1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN
= = = = = =
NGUYỄN THỊ BÍCH HUYỀN PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÔNG THÔN
TẠI NINH BÌNH LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. LÊ ANH TUẤN
HÀ NỘI – 2012 1
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ 4
MỞ ĐẦU 5
1. Tính cấp thiết của đề tài 5
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 10
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 10
5. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 11
6. Cấu trúc của đề tài 12
NỘI DUNG 13
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH NÔNG THÔN 13
1.1. Du lịch và các loại hình du lịch 13
1.1.1. Du lịch 13
1.1.2. Xu hướng phát triển các loại hình du lịch 15
1.2. Du lịch nông thôn 18
2.2.2.3. Thực trạng khai thác hoạt động du lịch nông thôn tại huyện Hoa
Lư và Gia Viễn 62
2.3. Tình hình kinh doanh du lịch nông thôn tại Ninh Bình 67
2.4. Đánh giá về hoạt động du lịch nông thôn tại Ninh Bình 74
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH NÔNG THÔN TẠI
NINH BÌNH 78
3.1. Định hƣớng phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình 78
3.1.1. Định hướng chung 78
3.1.2. Định hướng cho huyện Hoa Lư và Gia Viễn 79
3.2. Các giải pháp phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình 80
3.2.1. Giải pháp duy trì và bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống 80
3.2.2. Giải pháp nâng cao chất lượng CSVC-KT 81
3.2.3. Phát triển du lịch nông thôn gắn với lợi ích của cộng đồng 82
3.2.4. Xây dựng mô hình tổ chức du lịch nông thôn phù hợp 83
3.2.5. Nâng cao nhận thức người dân và bồi dưỡng nguồn nhân lực 86
3
3.2.6. Tăng cường hoạt động xúc tiến quảng bá 87
3.2.7. Liên kết và phát triển sản phẩm 88
3.3. Các khuyến nghị 88
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC
biệt là khai thác các giá trị nội tại của hoạt động sản xuất nông nghiệp để tạo
5
thu nhập ngoài các sản phẩm thuần túy nông nghiệp cho những người nông
dân là vấn đề đang được xã hội quan tâm đặc biệt.
Trong bối cảnh đó, việc phát triển loại hình du lịch gắn với nông thôn và
sản xuất nông nghiệp trong đó có dịch vụ du lịch được Việt Nam quan tâm.
Việc phát triển du lịch nông thôn không chỉ có ý nghĩa là phát triển một
loại hình du lịch mới, tạo ra cho du lịch Việt Nam những sản phẩm du lịch
khác biệt, mà nó như một phương pháp hiệu quả nhằm duy trì và bảo tồn và
lưu giữ những giá trị văn hoá truyền thống đang phải chịu áp lực của phát
triển kinh tế và quá trình đô thị hóa đang diễn ra phổ biến. Tuy nhiên, đây là
loại hình du lịch còn mới nên chưa thực sự được quan tâm phát triển theo
những hướng đi phù hợp.
Ninh Bình là tỉnh nằm ở phía Nam đồng bằng Bắc Bộ, có rừng núi, đồng
bằng, có vùng bán sơn địa, có biển và dải đồng bằng ven biển. Chính thế
mạnh này tạo cho Ninh Bình nguồn tài nguyên phong phú để phát triển du
lịch.
Quá trình đô thị hoá tại đây diễn ra chưa mạnh mẽ, tuy đã xuất hiện các
khu công nghiệp đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế địa phương, nhưng phần
lớn tại các làng quê còn giữ được nét truyền thống liên quan đến các phong
tục tập quán sinh hoạt, tập quán sản xuất độc đáo, các di tích lịch sử văn hoá
và kiến trúc nghệ thuật có giá trị. Với những đặc điểm như vậy, việc phát triển
du lịch nói chung và loại hình du lịch nông thôn là cần thiết và là thế mạnh
của Ninh Bình.
