triển du lịch Bình Thuận. 81
3.1.2 Mục tiêu phát triển của du lịch Bình Thuận 82
3.1.3 Nhiệm vụ phát triển của du lịch Bình Thuận: 84
3.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến Bình Thuận. 86
3.2.1. Nhóm giải pháp tận dụng ƣu điểm 89
3.2.1.2 Giải pháp phát triển thị trƣờng 90
3.2.1.3 Giải pháp đa dạng hóa sản phẩm. 90
6

3.2.1.4 Giải pháp thu hút vốn đầu tƣ. 92
3.2.2. Nhóm giải pháp khắc phục điểm yếu. 92
3.2.2.1 Giải pháp về phát triển nguồn nhân lực. 92

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Số lƣợng khách đến Bình Thuận giai đoạn 2008 – 2012 48
Bảng 2: Doanh thu du lịch Bình Thuận từ 2008 – 2012 50
Bảng 3: Lao động trực tiếp trong ngành du lịch Bình Thuận
giai đoạn 2008 – 2012 52
Bảng 4: Tổng thời gian lƣu trú của khách du lịch Bình Thuận 62
Bảng 5: Thời gian lƣu trú bình quân của khách du lịch Bình Thuận
59
Bảng 6: Thu nhập của khách du lịch đến Bình Thuận 60
Bảng 7: Độ tuổi của khách du lịch đến Bình Thuận 65
Bảng 8: Mức độ hài lòng của khách du lịch khi đến Bình Thuận 72
Bảng 9: Mức độ hài lòng của khách du lịch về các dịch vụ tại Bình Thuận 68
Bảng 10: Mong muốn quay trở lại Bình Thuận của khách du lịch. 70
Bảng 11: Mức độ hài lòng của du khách về đội ngũ nhân viên phục vụ du lịch…73
Bảng 12: Mức độ hài lòng của du khách về chất lƣợng các tiện nghi du lịch…74
Bảng 13: Ma trận SWOT điểm đến du lịch Bình Thuận………………………75
9

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Ngày nay nền kinh tế phát triển đời sống con ngƣời đƣợc nâng cao vì
vậy nhu cầu du lịch ngày càng nhiều và dần dần đòi hỏi chất lƣợng cao. Hiện
nay một số quốc gia trên thế giới chọn ngành du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn,
phát triển với tốc độ cao mang lại hiệu quả kinh tế rất lớn. Trong những thập
niên qua Việt Nam là một trong số các quốc gia có ngành du lịch phát triển
nhanh, sự góp phần của nguồn thu nhập du lịch vào GDP và cán cân thanh toán
trở nên đáng kể, ngày càng gia tăng.

Để đạt đƣợc mục tiêu đặt ra trong Chiến lƣợc phát triển du lịch Việt Nam
là đầu tƣ xây dựng Bình Thuận và một số điểm đến nhƣ Hạ Long, Nha Trang
thành điểm đến thƣơng hiệu cho du lịch Việt Nam có sức cạnh tranh quốc tế và
khu vực và đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, du lịch tỉnh Bình Thuận không
những phải cạnh tranh với các địa phƣơng khác trong cả nƣớc mà còn phải cạnh
tranh với nhiều điểm đến du lịch nổi tiếng của các nƣớc trong khu vực và trên
thế giới để thu hút khách du lịch, việc đề ra các giải pháp nhằm nâng cao năng
lực cạnh tranh cho ngành du lịch Bình Thuận là một yêu cầu khách quan và cấp
thiết đối với sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và du lịch nói riêng của
Bình Thuận. Đề tài nghiên cứu “Năng lực cạnh tranh điểm đến của Bình
Thuận” đƣợc thực hiện sẽ góp phần giải quyết vấn đề đặt ra trên đây, nâng cao
khả năng cạnh tranh và quảng bá du lịch của tỉnh Bình Thuận, đóng góp nhất
định vào việc thực hiện Chiến lƣợc phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020,
tầm nhìn 2030.
2. Mục đích nghiên cứu.
Trên cơ sở phân tích thực trạng, tiềm năng phát triển du lịch, năng lực
cạnh tranh của ngành du lịch Bình Thuận so sánh với các điểm đến trong nƣớc,
khu vực và thế giới, đề tài đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh
11

