Phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
= = =  = = =
NGUYỄN THỊ BÍCH HUYỀN PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÔNG THÔN
TẠI NINH BÌNH LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH


LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ ANH TUẤN

HÀ NỘI – 2012 3
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ 3
MỞ ĐẦU 4
1. Tính cấp thiết của đề tài 4
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 9
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 9
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 10
6. Cấu trúc của đề tài 11
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH NÔNG THÔN 12
1.1. Du lịch và các loại hình du lịch 12
1.1.1. Du lịch 12
1.1.2. Xu hướng phát triển các loại hình du lịch 14
1.2. Du lịch nông thôn 17
1.2.1. Khái niệm và các loại hình của du lịch nông thôn 17

3.2. Các giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình 75
3.2.1. Liên kết và phát triển sản phẩm 75
3.2.2. Giải pháp nâng cao chất lượng CSVC-KT 75
3.2.3. Phát triển du lịch nông thôn gắn với lợi ích của cộng đồng 76
3.2.4. Xây dựng mô hình tổ chức du lịch nông thôn phù hợp 78
3.2.5. Tăng cường hoạt động xúc tiến quảng bá 81
3.3. Các khuyến nghị 82
KẾT LUẬN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC

5
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1.
Kết quả kinh doanh du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2001 - 2006
Bảng 2.2.
Kết quả kinh doanh du lịch tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2007 - 2010
Bảng 2.3.
Cơ cấu nguồn khách quốc tế đến Ninh Bình giai đoạn 2001- 2010
Bảng 2.4.
Thực trạng lao động Ninh Bình giai đoạn 2005 - 2009 Bảng 2.5.
Số lượng cơ sở lưu trú tại TP và các huyện Ninh Bình tính đến
tháng 12/2010
Bảng 2.6.


6
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Với điều kiện tự nhiên, địa hình thổ nhưỡng đa dạng từ Bắc vào Nam và
với điều kiện của các khu đồng bằng châu thổ, Việt Nam là quốc gia có tiềm
năng phát triển ngành nông nghiệp một cách đa dạng. Đến thời điểm này, vẫn
khoảng 80% lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp.
Trải qua một thời gian dài, ngành nông nghiệp của Việt Nam đã có những
bước phát triển vượt bậc, đóng góp không nhỏ vào thu nhập GDP, đảm bảo an
ninh lương thực không chỉ cho Việt Nam mà còn đóng vai trò quan trọng đối
với thế giới.
Tuy vậy, nền kinh tế đang trong quá trình phát triển theo hướng thay đổi
cơ cấu nền kinh tế theo hướng tiến bộ, phát triển công nghiệp làm nền tảng đi
đôi với phát triển mạnh lĩnh vực thương mại và dịch vụ, trong bối cảnh đó
lĩnh vực nông nghiệp chịu những ảnh hưởng không nhỏ, biểu hiện ở việc diện
tích đất canh tác bị thu hẹp, chuyển đổi mục đích, hiệu quả sử dụng thấp.
Mặt khác, quá trình đô thị hoá đang diễn ra mạnh mẽ cũng là một trong
những tác nhân ảnh hưởng đến lĩnh vực nông nghiệp. Việc thay đổi cơ cấu
kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ là hướng
đúng đắn tuy vậy với tỉ lệ gần 70% dân số vẫn phụ thuộc vào nông nghiệp
như Việt Nam hiện nay thì việc duy trì và phát triển nông nghiệp, nông thôn
theo hướng bền vững đã và đang trở thành một vấn đề mang tính bức thiết.
Theo đó, vấn đề phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, xây dựng nông
thôn mới trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam đã trở thành vấn đề thời sự,
được sự quan tâm của toàn xã hội.
Để giải quyết vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền
vững, việc gắn kết giữa hoạt động sản xuất nông nghiệp với các loại hình dịch
vụ thu hút lao động, khai thác các giá trị về tài nguyên của địa phương, đặc

biểu của Đồng bằng Bắc bộ, đặc biệt là những ngôi nhà đẹp điển hình của
làng quê Ninh Bình, cung cấp thiết kế miễn phí, hướng dẫn xây dựng đối với
dân cư đang sinh sống trong các khu du lịch chính, như Tràng An, Cố đô Hoa