Về chủ trương, lãnh đạo của tỉnh Ninh Bình đã đưa ra được những chiến
lược dài hạn cho phát triển loại hình du lịch nông thôn, được trình bày trong
một số nội dung của nghị quyết số 15 - NQ/TU về phát triển du lịch đến năm
2020, định hướng đến năm 2030 của Tỉnh. Cụ thể, nghị quyết đã khẳng định:
“Nghiên cứu thiết kế hệ thống nhà mẫu theo phong cách những ngôi nhà tiêu
có nhiều cách gọi khác nhau, phụ thuộc vào cách hiểu và cách thức thể hiện
theo nội dung chủ yếu của hoạt động du lịch nông thôn được tổ chức, cụ thể:
- Tại các quốc gia Châu Âu: Rural tourism
- Tại Úc: Farmtourism
- Tại Đài Loan: Agro-tourism/Leisure Farm
- Tại Mỹ: Agritourism
- Tại Anh: Greentourism
Tuy cách gọi có khác nhau nhưng nội dung chủ yếu của hoạt động du
lịch trong loại hình du lịch nông thôn đều hướng về những vùng đất có khí
hậu trong lành, có hoạt động sản xuất của con người nhằm mục đích trải
nghiệm những giá trị tự nhiên và văn hoá địa phương.
Trong phạm vi luận văn này, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về du
lịch nông thôn như sau: “là loại hình du lịch mang đến sự trải nghiệm cho du
khách về các phương thức sản xuất, sinh hoạt của người dân địa phương có ý
nghĩa bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống đồng thời mang lại lợi ích kinh
tế cho cộng đồng dân cư tại các khu vực nông thôn”.
1.2.1.2. Biểu hiện và các nguyên tắc phát triển du lịch nông thôn
Du lịch nông thôn được biểu hiện thông qua các hình thức sau đây.
8
- Hình thức thứ nhất là du lịch tự nhiên. Du khách khi tham gia vào
loại hình du lịch này là trở về những khu vực tự nhiên như những vùng quê,
vùng núi, biển nhằm mục đích nghỉ ngơi, tái phục hồi sức lao động.
- Thứ hai là du lịch văn hoá, quan tâm tới văn hoá, lịch sử và khảo cổ
của địa phương. Hình thức này của du lịch nông thôn là du khách tham gia
vào các hoạt động văn hoá, lễ hội, thậm chí là các hoạt động liên quan tới lịch
sử hay khảo cổ của địa phương nơi khách tới.
- Thứ ba là du lịch sinh thái quan tâm tới việc bảo vệ nguồn lợi tự
nhiên cũng như phúc lợi, giá trị văn hoá của người dân địa phương. Hình thức
này coi trọng vấn đề bảo vệ nguồn lợi tự nhiên, coi trọng những nét văn hoá
với các yêu tố tự nhiên sẵn có, các sản phẩm nội tại của hoạt động sản xuất,
canh tác của người dân.
Phong tục tập quán: có thể gọi nhóm tài nguyên này là tài nguyên nhân
văn. Bao gồm các lễ hội, phương thức và không gian sống, đặc điểm sinh
hoạt, văn hoá ẩm thực của vùng nông thôn sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp
hay lâm nghiệp…. Đối với nhóm tài nguyên này dường như được bảo tồn
trong các gia đình nông dân và có giá trị thu hút mạnh mẽ đối với khách du
lịch.
Hoạt động canh tác, thu hoạch: là cách thức trồng cấy, thu hái hay cách
thức chăm sóc và chăn nuôi gia cầm, gia súc; hoạt động nuôi trồng và đánh
bắt thủy hải sản; hoạt động tại các vùng nông thôn mà hoạt động sản xuất
nông nghiệp là chủ yếu. Vùng hoạt động sản xuất lâm nghiệp thì hoạt động
chính ở đây là cách thức bắt các nguồn lợi từ biển hoặc cách thức chăn nuôi
thuỷ hải sản. Đối với vùng nông thôn mà hoạt động ngư nghiệp chiếm ưu thế
thì tài nguyên của hoạt động sản xuất chính là cách thức chăm sóc và khai
thác tài nguyên rừng sao cho phù hợp mà không làm tổn hại đến môi trường
tự nhiên.