tranh cho điểm đến du lịch Bình Thuận – điểm đến thƣơng hiệu tầm cỡ quốc tế
của du lịch Việt Nam.
Kết quả của đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho ngành du lịch
Bình Thuận trong quản lý và kinh doanh du lịch để mang lại hiệu quả tối ƣu từ
hoạt động này.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp chọn lọc một số lý luận cơ bản về điểm đến du lịch, năng lực
cạnh tranh điểm đến du lịch.
- Phân tích các điều kiện và thực trạng phát triển du lịch Bình Thuận
trong những năm gần đây.

Châu Á – Thái Bình Dƣơng; toàn diện và phổ quát” ”.[26, Michae J. ENright &
James Newton]; Nghiên cứu về “Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch: những
thách thức thị trƣờng và hệ thống đánh giá” ”.[24, Ines Milohnic‟& Dora
Smolc‟ic‟ Jurdana, Croatia] với quan điểm cho rằng chất lƣơng đã trở thành một
yếu tố quan trọng khả năng cạnh tranh điểm đến du lịch, cần phải so sách với
các đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng để xác định đƣợc các điểm yếu cũng nhƣ
tạo ra các yếu tố để nâng cao khả năng cạnh tranh cho điểm đến; hay nghiên cứu
“Kiểm tra năng lực cạnh tranh điểm đến từ du khách; quan điểm; mối quan hệ
giữa kinh nghiệm du lịch và nhận thức năng lực cạnh tranh điểm đến” [23, Fanh
Meng ], nghiên cứu xác định các yếu tố có khả năng ảnh hƣởng đến chất lƣợng
những trải nghiệm du lịch và năng lực cạnh tranh điểm đến của du khách.
Những nghiên cứu trên và nhiều nghiên cứu khác đã đƣa ra sự đa dạng
trong phân tích, đánh giá năng lực cạnh tranh của một điểm đến, trong đó tập
trung chủ yếu khảo sát điều tra từ thị trƣờng và đánh giá nội lực, kết hợp so
sánh với các đối thủ cạnh tranh tƣơng đƣơng để xác định điểm yếu , xác định
những lợi thế cạnh tranh cho mình.
13

Ở Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên cứu về năng lực cạnh
tranh. Các nghiên cứu này thƣờng đƣợc tiến hành theo hƣớng định lƣợng với
một nhóm các đơn vị theo nghành hoặc theo một vùng, quốc gia, thƣờng sử
dụng phƣơng pháp điều tra chọn mẫu và nhìn chung vẫn còn ở mức độ vĩ mô.
Có thể kể đến một số công trình nhƣ đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu
thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực lữ hành
quốc tế của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” do vụ Lữ hành, Tổng
cục Du lịch Việt Nam thực hiện năm 2007, nội dung chính của đề tài là phân
tích, đánh gía thực trạng năng lực cạnh tranh của toàn bộ lĩnh vực lữ hành quốc
tế giữa mối tƣơng quan với các nƣớc trong khu vực, từ đó đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao sức cạng tranh của cả hệ thống này trong điều kiện hối nhập
kinh tế quốc tế. Tác giả Nguyễn Anh Tuấn với nghiên cứu luận án tiến sỹ về đề

