Nghiên cứu tài nguyên sinh thái để phát triển du lịch tại xã đảo Long Sơn – Thành phố Vũng Tàu - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MÃ XUÂN VINH

NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN SINH THÁI
ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI XÃ ĐẢO LONG SƠN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
luËn v¨n th¹c sÜ du lÞch Hµ Néi, 2014


Hµ Néi, 2014
1

1 MỞ ĐẦU

MỤC LỤC
Trang

1. Lý do chọn đề tài 6

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4. Đối
tƣợng
và phạm vi nghiên cứu 9

5.
Phƣơng


1.3.3. Du lịch nghỉ dƣỡng 28

1.3.4. Du lịch thể thao 28

1.3.5. Du lịch khám phá 29

1.3.6. Du lịch nghiên cứu (học tập) 29

1.3.7. Du lịch chữa bệnh 29

1.4. Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái và phát triển 30

1.4.1.Du lịch với bảo tồn đa dạng sinh học 30

1.4.2. Du lịch với phát triển cộng đồng 33
2

2
1.4.3. Du lịch với phát triển bền vững 34

Chƣơng
2. THỰC TRẠNG KHAI THÁC TÀI NGUYÊN SINH THÁI
PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH Ở LONG SƠN
2.1. Tài nguyên sinh thái ở Long Sơn 38

2.1.1. Địa hình 38

2.1.2. Khí hậu 39


2.3.2. Du lịch giải trí 60

2.3.3. Du lịch nghỉ dƣỡng 60

2.3.4. Du lịch thể thao 62

2.3.5. Du lịch nghiên cứu (học tập) 62

2.3.6. Đánh giá về các hoạt động khai thác tài nguyên sinh thái phục
vụkhách du lịch 62

Chƣơng
3: NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC CÓ HIỆU QUẢ
TÀI NGUYÊN DU LỊCH SINH THÁI TẠI XÃ ĐẢO LONG SƠN
3.1. Cơ sở đề xuất 64

3.1.1. Chủ
trƣơng
chính sách của Đảng và Nhà Nƣớc 64

3.1.1.1. Quan điểm phát triển của du lịch tỉnh BR-VT đến năm 2020 65 3
3.1.1.2. Mục tiêu phát triển của du lịch tỉnh BR-VT đến năm 2020 66