Các hoạt động này có giá trị cho việc tạo cho du khách có được sự trải
nghiệm, thoả mãn nhu cầu hiểu biết và tò mò của du khách trong quá trình
tham gia vào hoạt động sản xuất tại các làng quê.
10
1.3.2. Cộng đồng dân cư
1.3.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng
1.3.4. Các chủ trương, chính sách
1.4. Sự phát triển của du lịch nông thôn trên thế giới và Việt Nam
1.4.1. Trên thế giới
Du lịch nông thôn đã được quan tâm và phát triển mạnh ở nhiều nước
Châu Âu từ những năm 30 của thế kỷ trước. Một số quốc gia ở Châu Âu như
Anh, Đức, Pháp và Ý đã có nhiều kinh nghiệm và được coi là những nước
phương thức đa dạng hóa chủ thể tham gia.
Ba là, hoàn thiện quy hoạch du lịch cho từng địa phương và tăng cường
quản lý để thực hiện các quy hoạch đã được phê chuẩn, tránh tình trạng làm
cho du lịch nông thôn kém tính bền vững.
Bốn là, tăng cường đầu tư kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất - kỹ thuật và
sản phẩm du lịch làm cho các làng trở nên dễ tiếp xúc hơn và tạo thuận lợi
trong liên kết giữa các làng, các khu vực trong thu hút khách du lịch.
Năm là, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý dịch vụ du lịch, mở các
lớp cho cán bộ chính quyền các địa phương nâng cao nhận thức về phát triển
du lịch; xây dựng các quy ước của các làng trong khai thác du lịch.
Sáu là, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp du lịch,
đưa chương trình đào tạo phát triển du lịch nông thôn vào các cơ sở đào tạo.
Bảy là, tăng cường mở rộng thị trường và tuyên truyền quảng bá cho
các chương trình du lịch nông thôn tại Ninh Bình.
Tiểu kết
Trong chương 1, tác giả đã nghiên cứu và đưa ra “Khái niệm về du lịch,
du lịch nông thôn”, các điều kiện phát triển cũng như quá trình phát triển của
du lịch nông thôn trên thế giới và Việt Nam. Trên cơ sở đó, đưa ra kinh
nghiệm phát triển du lịch nông thôn cho Ninh Bình.
Trên cơ sở lý luận đã nghiên cứu ở trên, đó sẽ là tiền đề để đưa ra được
thực trạng khai thác du lịch nông thôn tại Ninh Bình dựa trên những điều kiện
phát triển mà Ninh Bình đang có. 12
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN
DU LỊCH NÔNG THÔN TẠI NINH BÌNH
2.1. Giới thiệu về Ninh Bình
2.1.1. Tài nguyên phát triển Ninh Bình
254.375
218.805
287.900
329.847
375.017
Doanh thu
(triệu đồng)
30,56
40,41
41,61
51,00
63,18
87,997
Nguồn: Sở VH- TT và Du lịch Ninh Bình,2006
Từ bảng thống kê có thể nhận thấy lượng khách đến Ninh Bình tăng qua
các năm cả khách nội địa và quốc tế. Năm 2001, lượng khách đạt 510.700 lượt
đã tăng gấp đôi vào năm 2006. Từ đó doanh thu cũng tăng từ hơn 30,56 triệu
đồng lên tới 87,997 triệu đồng trong năm 2006. 13
BẢNG 2.2: KẾT QUẢ KINH DOANH DU LỊCH
TỈNH NINH BÌNH GIAI ĐOẠN 2007 -2010
Đơn vị tính: Lượt khách
Tiêu chí
2007
2008
thấp, chất lượng dịch vụ chưa cao; khách lưu trú, đặc biệt là khách quốc tế còn
rất ít; Quản lý nhà nước về du lịch đặc biệt là trật tự, vệ sinh môi trường các
khu, điểm du lịch còn hạn chế.