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng phƣơng pháp điều
tra xã hội học để cố gắng thu thập thông tin và đánh giá về du lịch Bình Thuận
và những thông tin liên quan đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch qua bảng
hỏi khách du lịch.
Thời gian: tiến hành phỏng vấn từ tháng 12/2012 đến tháng 6/2013.
Địa điểm: quá trình điều tra đƣợc thực hiện tại các điểm du lịch: Đồi Cát
bay, Hòn Rơm (Mũi Né), Suối tiên (Hàm Tiến), Bình Thạnh (Tuy Phong), Đá
Ông Địa, Lầu Ông Hoàng (Phan Thiết).
Số lượng phiếu điều tra đƣợc phát ra là 300, số lƣợng bảng hỏi thu về hợp
lệ để đƣa vào xử lý là 253.
15

Phiếu điều tra đƣợc dùng cho khách du lịch nội địa gồm 9 câu hỏi đóng
với mục đích tìm hiểu những cảm nhận và đánh giá của du khách về sức hấp
dẫn của du lịch Bình Thuận.
Các số liệu thu về từ phiếu điều tra đƣợc xử lý bằng phần mềm Microsoft
Excel 2007, kết quả thu đƣợc là số điểm trung bình mà khách du lịch đánh giá
cho từng tiêu chí đánh giá sức hấp dẫn của du lịch Bình Thuận.
6.4. Phương pháp chuyên gia:
Qua trao đổi quan điểm, ý kiến với một số nhà khoa học, chuyên gia về
du lịch, về quản lý điểm đến du lịch, một số nhà kinh doanh du lịch hiện nay ở
các tỉnh Bình Thuận đã giúp tác giả củng cố các nhận định và đề xuất giải pháp
trong khóa luận.
6.5. Phương pháp so sánh
So sánh tổng hợp các thông tin và số liệu đã thu thập đƣợc thông qua cả
nguồn điều tra thực tiễn và nghiên cứu tài liệu để tìm ra lợi thế về năng lực cạnh
tranh và các yếu điểm cần đƣợc khắc phục của điểm đến du lịch Bình Thuận so
với một số điểm đến khác với các điểm đến tiêu biểu có sự tƣơng đồng về vị trí
địa lý và tài nguyên du lịch cũng nhƣ sản phẩm du lịch chủ đạo.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

và định nghĩa về du lịch.
Vào năm 1941, W. Hunziker và Kraff (Thụy Sỹ) đƣa ra định nghĩa: “Du
lịch là tổng hợp các hiện tƣợng và mối quan hệ nảy sinh từ việc di chuyển và
dừng lại của con ngƣời tại nơi không phải là nơi cƣ trú thƣờng xuyên của họ, họ
không ở lại đó vĩnh viễn và không hề có bất kỳ hoạt động nào để có thu nhập tại
nơi đến”[13]
Theo một số học giả du lịch Trung Quốc thì: “ Hoạt động du lịch là tổng
hòa hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội
nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch du lịch, khách thể du lịch và trung gian
du lịch làm điều kiện”.[1, tr.3]
Theo I.I Prôgionic (1985) thì: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân
cư trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài
nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh
thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao hoặc kem theo việc
tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế - văn hóa”.[ 1, tr.2 ]
Theo nhà kinh tế ngƣời Áo Josep Stander nhìn từ:
- Góc độ thay đổi không gian của du khách: “Du lịch là một trong
những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ
18

một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm
việc”.
- Góc độ kinh tế: “Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ
phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí, nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với
hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác”.
Theo định nghĩa của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO) “Du lịch được
hiểu là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt
nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài
nơi cư trú thường xuyên của họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến không phải
là nơi làm việc của họ.”[ 8, tr.8 ]