3.1.2. Nhu cầu thực tế xã hội 67

3.3.3. Giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng 73

3.3.3.1. Hệ thống giao thông 73

3.3.3.2. Hệ thống
bƣu
chính viễn thông 75

3.3.3.3. Hệ thống điện 75

3.3.4. Giải pháp về phát triển dịch vụ du lịch 76

3.3.5. Giải pháp về thị
trƣờng
khách du lịch 79

3.3.6. Xây dựng các tuyến điểm nối kết 81

3.3.7. Giải pháp về xúc tiến, quảng bá 84

3.3.8. Giải pháp về bảo tồn tài nguyên sinh thái 85

3.3.8.1. Cơ quan quản lý nhà nƣớc 85

3.3.8.2. Các tổ chức kinh doanh du lịch 86

3.3.8.3.
Ngƣời
dân địa phƣơng 86


5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
1. Bảng 2.1: Thành phần loài ĐVTM hai mảnh vỏ
trong 4 vùng RNM Đồng Rui (Quảng Ninh),
Hƣng Hòa (Nghệ An), Long Sơn (Vũng Tàu),
Vƣờn Quốc gia Cà Mau (Cà Mau) 43 6
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng của khoa học kỹ thuật
và công nghệ, giá cả các hàng hóa ngày càng hạ thấp. Thu nhập ngƣời dân ngày
càng cao hơn trƣớc. Khả năng tiếp cận những sản phẩm công nghệ cao không
còn quá xa vời nhƣ trƣớc đây. Đây là một quy luật mang tính tất yếu. Con ngƣời
luôn cố gắng làm cho cuộc sống mình tiện nghi hơn, thoải mái hơn. Chính vì lý
do đó, môi trƣờng chung xung quanh bị tổn hại nghiêm trọng và nó đã làm ảnh
hƣởng không nhỏ đến sự sống của con ngƣời. Khói bụi từ xe cộ, khí độc hại từ
các nhà máy, khu công nghiệp hay chính khí thải từ máy điều hòa,….đều ảnh
hƣởng trực tiếp đến sức khỏe của con ngƣời. Do đó, môi trƣờng tự nhiên trong
lành lại là một món hàng xa xỉ đối với tầng lớp có thu nhập cao. Đó là lý do tại
sao nói du lịch nói chung và du lịch thiên nhiên nói riêng đã và sẽ là một hƣớng
đi có nhiều triển vọng trong tƣơng lai.
Đã từ lâu Vũng Tàu nổi danh là điểm đến lý tƣởng của tất cả du khách trong
và ngoài nƣớc. Với khoảng cách hơn 100km từ thành phố Hồ Chí Minh
(TpHCM) - trung tâm văn hóa thƣơng mại lớn nhất phía Nam, Vũng Tàu có
khoảng cách địa lý khá lý tƣởng để du khách tìm đến mỗi khi có dịp đặt chân đến
vùng đất phía Nam này – đặt biệt là vào những dịp cuối tuần, lễ hội hay những
dịp nghĩ lễ. Đây là điều kiện rất thuận lợi để Vũng Tàu phát triển du lịch. Vũng

DLST ở Việt Nam.
2.1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, ngành du lịch hết sức mới mẻ chủ yếu phát triển hơn 30 năm
nay, nhƣng thật sự quan tâm chỉ trong những năm gần đây.
Trong nhiều năm qua, các công trình nghiên cứu nhƣ “Tài nguyên du
lịch” của Bùi Thị Hải Yến và Phạm Hồng Long (2009); “Tài nguyên và môi
trƣờng du lịch Việt Nam” của Phạm Trung Lƣơng (2000),… đã phác hoạ đựơc
bức tranh chung về tiềm năng, hiện trạng và một số xu hƣớng phát triển du lịch
Việt Nam.
Năm 1992, công trình nghiên cứu luận án PTS khoa học của Đặng Duy
Lợi về “Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch” đã xây dựng cơ sở khoa học 8
cho việc đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
phục vụ mục đích du lịch tại một địa bàn cụ thể.
Tác giả Nguyễn Thị Hải trong luận án Tiến Sĩ ngành Địa Lý, đề tài “Đánh
giá tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ du lịch cuối tuần ở khu vực Hà Nội và
vùng phụ cận”, công bố năm 2002, đã nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế,
xã hội phục vụ mục đích phát triển du lịch cuối tuần của Hà Nội. Các điều kiện
này đã đặt trong tổng thể một hệ thống lãnh thổ du lịch bao gồm cả các yếu tố là
điều kiện tạo cung và các yếu tố là điều kiện tạo cầu cho du lịch cuối tuần.
Công trình “Những định hƣớng lớn về phát triển du lịch Việt Nam theo
các vùng lãnh thổ” của Tổng cục Du lịch Việt Nam (1993) là một dự án quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch vùng tam giác phía bắc Hà Nội – Hải Phòng –
Quảng Ninh, vùng tam giác phía Nam TP.HCM – Biên Hòa – Vũng Tàu và trục
Huế – Đà Nẵng.
2.2. Về các công bố có liên quan đến Long Sơn – Vũng Tàu
Công trình “Thiết kế các tuyến điểm du lịch trong và ngoài TP. Hồ Chí