2.1.3. Nguồn nhân lực du lịch Ninh Bình
Bên cạnh yếu tố tài nguyên, thì nguồn nhân lực cũng là yếu tố quan trọng
để phát triển du lịch. Theo thống kê của ngành du lịch Ninh Bình thì tính đến
năm 2007, số lao động trực tiếp trong ngành du lịch tăng 2 lần so với năm 2003.
Số lượng lao động trong ngành được đào tạo chuyên môn chiếm tỷ lệ cao.
14
BẢNG 2.4: THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG DU LỊCH NINH BÌNH
GIAI ĐOẠN 2005 - 2009
Đơn vị: người
STT
Chỉ tiêu
2005
2006
2007
2008
2009
1
- Trình độ đại học, cao đẳng
85
183
196
214
230
- Trình độ trung cấp, sơ cấp
tạo chiếm tỷ lệ cao nhất và đây cũng là một thách thức không nhỏ đối với ngành
du lịch của Ninh Bình.
2.2. Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại Ninh Bình
2.2.1. Thực trạng phát triển chung
2.2.1.1. Tài nguyên phát triển du lịch nông thôn
Với địa thế thuận lợi Ninh Bình có nhiều điều kiện có thể phát triển mạnh du
lịch nông thôn. Nằm ở phía Nam châu thổ sông Hồng, Ninh Bình có nhiều kiểu
địa hình khác nhau như đồng bằng, núi đá vôi và gò đồi đá phiến, được phân
thành 3 vùng rõ rệt gồm: vùng đồi núi, nửa đồi núi; vùng đồng bằng trũng; vùng
đồng bằng ven biển và biển.
Vùng đồi núi, nửa đồi núi (còn gọi là vùng "bán sơn địa") với các dãy núi
đá vôi đan xen các thung lũng lòng chảo hẹp, đầm lầy, ruộng trũng ven núi, có
15
tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là đá vôi. Vùng này chủ yếu nằm ở huyện Nho
Quan, phía Bắc - Đông Bắc huyện Gia Viễn và phần lớn thị xã Tam Điệp. Các
vùng nửa đồi núi tuy không lớn nhưng lại phân bố rải rác, xen kẽ chạy dài từ
điểm cực Tây huyện Gia Viễn theo hướng Đông Nam qua huyện Hoa Lư, Yên
Mô xuống Kim Sơn (giáp huyện Nga Sơn - Thanh Hoá). Do qua trình kiến tạo
hơn 200 triệu năm về trước, dãy núi đá vôi ở phía Tây của Ninh Bình có nhiều
hang động đẹp như: Bích Động, Tam Cốc, Địch Lộng, Xuyên Thuỷ Động, Bàn
Long, Hoa Sơn… Đây là một nguồn tài nguyên để phát triển du lịch của Ninh
Bình. Với du lịch nông thôn thì địa hình này mang đến cho du khách cảnh quan
thiên nhiên hùng vĩ kết hợp với cánh đồng lúa, màu tạo cho môi trường và cảnh
quan nông thôn thêm đa dạng. Các chuyến tham quan các hang động kỳ thú kết
hợp thăm quan và tham gia hoạt động sản xuất tại nhà dân. Tuy nhiên, hoạt
động sản xuất gắn với nông nghiệp tại đây không phải là thế mạnh của dạng địa
hình này. Cũng dạng địa hình núi đá xen kẽ ruộng trũng, tạo nên không gian
văn hoá khác biệt, nhưng văn hoá của cư dân không đậm nét như cư dân ở vùng
đồng bằng.