8
Lư, Tam Cốc - Bích Động và các khu tái định cư, nhằm tạo cảnh quan cho
khu du lịch, tạo tiền đề phát triển loại hình du lịch ở nhà dân, đưa loại hình
du lịch này trở thành phổ biến”. Đây là cơ sở mang tính nền tảng thể hiện rõ
sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh Ninh Bình đối với phát triển du lịch nói chung
và loại hình du lịch gắn với nông thôn nói riêng.
Tuy đã có những định hướng về việc phát triển nhưng chưa định hình được
mô hình phát triển thế nào cho phù hợp. Vấn đề đặt ra là: xây dựng mô hình
phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình như thế nào để khai thác, phát huy
được những thế mạnh về tài nguyên và con người của Ninh Bình là vấn đề
cần được quan tâm làm rõ.
Xuất phát từ những lý do đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Phát triển du lịch
nông thôn tại Ninh Bình” để làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Nghiên cứu về loại hình du lịch
Trong nghiên cứu về các loại hình du lịch có nhiều học giả nghiên cứu và
đưa ra các quan điểm khác nhau. Trong thời gian gần đây, cùng với sự biến
đổi trong nhu cầu du lịch, nhận thức của khách du lịch cũng có những biến
đổi, bên cạnh đó những biến đổi của môi trường, sự suy thoái của tài nguyên
du lịch đang diễn ra phổ biến như hiện nay, quan điểm phát triển du lịch mang
tính đại chúng đã thay đổi và quan điểm phát triển du lịch bền vững đã được
quan tâm và phát triển trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Nhiều loại hình du lịch mới như Du lịch sinh thái, Du lịch cộng
đồng…được quan tâm nghiên cứu và phát triển. Tại Việt Nam, Du lịch sinh
thái, du lịch cộng đồng…cũng được quan tâm đặc biệt.
Trong trong nghiên cứu của mình, học giả Phạm Trung Lương (1996) đã

cung cấp thông tin giúp cho chủ nông trại và chủ trang trại chăn nuôi xác định
tiềm năng du lịch, vạch ra các bước để thu hút khách du lịch đến tham quan.
Tác giả Dr. Peter William, Kathryn và Kim C.Smith (2004), trong nghiên
cứu có tiêu đề “Cultivating Agritourism: Tools and techniques for building
success” đã đưa ra những căn cứ khoa học cho việc tiếp cận du lịch nông thôn
và cách thức để kinh doanh loại hình này một cách hiệu quả.

10
Hội đồng doanh nghiệp nông nghiệp Oregon (2003), đã đưa ra những chỉ
dẫn về những cách thức xây dựng một doanh nghiệp thành công thông qua
marketing nông nghiệp trực tiếp trong cuốn sách “Cẩm nang du lịch nông
nghiệp”.
Tác giả Malinda Geisler (2002), đã đưa ra các thông tin về tổ chức các tour
học tập, liên hoan, các hoạt động giáo dục tại nông thôn. Và đưa ra các cơ hội
đối với các nhà sản xuất nông nghiệp trong việc phục vụ và phát triển du lịch
nông thôn trong nghiên cứu có tựa đề “Du lịch nông nghiệp”.
Ở Việt Nam, du lịch nông thôn vẫn còn là loại hình du lịch mới, nhưng
cũng đã có một số các công trình nghiên cứu, bài báo được đăng trên các tạp
chí đã được công bố. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đề tài đã liệt kê được
các nghiên cứu về loại hình du lịch có liên quan đến nông thôn và cộng đồng
địa phương.
Đề tài cấp bộ của Trường cao đẳng nghề du lịch Hải Phòng (2007) có đề
cập đến du lịch nông thôn với đề tài: “Xây dựng mô hình du lịch nông thôn
ven biển ở Việt Nam - Ví dụ ở Hải phòng”.
Tác giả Lê Anh Tuấn (2010), giới thiệu một số kinh nghiệm phát triển du
lịch nông thôn ở một số quốc gia Châu Âu và Châu Á, và đề xuất những kinh
nghiệm phát triển du nông thôn ở Việt Nam. Trong nghiên cứu “Du lịch nông
nghiệp và du lịch nông thôn”, tác giả Bùi Thị Lan Hương (2009), đã chỉ rõ
sự khác biệt giữa du lịch nông nghiệp và du lịch nông thôn.
Trên đây là một số công trình nghiên cứu về loại hình du lịch nông thôn