điểm hấp dẫn du lịch, giao thông đi lại, khả năng tiếp cận điểm đến, nơi ăn nghỉ, các
tiện nghi và dịch vụ bổ sung.
Theo PGS.TS. Trần Thị Minh Hòa „điểm đến du lịch là những điểm có tài
nguyên du lịch nổi trội, có khả năng hấp dẫn du khách, hoạt động kinh doanh du lịch
có hiệu quả và đảm bảo phát triển bền vững‟[14].
Theo điều 4 của Luật Du lịch Việt Nam (2005) thì “Điểm du lịch là nơi
có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”.
Tuy nhiên, điểm đến du lịch có thể là vùng du lịch, á vùng du lịch hay tiểu vùng
du lịch tùy theo quy mô lớn, nhỏ. Theo cách hiểu trên thì điểm du lịch đƣợc
xem là có quy mô nhỏ “là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên,
văn hóa – lịch sử hoặc kinh tế xã hội) hay một loại công trình riêng biệt phục vụ
du lịch hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ »[10, tr.113]
Điều 24, Luật du lịch Việt Nam (2005) quy định điểm du lịch có đủ các
điều kiện sau đây đƣợc công nhận là điểm du lịch cấp quốc gia:
- Có tài nguyên du lịch đặc biệt hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của
khách du lịch;
20

- Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm
phục vụ ít nhất một trăm nghìn lượt khách tham quan một năm.
Điểm du lịch có đủ các điều kiện sau đây đƣợc công nhận là điểm du
lịch địa phƣơng:
- Có tài nguyên du lịch hấp dẫn đối với nhu cầu tham quan của khách
du lịch;
- Có kết cấu hạ tầng và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm
phục vụ ít nhất mười nghìn lượt khách tham quan một năm.
Nhƣ vậy, điểm đến du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có khả
năng thu hút và thỏa mãn các yêu cầu của du khách về du lịch như: những di
tích văn hóa lịch sử, những danh thắng, các công trình cổ đại và đương đại, các
cổ vật, những giá trị văn hóa phi vật thể, truyền miệng, phong tục tập quán, ứng

gian, điểm đến…).
“Khả năng tiếp cận” đƣợc hiểu là “có thể tới được” về mặt chức năng
của một hoặc toàn bộ hệ thống nào đó.
- Giao thông tiếp cận: Trong giao thông, “tiếp cận” nói đến sự đến đƣợc
nơi cần tới một cách dễ dàng. Rõ ràng sự phát triển và duy trì giao thông có hiệu
quả, nối liền với các thị trƣờng nguồn khách là điểm căn bản tạo nên sự thành
công của các điểm đến du lịch. Ngƣời ở những địa điểm có mức độ tiếp cận cao
sẽ đến đƣợc với nhiều hoạt động một cách nhanh chóng, còn ngƣời ở những địa
điểm không thể tiếp cận đƣợc thì sẽ đến đƣợc với ít hoạt động bằng một lƣợng
thời gian đáng kể. Một trong những tiêu chuẩn cơ bản của giao thông tiếp cận là
nền thấp (hoặc gầm thấp), đặc biệt là với những phƣơng tiện vận tải công cộng.
Nhất là trong hoạt động du lịch thì giao thông là một yếu tố cần thiết và quan
trọng để du khách có thể dễ dàng tiếp cận đến với các điểm du lịch và sản phẩm
du lịch.
22

- Truyền thông và công nghệ thông tin tiếp cận: Đây là phƣơng diện
khác của sự tiếp cận, nó giúp cho con ngƣời có thể tiếp cận đƣợc với công nghệ
thông tin cùng các dịch vụ của nó với những khoảng cách không rào cản tối
thiểu. Chẳng hạn một trang web tiếp cận cho khách du lịch sẽ phải mô tả chi tiết
các sản phẩm và dịch vụ, cơ sở vật chất kỹ thuật…về điểm du lịch đó để du
khách tìm hiểu.
- Hội chợ, Festival và hội thảo tiếp cận: Đƣợc xem là nhu cầu cần thiết
với khả năng tiếp cận của sản phẩm du lịch đến tất cả mọi ngƣời. Một cuộc hội
chợ, Festival hoặc hội thảo tiếp cận phải hội tụ đƣợc những yêu cầu sau: Di
chuyển tiếp cận, nghe tiếp cận, nhìn tiếp cận…Đó chính là các yếu tố tạo khả
năng tính tiếp cận của nơi đến.
Vậy, Khả năng tiếp cận nơi đến là sự dễ dàng vận chuyển thông qua các
phương tiện giao thông cũng như việc tìm hiểu thông tin qua các phương tiện
công nghệ thông tin, hội chợ, Festival của du khách khi đến điểm du lịch thăm

nghi, phƣơng tiện và dịch vụ bổ sung hỗ trợ khác tại điểm đến du lịch nhƣ trung
tâm mua sắm thƣơng mại, dịch vụ massage, làm đẹp, nhà hàng… Điểm hấp dẫn
là lý do chính để lựa chọn điểm đến du lịch, song điều quan trọng là các điểm
đến cũng phải là nơi cung cấp những hoạt động bổ sung thỏa mãn nhu cầu du
khách (rạp chiếu phim, hoạt động vui chơi giải trí, điểm picnic có phong cảnh
đẹp…) Khả năng cung cấp các tiện nghi, dịch vụ bổ sung thể hiện tính liên
ngành và mối quan hệ lẫn nhau giữa các lĩnh vực kinh doanh của ngành du lịch.
1.2. Cạnh tranh
1.2.1. Khái niệm về cạnh tranh
“Cạnh tranh” là một phạm trù kinh tế cơ bản. Cạnh tranh phát triển cùng
với sự tăng trƣởng kinh tế và phát triển của xã hội. Điểm lại các lý thuyết cạnh
24

tranh trong lịch sử có thể thấy hai trƣờng phái tiêu biểu. Trƣờng phái cổ điển và
trƣờng phái hiện đại. Trƣờng phái cổ điển với các đại biểu tiêu biểu với các đại
biểu tiêu biểu nhƣ Adam Smit, John Stuart Mill, Darwin và C.Mác đã có đóng
góp nhất định trong lý thuyết cạnh tranh này. Trƣờng phái hiện đại với hệ thống
lý thuyết đồ sộ với ba quan điểm tiếp cận: tiếp cận theo tổ chức ngành với đại
diện của trƣờng phái Chicago và Harvard; tiếp cận tâm lý với đại diện là
Meuger, Mises, Chumpeter, Hayek thuộc hoạc phái viên; tiếp cận “cạnh tranh
hoàn hảo” phát triển lý thuyết của tân cổ điển. Nhƣ vậy, cạnh tranh là một khái
niệm khác nhau dƣới các góc độ khác nhau.
Theo định nghĩa đƣợc A. Lobe đƣa ra gần một thế kỷ này có thể hiểu
cạnh tranh là sự cố gắng của hai hay nhiều ngƣời thông qua những hành vi và
khả năng nhất định để cùng đạt đƣợc một mục đích.[7, tr.8]
Khi bàn về cạnh tranh, Adam Smit cho rằng nếu tự do cạnh tranh, các cá
nhân chèn ép nhau thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm việc của
mình một cách chính xác. Ngƣợc lại, chỉ có mục đích lớn lao nhƣng lại không
có động cơ thúc đẩy thực hiện mục đích ấy thì rất ít có khảng năng tạo ra đƣợc
bất kỳ sự cố gắng lớn lao nào. Nhƣ vậy, có thể hiểu rằng cạnh tranh khơi dậy sự

lực bên trong thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Mặt khác, với mục tiêu tối đa hóa
lợi nhuận của các chủ thể kinh doanh, cạnh tranh cũng dãn đến yếu tố thúc đẩy
quá trình tích lũy và tập trung tƣ bản không đồng đều ở các doanh nghiệp.
Mặc dù có thể dẫn ra nhiều cách diễn đạt khác nhau về khái niệm cạnh
tranh, xong qua các định nghĩa có thể rút ra những nhận xét chung về cạnh tranh
nhƣ sau:

Trích đoạn Nguồn nhân lực du lịch Bình Thuận Các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Bình Đánh giá năng lực cạnh tranh du lịch Bình Thuận Đánh giá theo mô hình SWOT Định hƣớng, mục tiêu và nhiệm vụ phát triển du lịch Bình Thuận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status