Số lƣợng cơ sở
Số phòng
Số giƣờng
TP. Ninh Bình
100
507
916
Thị xã Tam Điệp
17
193
291
Huyện Yên Mô
6
54
92
Huyện Nho Quan
13
221
348
Huyện Hoa Lư
17
363
590
Huyện Gia Viễn
18
453
791
Huyện Kim Sơn
7
50
phẩm du lịch độc đáo nhằm khai thác và sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên du
lịch;
Về mục tiêu, du lịch Ninh Bình phải xây dựng đồng bộ hệ thống cơ sở hạ
tầng cho du lịch. Đồng thời quan tâm đúng mức việc phát triển các làng du lịch,
biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà ở có phòng cho khách
du lịch thuê để phát triển loại hình du lịch ở nhà dân (Homestay). Đây chính là
18
cơ sở và sự đồng thuận của tỉnh Ninh Bình đến việc phát triển loại hình du lịch
gắn với nông thôn.
Về quy hoạch, Tỉnh đã xây dựng quy hoạch hệ thống làng nghề phục vụ
du lịch, hệ thống thương mại phục vụ du lịch như các siêu thị, nhà hàng, điểm
mua sắm…hệ thống cấp nước, hệ thống xử lý rác thải, hệ thống nhà vệ sinh đạt
chuẩn…Quy định các vùng chuyên sản xuất rau an toàn, hoa quả và thực phẩm
phục vụ du lịch.
Về đầu tư phát triển hạ tầng du lịch và xây dựng sản phẩm du lịch. Định
hướng chính sách sản phẩm du lịch của Ninh Bình là du lịch sinh thái và du lịch
văn hoá-tâm linh. Gắn với các điểm du lịch nổi tiếng của Ninh Bình trong đó có
điểm Tam Cốc – Bích Động và khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long- là hai
điểm tác giả chọn làm nơi nghiên cứu phát triển du lịch nông thôn.
2.2.2. Thực trạng phát triển du lịch nông thôn tại huyện Hoa Lƣ và Gia Viễn
2.2.2.1. Tài nguyên du lịch nông thôn tại huyện Hoa Lư và Gia Viễn
Hoa Lư là một huyện thuộc vùng chiêm trũng, kinh tế nông nghiệp không
phát triển như các huyện ven biển Yên Khánh và Kim Sơn. Nghề chăn nuôi dê
núi và thủ công truyền thống phát triển khá mạnh. Do vậy, hoạt động cho du
khách tham gia chương trình du lịch nông thôn tại đây là đi tham quan các điểm
du lịch trên địa bàn và hoạt động du khảo đồng quê bằng xe đạp hoặc xe trâu.
Tài nguyên tại Hoa Lư: khu du lịch Tam Cốc, Khu Bích Động, Động Tiên,
Thung Nắng, Tràng An …
Tài nguyên tại Gia Viễn: khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân
người dân vùng đồng bằng Bắc bộ như nhà cổ, làng nghề, cảnh quê, đền,
chùa…, tham quan, tìm hiểu các lễ hội truyền thống, phong tục, tập quán của
dân bản địa, trong đó chủ nhà sẽ đóng vai trò là người hướng dẫn viên du lịch;
20
về sinh hoạt, khách du lịch sẽ cùng ăn, ở với người dân để khám phá nét văn
hoá như trực tiếp lao động, tát nước gầu sòng, gầu dây, đi móc cua ở bờ ruộng,
cất vó, đánh giậm, cùng người dân làm cua nấu canh, thổi cơm vùi vùng gio,
xay lúa, giã gạo, tổ chức cho khách đi xe đạp, xe trâu vào các thôn, xóm Đánh
giá cho thấy, hầu hết khách du lịch đều rất thích loại hình này.
Phần lớn du khách tham gia vào du lịch nông thôn ở xã Gia Vân là người
nước ngoài và chủ yếu đến tham quan khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước
Vân Long. Còn đối tượng khách là người Việt Nam chủ yếu là giảng viên - sinh
viên học các chuyên ngành về sinh học, thuỷ sản…đến khu bảo tồn đất ngập
nước Vân Long nghiên cứu tính đa dạng sinh học ở đây.
Dưới đây là số liệu thống kê về lượng du khách tham gia du lịch nông
thôn tại huyện Gia Viễn. tuy nhiên, số liệu này mới chỉ ước tính dựa trên số liệu
khách du lịch đến huyện Gia Viễn, trong đó chủ yếu đến khu bảo tồn thiên
nhiên đất ngập nước Vân Long.
BẢNG 9: SỐ LIỆU KINH DOANH ƢỚC TÍNH VỀ DU LỊCH NÔNG THÔN
TẠI HUYỆN GIA VIỄN – NINH BÌNH (GIAI ĐOẠN 2006 -2010)
Tiêu chí
Năm
2006
2007
2008
2009
2010
Tổng (lƣợt khách)
gầu dây, đi móc cua ở bờ ruộng, cất vó, đánh giậm, cùng người dân làm cua nấu
canh, thổi cơm vùi vùng gio, xay lúa, giã gạo, tổ chức cho khách đi xe đạp, xe
trâu vào các thôn, xóm
Khách nội địa có sự gia tăng nhanh từ 3.392 lượt khách năm 2006 lên
7.507 lượt khách năm 2010, tăng 2,2 lần. Đối tượng chính là học sinh – sinh
viên, chủ yếu là tự túc. Xét cơ cấu độ tuổi thì đông nhất từ 18 – 30 chiếm
khoảng 41,5%, từ 30 - 40 chiếm khoảng 35,6%; còn lại là đối tượng khác.
Về các chương trình du lịch nông thôn, hiện nay có hai tuyến đang được
khai thác.
Tuyến 1- Du khảo đồng quê (qua 5 thôn của xã Gia Vân)
Với tuyến này, xuất phát từ khu nhà sàn Ngôi Sao, du khách lên xe trâu
(xe đạp) qua thôn Phù Lâm, thăm đình chùa trong thôn, ngắm cây thị 700 tuổi.
Khách đến thôn Mai Trung, qua cánh đồng lúa thôn Trung Hoà, tập kết tại đình
thôn Tập Ninh. Nghe hát chèo…du khách sẽ xuống bến đò tham quan khu bảo
tồn đất ngập nước Vân Long.
Đến thôn Cầu Vàng, xã Gia Hoà du khách cùng nông dân ra đồng mò cua
bắt ốc, gặt lúa, về nhà tắm giếng, cùng nấu nướng và thưởng thức bữa cơm trưa,
ngủ trên chiếc chõng tre…
Tuyến 2- Khu bảo tồn đất ngập nước Vân Long - Đền Mẫu - động Hoa
Lư
Tham quan Vân Long, từ bến đò khách đi thăm đền Mẫu ở Thung Lau Lá
(bằng xe đạp), động Hoa Lư- khu xưa Đinh Bộ Lĩnh nhổ lau làm cờ tập trận…
Do là loại hình du lịch còn mới nên cũng ít doanh nghiệp tham gia tổ
chức. Tại huyện Gia Viễn được doanh nghiệp tư nhân Ngôi Sao phối hợp với
các Công ty lữ hành trong nước hoạt động thử nghiệm tại Khu du lich sinh thái
22
Vân Long. Vị trí này được đánh giá là phù hợp để triển khai ra diện rộng loại
hình du lịch này.
Qua hoạt động ban đầu của du lịch nông thôn tại huyện Gia Viễn, tác giả
CỦA DU LỊCH NÔNG THÔN TẠI HUYỆN HOA LƢ (ĐOẠN 2006 -2010)
Tiêu chí
Năm
2006
2007
2008
2009
2010
Tổng (lƣợt khách)
172.962
259.093
334.224
314.538
330.309
Khách Nội địa
76.893
109.873
169.568
180.712
172.444
Khách Quốc tế
96.069
149.220
142.562
133.826
157.865
Doanh thu
(triệu đồng)
7.525
10.808