của loại hình du lịch này tại Ninh Bình.
- Phương pháp điền dã
Đây là phương pháp để nghiên cứu loại hình du lịch nông thôn nhằm góp
phần làm cho kết quả nghiên cứu có tính xác thực. Việc có mặt tại thực địa sẽ
giúp cho tác giả đưa ra những giải pháp hợp lý và khả thi.
Trong quá trình điền dã, tác giả có điều kiện đối chiếu, bổ sung nhiều
thông tin cần thiết mà các phương pháp khác không cung cấp hoặc cung cấp
chưa chính xác.
- Phương pháp điều tra xã hội học

12
Tác giả thực hiện phương pháp này thông qua hệ thống các câu hỏi đối với
3 đối tượng là: khách du lịch, công ty du lịch và người dân địa phương. Với
mục đích là nắm bắt được nhu cầu, nguyện vọng của khách du lịch, người dân
địa phương cũng như của các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tại Ninh Bình.
Đối với phiếu điều tra dành cho công ty lữ hành, đề tài xây dựng 20 câu
hỏi, tiến hành điều tra doanh nghiệp kinh doanh lữ hành trên địa bàn thành
phố Ninh Bình. Để hoàn thành được nội dung này, tác giả thực hiện trong 10
ngày (Từ 1/5 - 10/5/2011).
Đối với phiếu điều tra dành cho người dân địa phương, đề tài xây dựng 20
câu hỏi, tiến hành điều tra 50 gia đình tại 5 thôn (Phụ Long, Chi Lễ, Mai
Trung, Trung Hoà, Tập Ninh) của xã Gia Vân, xã Gia Hoà (huyện Gia Viễn)
và xã Ninh Hải (huyện Hoa Lư). Nội dung này được thực hiện trong 15 ngày
(Từ 11/5 – 25/5/2011).
Đối với phiếu điều tra dành cho khách du lịch, đề tài xây dựng 23 câu hỏi,
tiến hành điều tra khách du lịch tại điểm du lịch Tam Cốc – Bích Động và
KBTTN đất ngập nước Vân Long của huyện Gia Viễn và Hoa Lư và các đối
tượng khách khác. Phiếu điều tra được thực hiện trong 10 ngày (Từ 26/5/2011
– 6/6/2011).
- Phương pháp dự báo
14
NỘI DUNG

CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH NÔNG THÔN

1.1. Du lịch và các loại hình du lịch
1.1.1. Du lịch
Ngay từ buổi đầu của nền văn minh nhân loại, du lịch đã được biết đến
như một hoạt động, một sở thích tích cực của con người. Cùng với quá trình
của lịch sử du lịch dần trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống
văn hoá - xã hội của các nước. Đến nửa đầu của thế kỷ 20 thì du lịch đã là
một hiện tượng phổ biến. Và theo dự báo trong thế kỷ 21 du lịch sẽ trở thành
1 trong 3 ngành hàng đầu trong nền kinh tế thế giới nói chung.
Đứng trên quan điểm khác nhau nhiều học giả đã đưa ra định nghĩa về
du lịch. Năm 1811, lần đầu tiên có định nghĩa về du lịch tại Anh như sau: “Du
lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành
trình với mục đích giải trí. Ở đây sự giải trí là động cơ chính”. [5,tr. 3]
Theo Azar: “Du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời
từ vùng này sang vùng khác, từ một nước này sang một nước khác nếu không

Theo Trần Nhoãn “Du lịch là quá trình hoạt động của con người rời
khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là được
thẩm nhận những sắc thái văn hóa và cảnh quan thiên nhiên vùng, miền khác
với nơi cư trú thường xuyên”. [12, tr. 27]
Để có quan niệm đầy đủ cả về góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch,
khoa Du lịch và Khách sạn (trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội) đã đưa
ra định nghĩa trên cơ sở tổng hợp những lý luận và thực tiễn của hoạt động
trên thế giới và Việt Nam trong những thập niên gần đây: “Du lịch là một
ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất,
trao đổi hàng hoá và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu
cầu về đi lại, lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và nhu cầu khác
của khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế, chính trị, xã
hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp”. Trong
Luật du lịch của Việt Nam thì thuật ngữ “Du lịch” được hiểu như sau: “Du