phát triển du lịch sinh thái tại xã đảo Long Sơn – Vũng Tàu; góp phần làm phong
phú, đa dạng sản phẩm du lịch cho thành phố Vũng Tàu nói riêng, tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu nói chung.
3.2. Nhiệm vụ của đề tài
Để thực hiện đƣợc mục đích trên, luận văn tiến hành giải quyết những
nhiệm vụ sau:
- Hệ thống cơ sở lý luận về các điều kiện tài nguyên tự nhiên của một địa
phƣơng.
- Xác định các điều kiện tài nguyên tự nhiên để phát triển các hoạt động du
lịch của Long Sơn – Vũng Tàu, trong mối tƣơng quan với du lịch tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu.
- Đề xuất định hƣớng và giải pháp để khai thác có hiệu quả tài nguyên du
lịch sinh thái tại xã đảo Long Sơn.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những tài nguyên du lịch
tự nhiên, nhằm góp phần phát triển du lịch đảo Long Sơn. Do đó trong luận văn
này, tài nguyên sinh thái tức là tài nguyên du lịch tự nhiên. 10
- Phạm vi về không gian: phạm vi không gian đƣợc giới hạn trong khu vực xã
đảo Long Sơn. Tuy nhiên, đề tài cũng đề cập đến một số khu vực phụ cận, một
số khu du lịch trong tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, các tuyến du lịch liên quan đến phát
triển du lịch Long Sơn.
- Phạm vi về thời gian: thời gian nghiên cứu thực trạng từ 2007 đến 2013 và
đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2014 đến 2020.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, các phƣơng pháp sau đây đƣợc ứng dụng:
- Phương pháp thu thập và xử lý tư liệu: Đây là phƣơng pháp nghiên cứu
truyền thống để khảo sát thực tế nhằm tiến hành thu thập thông tin, tƣ liệu từ

nghiên cứu đề tài đƣợc kết cấu thành ba chƣơng:
Chương 1. Cơ sở lý luận.
Chương 2. Thực trạng khai thác tài nguyên sinh thái phục vụ hoạt động du lịch ở
Long Sơn.
Chương 3. Những giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch sinh
thái tại xã đảo Long Sơn

12
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1. Khái niệm
1.1.1. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các nguồn nguyên liệu,
năng lƣợng và thông tin có trên Trái Đất và trong không gian gian vũ trụ mà con
ngƣời có thể sử dụng để phục vụ cho cuộc sống và sự phát triển của mình.
Tài nguyên đƣợc phân loại thành tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân
văn gắn liền với các nhân tố về con ngƣời và xã hội.
Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Khái
niệm tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch.
Theo điều 4, Luật Du lịch Việt Nam năm 2006: “Tài nguyên du lịch là
cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao
động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng
nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du kịch,
điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.
1.1.2. Tài nguyên du lịch sinh thái
“ Tài nguyên du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài nguyên
du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các

của loại hình du lịch này bao gồm cả tìm hiểu, nghiên cứu văn hóa bản địa của
cộng đồng địa phƣơng. Các loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên nhƣ nghỉ
dƣỡng, tham quan, mạo hiểm,…chủ yếu mới đƣa con ngƣời về với thiên nhên,
còn việc giáo dục, nâng cao nhận thức cho khách du lịch về thiên nhiên và môi
trƣờng, văn hóa cộng đồng địa phƣơng là rất ít, hầu nhƣ không có. Tuy nhiên nếu
nhƣ trong hoạt động của những loại hình du lịch này có gắn với việc nâng cao
nhận thức để du khách có trách nhiệm với việc bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn
hóa cộng đồng, tạo việc làm và lợi ích cho ngƣời dân địa phƣơng thì bản thân
chúng đã chuyển hóa thành một dạng của DLST.
Năm 2000, GS.TSKH. Lê Huy Bá cũng đƣa ra khái niệm về du lịch sinh
thái và đây có thể đƣợc xem nhƣ là một khái niệm đầy đủ ý nghĩa để phục vụ cho
nghiên cứu đề tài này “DLST là một loại hình du lịch lấy các hệ sinh thái đặc
thù, tự nhiên làm đối tượng để phục vụ cho những khách du lịch yêu thiên nhiên,
du ngoạn, thưởng thức những cảnh quan hay nghiên cứu về các hệ sinh thái. Đó
cũng là hình thức kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế du lịch với 14
giới thiệu về những cảnh đẹp của quốc gia cũng như giáo dục tuyên truyền và
bảo vệ, phát triển môi trường và tài nguyên thiên nhiên một cách bền vững”.

1.2. Các loại tài nguyên sinh thái phục vụ phát triển du lịch
1.2.1. Địa hình
Địa hình hiện tại của bề mặt trái đất là sản phