ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THU HIỀN
Một số giải pháp phát triển du lịch Hà Nội
trở thành ngành kinh tế mũi nhọn
Hà Nội – 2006 1 PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ngày nay việc đi du lịch đã trở thành nhu cầu quen thuộc không thể
thiếu được trong đời sống - văn hoá - xã hội của mỗi con người. Nhờ sự phát
chuyển dịch để chiếm tỷ trọng cao trong GDP của toàn thành phố. Muốn vậy
Hà Nội phải đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ, trong đó ngành du lịch
phải phát triển nhanh để sớm trở thành ngành kinh tế mũi nhọn làm động lực
thúc đẩy các ngành dịch vụ khác phát triển theo.
Hà Nội, thủ đô ngàn năm văn hiến, là một trong những trung tâm du
lịch trọng điểm của cả nước. Vùng đất có tiềm năng du lịch rất lớn, đặc biệt là
nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú với rất nhiều danh lam thắng
cảnh hấp dẫn. Mặc dù vậy, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với
tiềm năng và vị trí vốn có của nó, trình độ còn thấp so với thủ đô một số nước
trong khu vực, hiệu quả khai thác tiềm năng du lịch chưa cao, nhận thức về du
lịch của các ngành, các cấp còn nhiều bất cập.
Theo tinh thần của nghị quyết Đại hội XIV của Đảng bộ thành phố Hà
Nội với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ Công nghiệp - Dịch vụ -
Nông nghiệp sang Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp, trong đó du lịch
được xác định là ngành kinh tế trọng điểm của thành phố.
Vấn đề đặt ra là làm như thế nào để du lịch Hà Nội phát huy được hết
thế mạnh của mình để trở thành ngành kinh tế mũi nhọn? Vì vậy tác giả chọn
đề tài “Một số giải pháp phát triển du lịch Hà Nội trở thành ngành kinh tế
mũi nhọn” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nhằm đánh giá thực trạng của du lịch
Hà Nội, đặc biệt tình hình phát triển du lịch Hà Nội trong những năm gần đây.
Trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm phát huy các thế mạnh sẵn có của Thủ 3 đô, đưa du lịch Hà Nội trở thành ngành kinh tế mũi nhọn từ nay đến năm
2010 và những năm sau.
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGÀNH KINH TẾ
MŨI NHỌN VÀ CƠ SỞ ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH HÀ NỘI
THÀNH NGÀNH KINH TẾ MŨI NHỌN
1.1 Khái niệm và tiêu chí của ngành kinh tế mũi nhọn
1.1.1 Khái niệm ngành kinh tế mũi nhọn
Ngành kinh tế mũi nhọn là một trong những ngành quan trọng bậc nhất
trong chiến lƣợc phát triển kinh tế quốc dân của một nƣớc trong một giai đoạn
phát triển nhất định. Đó là những ngành kinh tế có tiềm năng tăng trƣởng cao, có
thị trƣờng rộng, tạo đƣợc nguồn tích luỹ lớn và góp phần thúc đẩy các ngành kinh
tế khác phát triển theo với việc phát triển yếu tố con ngƣời [25, tr.4].
1.1.2. Tiêu chí của ngành kinh tế mũi nhọn
Về nguyên tắc, trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hiệu quả
luôn luôn là tiêu chuẩn cơ bản nhất để lựa chọn ngành mũi nhọn. Việc xa rời
nguyên tắc này đồng nghĩa với việc phủ nhận trên thực tế vai trò điều tiết của
cơ chế thị trường, đặc biệt là vai trò trong việc phân bố các nguồn lực. Tuy
nhiên, vấn đề đặt ra là: cần hiểu khái niệm hiệu quả như thế nào cho thích
hợp? Trên quan điểm ngắn hạn hay dài hạn? Tương quan giữa hiệu quả kinh
tế thuần tuý và hiệu quả kinh tế – xã hội trong đó là như thế nào? Có 3 điểm
đáng lưu ý:
Thứ nhất, hiệu quả phải được xét trên quan điểm dài hạn, và cần được
coi là tiêu chuẩn chủ đạo. Điều đó không có nghĩa là bỏ qua những lợi ích
ngắn hạn. Song khi theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao, lâu bền như là mục
tiêu hàng đầu thì việc ưu tiên bất cứ ngành nào trong giai đoạn đầu trước hết
cũng phải nhằm mục đích tạo dựng cơ sở tăng trưởng vững chắc cho toàn bộ 5
- Trong hiện tại và trong tương lai có tác động thúc đẩy các ngành
khác tạo đà cho tăng trưởng chung, tạo sự chuyển dịch cơ cấu theo
hướng tích cực.
- Có điều kiện sử dụng nguyên liệu trong nước.
- Tận dụng được lao động hiện có, thúc đẩy phát triển lao động kỹ thuật.
- Có thị trường rộng lớn ở trong và ngoài nước.
Các tiêu chí trên có mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau. Tất cả
chúng đều hướng tới những mục tiêu dài hạn của nền kinh tế: Tăng trưởng
nhanh với hiệu quả sử dụng vốn cao, tăng nguồn thu nhập ngoại tệ (được coi
là nguồn lực khan hiếm bậc nhất hiện nay) và tạo nhiều công ăn việc làm cho
xã hội theo đinh hướng tăng trưởng đã lựa chọn.
Trong nền kinh tế mở, các ngành mũi nhọn đều phải đặt vào mình vào
môi trường cạnh tranh quốc tế và khu vực để tồn tại. Điều này đòi hỏi với tất
cả các ngành mũi nhọn phải có biện pháp thích ứng nhằm thay thế nhập khẩu
cũng như phải có công nghệ phù hợp với các tiêu chuẩn của quốc tế và khu
vực. Ngoài ra, cùng với việc xác định ngành mũi nhọn, cần chỉ ra xu thế phát
triển và đặc trưng các giai đoạn phát triển đó:
- Ngành công nghiệp “mặt trời lặn” (còn gọi là ngành không có tương
lai), đó là những ngành đang mất đi khả năng mang lại lợi nhuận trong tương
lai, mặc dù có thể các ngành này trước đây đã từng đem lại lợi nhuận cao, giữ
vai trò quan trọng cho quốc gia.
- Ngành “mặt trời mọc”, là những ngành tiên tiến về kỹ thuật sản xuất,
có hàm lượng trí tuệ cao, đang từng bước có những đóng góp lợi nhuận lớn,
giữ vai trò quan trọng cho quốc gia trong tương lai.
Trên đây là các tiêu chí chính xác định ngành mũi nhọn trong cơ cấu
kinh tế chung. Việc đề xuất các tiêu chí đó dựa trên nguyên tắc tối cao là bảo 7
8 triển. Như vậy hiệu quả phải được xem là một yếu tố quan trọng làm căn cứ
để xác định ngành kinh tế mũi nhọn.
Trong thời đại hiện nay, hiệu quả không chỉ được tính ở mặt kinh tế mà
còn phải tính đến những tác động của nó đến mặt xã hội, có như vậy thì tăng
trưởng của ngành này mới thực sự bền vững và lâu dài [25, tr.4].
1.2. Cơ sở để phát triển Du lịch Hà Nội thành ngành kinh tế mũi nhọn
Dựa trên các phân tích trên chúng ta có thể nhận thấy Hà Nội đã hội tụ
được gần như đầy đủ các yếu tố để có thể đưa ngành du lịch phát triển thành
ngành kinh tế mũi nhọn. Bởi vì:
1.2.1. Du lịch là một ngành có hiệu quả trong các ngành kinh tế của
Hà Nội
Trong những năm qua, nền kinh tế Thủ đô Hà Nội cùng cả nước đạt
được nhiều chuyển biến tích cực. Với chính sách mở cửa, tăng cường hội
nhập nền kinh tế quốc gia vào đời sống kinh tế khu vực và quốc tế, các hoạt
động kinh tế đối ngoại của Việt Nam có nhiều khởi sắc. Đặc biệt, ngành du
lịch đó phỏt triển rất nhanh và trở thành một ngành kinh tế quan trọng của cả
nước nói chung cũng như Hà Nội nói riêng. Du lịch Hà Nội đã và đang khẳng
định vị trí quan trọng của mình trong quá trình hội nhập với trào lưu phát triển
du lịch của khu vực và thế giới, từng bước đưa thành phố trở thành một trung
tâm du lịch tầm cỡ trong khu vực.
Ngành du lịch đã đóng góp một tỷ trọng đáng kể vào GDP của thành
phố. Du lịch Hà Nội đã phát triển với nhiều loại hình dịch vụ mới hấp dẫn,
mức tăng trưởng cao, liên tục, doanh thu tăng bình quân 16%/năm. Năm 2004
du khách đến Hà Nội lên đến 4,45 triệu lượt người, trong đó có 950.000
khách quốc tế, tăng 12% so với năm 2003 và có 3,5 triệu khách nội địa, tăng
100
100
100
100
100
100
1. Công nghiệp mở rộng
36,8
38,8
40,4
40,6
40,8
40,5
2. Dịch vụ
60,5
58,8
57,2
57,4
57,5
57,5
3. Nông nghiệp
2,7
2,4
2,4
1,9
1,7
2
Nguồn: [31, tr.116]
Theo bảng trên ta thấy tỷ trọng công nghiệp năm 2001 là 36,8%, năm
2002 là 38,8%, năm 2005 là 40,8%. Tỉ trọng các ngành dịch vụ từ 60,5% năm
doanh nghiệp chuyên kinh doanh vận chuyển khách du lịch, trong đó hơn 20
công ty có số lượng hơn 100 đầu xe. Ví dụ như công ty Liên doanh vận tải
ABC, công ty Hải Vân, Transerco…
Ngành hàng không cũng không ngừng tăng các chuyến bay, mở các
đường bay mới và mua sắm các thiết bị hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại
ngày càng tăng của du khách. Năm 2001 đã mở thêm tuyến bay Hà Nội –
Moscow, Vân Nam, Bắc Kinh; tháng 6/2002: Hà Nôi- Tôkyô, năm 2003 mở 11 tuyến Hà Nội – Franfurk… Theo trả lời phỏng vấn của ông Nguyễn Xuân
Hiển, Tổng Giám Đốc Tổng công ty Hàng không Việt Nam, Vietnam Airline
thì: “năm 2004 Vietnam Airline đã ký hợp đồng mua 10 máy bay Airbus và
sắp tới tiếp tục ký hợp đồng mua thêm 4 chiếc Boeing 7E7”.
Ngành đường sắt cũng không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ
hành khách, rút ngắn thời gian chạy tầu, nâng cấp các toa tầu đồng thời đóng
mới và đưa vào phục vụ nhiều đoàn tàu du lịch chất lượng cao. Ví dụ như
riêng tuyến Hà Nội – Loà Cai trong vòng 5 năm (từ năm 2000 đến 2005) đã
có 5 toa tàu du lịch chất lượng cao được đưa vào phục vụ nhằm đáp ứng nhu
cầu của khách du lịch đi tham quan Sapa: Tàu Victoria, Tulico, Ratraco, TSC,
North Star. Hoặc như tầu Thống Nhất Bắc – Nam đã rút ngắn hành trình
xuống còn 30 tiếng…
- Du lịch thúc đẩy ngành dịch vụ phát triển: Du lịch phát triển cũng
đã tạo ra thị trường hàng hoá dịch vụ phát triển không ngừng bởi vì du lịch
bao giờ cũng kéo theo việc tiêu dùng dịch vụ tại chỗ (ăn uống, lưu trú) và
mua sắm đồ lưu niệm. Ngoài ra nhiều dịch vụ cao cấp mới cũng xuất hiện
song song với sự phát triển của ngành du lịch như dịch vụ tài chính ngân
hàng, dịch vụ du lịch tìm kiếm cơ hội đầu tư (Businesse Tour), hội thảo,
làm cho xã hội, đã tạo được việc làm cho rất nhiều lao động. Vì tính đặc
thù của ngành mà nhiều đối tượng đã tìm được công ăn việc làm trong
ngành du lịch: Từ lao động chân tay phổ thông (như lau dọn buồng
phòng, nhân viên massage…) đến các công việc đòi hỏi trình độ chuyên
môn cao (như điều hành tour, marketing, quản lý khách sạn, nhà
hàng…). Tính đến hết năm 2005, số lao động trực tiếp trong ngành du
lịch Hà Nội vào khoảng 30.000 người ngoài ra còn có hàng trăm ngàn
lao động gián tiếp khác [18].
1.2.4 Hà Nội có một thị trường khách du lịch rộng lớn
Là thủ đô, trung tâm văn hoá, chính trị, khoa học, kinh tế của cả nước,
nơi có nhiều di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh nổi tiếng nên Hà Nội luôn 13 là một trong những thành phố đựơc viếng thăm nhiều nhất bởi cả khách du
lịch trong nước và quốc tế.
- Khách du lịch nội địa: Hàng năm Hà Nội đón khoảng 4 đến 5 triệu
lượt khách du lịch nội địa đến từ khắp các tỉnh thành. Không ai là người Việt
Nam lại không mong ước một lần được đến thăm Hà Nội.
Không những chỉ đón du khách các nơi đến với Hà Nội mà Hà Nội còn
là một trong hai trung tâm gửi khách lớn nhất của cả nước (chỉ sau Thành phố
Hồ Chí Minh). Thực tế với dân số khoảng 4 triệu người, phần lớn họ có thu
nhập cao hơn các tỉnh thành khác và được hưởng nhiều kỳ nghỉ trong năm
nhất là các kỳ nghỉ hè, lễ Tết Những dịp nghỉ ngơi này cũng là lúc họ muốn
đi thăm quan, giải trí để giảm bớt căng thẳng sau những ngày làm việc mệt
mỏi. Hàng năm có hàng triệu lượt người Hà Nội đi du lịch đến các địa
phương khác trong nước và cũng nhờ lượng khách này mà vấn đề mùa thấp
khoa học, giáo dục, kinh tế và giao lưu quốc tế - nơi tập trung trí tuệ và
tinh hoa văn hoá truyền thống ngàn năm của dân tộc Việt Nam. Đó là những
điều kiện hết sức thuận lợi cho sự phát triển của du lịch Hà Nội.
- Cơ sở hạ tầng phát triển: Hà Nội có hệ thống kết cấu hạ tầng phát
triển vào bậc nhất so với các địa phương trong cả nước. Nơi đây có sân bay
lớn quốc tế Nội Bài với công suất thiết kế lên gần 10 triệu lượt khách/ năm là
cầu nối Hà Nội với các bạn bè năm châu. Nhiều đường quốc lộ nối Hà Nội
với các vùng lân cận và các điạ phương trong cả nước, có hệ thống khách sạn
nhà hàng phong phú đáp ứng được nhu cầu của các loại khách du lịch và một
hạ tầng thông tin tương đối hoàn chỉnh, được trang bị hiện đại có khả năng
liên lạc trực tiếp với hầu hết các quốc gia trên thế giới Hà Nội còn là đầu
mối tập trung luồng giao dịch hàng hoá, tài chính- tiền tệ, luồng thông tin của
tam giác tăng trưởng kinh tế phía Bắc.
- Có những nét văn hoá đặc trưng: Là một thành phố nằm ở trung
tâm đồng bằng Bắc Bộ, cái nôi của văn hoá Việt Nam với hàng ngàn năm lịch 15 sử. Hà Nội đã trở thành biểu tượng của sự kết tinh của văn hoá Việt Nam. Nét
văn hoá ấy được thể hiện trước hết qua hình ảnh của người Hà Nội. Từ lâu
người Hà Nội đã được biết đến như biểu tượng của sự thanh lịch và tao nhã.
Tiếp xúc với người Hà Nội ta cảm nhận được mọt sự thân thiện, chân tình và
cởi mở. Vì thế nhân dân ở khắp mọi miền đất nước vẫn thường nói nhiều về
người Hà Nội với câu: “Không thơm cũng thể hoa Nhài, dẫu không thanh lịch
cũng ngƣời Tràng An”.
Văn hoá Hà Nội còn được thể hiện qua những câu truyện truyền thuyết,
qua những nhịp phách ca trù, tiếng trống chèo và những món ăn đặc sản mà
bất cứ ai dù mới chỉ nghe thôi cũng đã thấy vương vấn trong lòng.
chức tài chính quốc tế, nguồn vốn huy động từ các thành phần kinh tế khác
đầu tư vào du lịch…
Về hạ tầng du lịch :Năm 2006, thành phố đưa ra chiến lược thu hút vốn
đầu tư vào xây dựng khách sạn cao cấp với mục tiêu khoảng 12,55 triệu đôla
Mỹ. Dự án đầu tư tôn tạo khu di tích Cổ Loa đã nhận được nguồn vốn gần
63,207 tỷ đồng. Thành phố cũng đã đầu tư nâng cấp tuyến đường dẫn đến khu
nghỉ dưỡng cuối tuần gần đền Sóc với mức đầu tư gần 98 tỷ đồng. Ngoài ra
còn nhiều dự án khác cũng được chú trọng đầu tư như dự án xây dựng cảng
du lịch Bát Tràng, dự án xây dựng một số bến bãi cho khách du lịch trên
tuyến sông Hồng[23]…
Về thành lập doanh nghiệp: Với sự ra đời của luật doanh nghiệp, việc
cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế và nội địa cũng như kinh doanh
khách sạn đã thông thoáng hơn, tạo điều kiện cho hàng loạt doanh nghiệp mới
ra đời phát huy được hết tiềm năng sẵn có của mình. Chỉ tính riêng trong giai
đoạn 2001- 2005, thành phố Hà Nội đã cấp thêm đăng kí kinh doanh cho hơn
8000 doanh nghiệp trong lĩnh vực lữ hành và dịch vụ du lịch, 7000 doanh
nghiệp đăng ký kinh doanh ngành khách sạn và hơn 4000 doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực vận chuyển khách du lịch. Nhiều doanh nghiệp lữ hành 17 Hà Nội đã mở chi nhánh tại các thành phố khác như TP Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng, Hải Phòng, Lào Cai…
Về hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực: Nhằm xây dựng một đội ngũ nhân
viên làm du lịch có chất lượng cao, thành phố Hà Nội không ngừng nâng
cao chất lượng đào tạo với nội dung và hình thức luôn đổi mới, thiết
thực…Ngành du lịch của Thành phố có một hệ thống đào tạo tương đối
hoàn chỉnh từ trung học dạy nghề lên đến bậc cao đẳng ( năm 2003 trường
1.2.6.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên.