16
lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình
nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng
thời gian nhất định”. [9, tr. 9]
Như vậy, du lịch là hoạt động có nhiều đặc thù, gồm nhiều thành phần
tham gia, tạo thành một tổng thế hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có
đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành văn hoá - xã hội.
Trên thực tế, hoạt động du lịch ở nhiều nước chẳng những đã đem lại
lợi ích kinh tế mà còn cả lợi ích chính trị, văn hoá, xã hội Ở nhiều nước
trên thế giới, ngành du lịch phát triển với tốc độ khá nhanh và trở thành ngành
kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, nguồn thu nhập từ ngành du lịch
chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm xã hội.
Chính vì những lẽ trên, hội nghị du lịch thế giới họp tại Manila,
Philippin (1980) đã ra tuyên bố Manila về du lịch, trong điều 2 ghi rõ
“ Trước ngưỡng cửa của thế kỷ 21 và trước triển vọng của những vấn đề

quan tâm của nhiều người hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau từ những
góc độ tiếp cận khác nhau. Đối với một số người DLST chỉ đơn giản là sự
ghép nối giữa hai khái niệm “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc. Tuy
nhiên, đứng ở góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì “DLST là một loại hình
du lịch thiên nhiên”. Như vậy, với cách tiếp cận này, mọi hoạt động của du
lịch có liên quan đến thiên nhiên như: tắm biển, leo núi đều được hiểu là
DLST.
- Du lịch bền vững: Du lịch bền vững được hiểu như sau“ Du lịch bền
vững là sự đáp ứng được các nhu cầu hiện tại không làm tổn hại đến khả năng
đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai".
Du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên theo
cách nào đó để chúng ta có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm
mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các quá trình sinh thái cơ bản,
đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự sống.
- Du lịch cộng đồng: Theo tổ chức Quỹ bảo tồn Thiên nhiên Thế giới
(WWF):” Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà ở đó cộng đồng địa
phương có sự kiểm soát và tham gia chủ yếu vào sự phát triển và quản lý hoạt

18
động du lịch đó; và phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch được
giữ cho cộng đồng”.
Du lịch cộng đồng phải hiểu ý nghĩa của nó ở cả hai khía cạnh: Thứ
nhất là khai thác được các giá trị văn hoá bản địa. Thứ hai là tạo được công ăn
việc làm, cải thiện thu nhập, nâng cao được đời sống của cộng đồng và có ý
nghĩa lớn trong xoá đói giảm nghèo. Để thành công được điều này, phải quan
tâm đến lợi ích cộng đồng đầu tiên, từ đó phát huy giá trị của văn hoá bản địa
để phục vụ du khách.
Du lịch cộng đồng đem lại lợi ích thiết thực đối với người dân thể hiện
ở chỗ: Trước hết, người dân có được nguồn thu trực tiếp từ các dịch vụ cung
cấp cho khách và những nguồn thu này đôi khi lớn hơn rất nhiều so với sản

về đặc trưng văn hoá của địa phương. Nhằm khôi phục và giữ gìn các trò chơi
dân gian, lễ hội truyền thống, sinh hoạt văn hoá cộng đồng Giúp cộng đồng
nhận thấy trách nhiệm và lợi ích của việc bảo tồn các giá trị văn hoá với phát
triển kinh tế địa phương.
Như vậy, có thể nói với xu thế hiện nay bên cạnh các loại hình du lịch
đại chúng thì phát triển những loại hình du lịch mới, hướng đến môi trường và
lợi ích của dân cư địa phương, và du lịch nông thôn là một ví dụ.
1.2. Du lịch nông thôn
1.2.1. Khái niệm và các loại hình của du lịch nông thôn
1.2.1.1. Khái niệm về du lịch nông thôn
Trong những năm gần đây, trong xu hướng đa dạng hóa các loại hình
du lịch, du lịch nông thôn được quan tâm phát triển. Xem xét khái niệm du
lịch nông thôn, có nhiều quan điểm khác nhau.
Theo quan điểm của các nhà quy hoạch Châu Âu, vùng nông thôn được
hiểu là những khu vực được xác định dưới 2000 dân (đôi khi dưới 5000 dân)
có tính đến các hoạt động kinh tế và trắc diện của dân cư liên quan.
Theo họ, không gian nông thôn là những khu vực đang trong tình trạng
trì trệ hoặc suy thoái về mặt dân số hoặc kinh tế, không kể miền núi hay đồng
bằng, trong khu vực còn tự nhiên hay ở vùng nông nghiệp.

20
Ở Việt Nam, vùng nông thôn được quan niệm là những khu vực được
cư trú theo làng xã, với hoạt động kinh tế chính là nông nghiệp, ngư nghiệp
hoặc thủ công nghiệp, kết cấu hạ tầng còn hạn chế và vẫn duy trì lối sống
nông thôn.
Trong thực tế, qua quá trình phát triển, du lịch nông thôn (rural tourism)
có nhiều cách gọi khác nhau, phụ thuộc vào cách hiểu và cách thức thể hiện
theo nội dung chủ yếu của hoạt động du lịch nông thôn được tổ chức, cụ thể:
- Tại các quốc gia Châu Âu: Rural tourism
- Tại Úc: Farmtourism

du lịch nào nhằm giới thiệu cuộc sống, văn hoá, nghệ thuật và các di sản của
vùng quê, nhờ đó mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng địa phương,
đồng thời làm tăng sự tiếp xúc, giao lưu giữa khách du lịch với người dân bản
địa thông qua các hoạt động du lịch đa dạng. Du lịch nông thôn về cơ bản là
những hoạt động diễn ra ở các làng quê. Đây là hoạt động rộng lớn, có thể
bao gồm cả du lịch nông nghiệp, du lịch văn hoá, du lịch thiên nhiên, du lịch
mạo hiểm và du lịch sinh thái”
Hay có học giả định nghĩa “Du lịch nông thôn là loại hình du lịch dựa
vào các giá trị thiên nhiên và văn hoá vùng nông thôn nhằm thoả mãn nhu cầu
nghỉ ngơi, giải trí, nghỉ dưỡng phục hồi sức khoẻ và tìm hiểu tập quán văn
hoá làng quê, mang lại những lợi ích cho cộng đồng địa phương và đóng góp
cho việc bảo tồn các di sản”.
Ngoài ra, xem xét mối quan hệ giữa du lịch và hoạt động sản xuất
nông nghiệp, du lịch nông thôn còn được quan niệm “Là hình thức du lịch mà
tận dụng văn hoá nông thôn như là một điểm du lịch. Nó tương tự như du lịch
sinh thái ngoại trừ hấp dẫn chính của nó không phải là cảnh quan thiên nhiên
mà là văn hóa. Agrotourism thúc đẩy phát triển khu vực để đảm bảo rằng nó
cũng giúp bảo tồn đa dạng và giúp cho người dân hiểu được giá trị về sinh
thái và văn hoá cần được bảo vệ”.
Trong thực tế có sự khác biệt trong quan niệm về loại hình du lịch nông
thôn, thông qua cách gọi, thông qua quan niệm. Tại các quốc gia đang phát
triển, người ta xem du lịch nông thôn là cách thức để đa dạng hóa thu nhập từ

22
nông nghiệp, góp phần chống đói nghèo, phát huy sức mạnh nội lực của cộng
đồng, bảo tồn các giá trị bản sắc văn hóa truyền thống và bảo vệ môi trường.
Vì vậy, du lịch nông thôn ở các nước này phát triển theo chiều rộng.
Ở các quốc gia phát triển thì loại hình du lịch này lại phát triển theo
chiều sâu mà nguyên nhân chính là do các khu vực nông thôn ngày càng bị
thu hẹp lại.