- Thuỷ văn: Hệ thống sông hồ trên địa bàn Hà Nội khá dày, khoảng
0,5 - 1km/km
2
và thuộc 2 hệ thống sông chính: Sông Hồng và sông Thái
Bình. Độ dốc của sông nhỏ, các dòng uốn khúc quanh co.
Hệ thống sông Hồng đoạn qua Hà Nội dài khoảng 93km, gồm sông
Nhuệ, sông Đáy, sông Tích và sông Đuống. Hệ thống sông Thái Bình thuộc
phía Đông Bắc của thành phố gồm sông Công, sông Cầu và sông Cà Lồ. Từ
lâu tuyến du lịch sông Hồng – Bát Tràng- Đền Chử Đồng Tử đã được đưa vào
khai thác và rất hấp dẫn du khách.
Hà Nội còn là một trong những thủ đô có số lượng hồ ao lớn nhất
thế giới. Hà Nội có tới 3.600 ha hồ ao, đầm với nhiều hồ đầm lớn như Hồ
Tây, hồ Trúc Bạch, hồ Hoàn Kiếm, hồ Bảy Mẫu, hồ Giảng Võ, hồ Ngọc
Khánh, hồ Thủ Lệ….
Trong số đó tiêu biểu là hồ Tây với diện tích khoảng 500 ha, cùng với
vùng đất xung quanh hồ có khả năng tổ chức thành trung tâm du lịch và giao
dịch quốc tế có tầm cỡ ở vùng Đông Nam Á. Hồ Tây là hồ lớn nhất ở Hà Nội,
nó được coi là “lá phổi lớn” của thành phố. Hồ Tây là một hồ móng ngựa,
thực chất là một đoạn của sông Hồng cũ sau khi sông đã đổi dòng.
Hồ Trúc Bạch xưa liền với hồ Tây, đến năm 1620 sau khi đắp đập Cổ
Ngư (nay là đường Thanh Niên) mới phân ra 2 hồ riêng biệt: hồ Trúc Bạch và 19 hồ Tây. Cũng như hồ Tây, hồ Trúc Bạch cũng có giá trị lớn về kinh tế, tham
quan du lịch và điều hoà khí hậu cho vùng.
Nói tới Hà Nội, chúng ta không thể không nói tới hồ Hoàn Kiếm. Hồ
loài cây khác nhau như: xà cừ, bằng lăng, phượng, hoa sữa… được trồng
trên khắp các đường phố.
So với thành phố Hồ Chí Minh thì số lượng cây xanh của Hà Nội lớn
hơn nhiều nhưng so với thủ đô của một số nước như Singapore, Manila thì
mức độ còn thua kém nhiều.
Hà Nội có trên 30 vườn hoa công viên với 377 ha thảm cỏ. Vườn Bách
thảo Hà Nội được xây dựng cách đây hơn 100 năm (vào năm 1890) đến nay
vẫn còn nhiều lọai cây quý hiếm, kích thước lớn, cành lá sum suê, tán rộng,
bóng dài với nhiều bồn hoa đẹp, thật sự cuốn hút du khách.
Các làng hoa và cây cảnh ở Hà Nội như Nghi Tàm, Quảng Bá…
vốn rất nổi tiếng và có truyền thống từ lâu đời. Đây cũng chính là những
điểm du lịch hấp dẫn du khách.
Ở các vùng đồi núi như Sóc Sơn hay ở vùng phụ cận dãy núi Ba Vì,
thảm thực vật tự nhiên đã bị phá huỷ khá nhiều. Chỉ ở những nơi độ cao trên
300m còn một số cánh rừng nguyên sinh còn sót lại. Tuy nhiên, hiện nay Hà
Nội đã tu bổ và trồng mới được hàng chục ngàn ha rừng để phủ xanh đất
trống đồi trọc trong đó có những loài phát triển tốt như thông, bạch đàn, keo
vừa làm đẹp thêm phong cảnh tự nhiên lại vừa mang lại hiệu quả kinh tế, bảo
vệ môi trường thu hút khách du lịch.
Hà Nội cũng là nơi dễ thích nghi và nuôi dưỡng nhiều loài động vật
chẳng những cung cấp đầy đủ các sản phẩm cho đời sống như thịt cá,
trứng, sữa mà còn bảo tồn và phát triển nhiều lọai động vật quý hiếm
trong các vườn thú. Vườn thú Hà Nội đã nuôi và cho sinh sản được 23/30
cá thể một số loài thuộc họ trĩ. Đặc biệt đây là nơi đầu tiên trên thế giới
nuôi được loài cầy vằn, một loài thú quý hiếm đặc hữu của Việt Nam, có
giá trị kinh tế cao mà thế giới quan tâm[17,tr.11]. 21
Bảng 1.2: Số lƣợng di tích lịch sử đã xếp hạng của Hà Nội so với 2 trung
tâm du lịch lớn của cả nƣớc
STT
ĐỊA BÀN
DI TÍCH ĐÃ XẾP HẠNG
TỶ LỆ %
Cả nước
2504
100
1
Hà Nội
509
20,32
2
Thừa Thiên – Huế
311
12,42
3
Thành Phố Hồ Chí Minh
45
1,79
4
Các tỉnh và thành phố khác
1693
65,45
Nguồn: [17,tr.21]
Quận Ba Đình 23 6
Đền Voi Phục
Quận Ba Đình
7
Hồ Hoàn Kiếm và các di tích quanh hồ
Quận Hoàn Kiếm
8
Văn Miếu Quốc Tử Giám
Quận Đống Đa
9
Chùa Kim Liên, Chùa Láng
Quận Đống Đa
10
Di tích Đống Đa
Quận Đống Đa
11
Hồ Tây và các di tích quanh hồ
Quận Tây Hồ
12
Đền Hai Bà Trưng
Quận Hai Bà Trưng
13
Di tích Cổ Loa
Huyện Đông Anh
tâm tìm hiểu của nhiều du khách, có sức hấp dẫn du khách rất lớn, góp phần
làm tăng chi tiêu và thay đổi cơ cấu chi tiêu của du khách. Các làng nghề nổi
tiếng như là: Nghề làm tranh dân gian Hàng Trống, Đúc đồng Ngũ Xó,
nghề gốm sứ Bát Tràng, Cốm Vũng…
- Các bảo tàng và các cơ sở văn hoá nghệ thuật: Hà Nội là nơi tập trung
những bảo tàng lớn và quan trọng nhất của nước ta. Du khách đến Hà Nội sẽ
được sống lại với lịch sử Việt Nam qua các viện bảo tàng: Cách Mạng, Lịch
sử, Quân đội, Dân tộc học… Hà Nội hiện có 22 bảo tàng ( trong đó có 1 bảo
tàng quốc tế, 5 bảo tàng quốc gia), chiếm 20,4% trong cả nước. Đặc biệt về
giá trị thì các bảo tàng ở Hà Nội chiếm vị trí hàng đầu trong cả nước, những
bảo tàng này có vai trò đặc biệt quan trọng đã phản ánh được một cách hàm
súc và đầy đủ những chặng đường lịch sử phát triển của dân tộc ta, những nét
đặc trưng về văn hoá và con người Việt Nam. Cho đến nay các bảo tàng
luôn chiếm vị trí quan trọng trong các chương trình du lịch thăm thành
phố. Đặc biệt bảo tàng Lịch sử thường là điểm xuất phát đầu tiên của các
tour du lịch tham quan thủ đô. Hà Nội còn có các trung tâm văn hoá lớn,
là nơi tập trung của nhiều trường đại học. Bên cạnh đó là các công trình
văn hoá khác như: cung văn hoá, thư viện, nhà hát, phòng trưng bày triển
lãm nghệ thuật thu hút những du khách có trình độ văn hoá cao [17,
tr.26].