du lịch nông thôn.
- Hình thức cuối của du lịch nông thôn là du lịch nông nghiệp, ngư
nghiệp, lâm nghiệp, trong đó khách du lịch tham quan và tham gia vào các
hoạt động sản xuất của người dân địa phương.
Với các hình thức của du lịch nông thôn như đã nêu ở trên, ta có thể
tổng kết lại rằng dù với hình thức nào thì du lịch nông thôn cũng hướng đến
mục tiêu là mang giá trị tự nhiên và văn hoá của nông thôn đến với mọi người
nhằm bảo tồn các giá trị truyền thống. Hơn thế nữa, đề cao các giá trị truyền
thống giúp người dân địa phương nâng cao được mức sống của mình.
Việc phát triển du lịch nông thôn cần phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, bảo đảm tính công bằng cho các chủ thể tham gia. Phải đảm
bảo tính công bằng cho tất cả mọi người dân đã tham gia nhằm tạo lòng tin
của người dân. Có như thế thì mới có sự kết hợp bền chặt với người dân và
như thế mới có được sự phát triển lâu dài.
Thứ hai, đem lại lợi ích cho người dân địa phương và phát huy nội lực
ở từng địa phương. Đây là tiêu chí khá quan trọng bởi chỉ khi có lợi ích thì
người dân cũng như chính quyền địa phương mới tham gia vào loại hình du
lịch nông thôn. Và khi người dân nhận thức được quyền lợi của họ quan trọng
như thế nào thì khi đó họ mới nỗ lực hết mình cùng địa phương phát triển loại
hình du lịch này.
Thứ ba, bảo tồn phát huy vốn di sản và bảo vệ môi trường. Không chỉ
loại hình du lịch nông thôn mà tất cả các loại hình du lịch khác đều phải bảo
tồn di sản và bảo vệ môi trường bởi chúng ta khai thác, phát triển không chỉ
cho hiện tại mà cho tương lai, cho thế hệ mai sau đảm bảo cho phát triển bền
vững.

24
Thứ tư, luôn đổi mới và tạo sự khác biệt và tăng cường mối liên kết
theo chiều dọc và chiều ngang để làm phong phú thêm sản phẩm. Bởi nếu
chúng ta không biết đổi mới thì sẽ tạo sự nhàm chán cho du khách khi quay

khách bổ sung cho du lịch nông thôn.
Như vậy, khách du lịch nông thôn chủ yếu là khách ngoại quốc, người
dân sống ở trung tâm đô thị và các đối tượng có nhu cầu tiếp cận nông thôn
trực tiếp nhằm thỏa mãn các nhu cầu du lịch ở nông thôn và có tiêu dùng ở
nơi đến như đã trình bày ở phần trên. Phần lớn họ là giới trẻ, có sức khỏe,
thích thể hiện bản thân, thích thử sức, tìm tòi, khám phá, học hỏi. Các nhóm
đối tượng học sinh, sinh viên, công chức thành thị thuộc phần lớn trong
nhóm này.
Còn người dân địa phương đóng vai trò là người hướng dẫn khách du
lịch các hoạt động và có vai trò quan trọng để hoạt động diễn ra thuận lợi.
Đối tượng gián tiếp là các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, các cấp
quản lý về du lịch ở tỉnh/thành phố. Đây là đối tượng đưa ra chương trình du
lịch nông thôn đến với du khách, và các chính sách quản lý cũng như định
hướng cho phát triển loại hình này tại các địa phương.
Đối tượng tham quan: là cảnh quan thôn xóm, phong tục tập quán và
hoạt động canh tác sản xuất. Trong ba nhân tố này thì cả 3 đều có ý nghĩa
quyết định đến thành công chương trình du lịch nông thôn.
Hoạt động: Có thể xác định được cần phải đáp ứng các nhu cầu dưới
đây của du khách.
 Nhu cầu thư giãn, gần gũi thiên nhiên, hoạt động ngoài trời
 Nhu cầu khám phá kho tàng văn hóa nghệ thuật dân gian
 Nhu cầu thưởng thức ẩm thực dân gian, các món ăn cổ truyền,
 Nhu cầu tìm hiểu các lễ hội truyền thống, các sản vật địa
phương…
 Nhu cầu tìm hiểu đời sống cư dân nông thôn
 Nhu cầu trãi nghiệm thực tế
 Nhu cầu nghiên cứu, học tập
 Nhu cầu thăm viếng gắn liền với địa danh, sự kiện, nhân vật
Không gian hoạt động du lịch: phạm vi là các vùng nông thôn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status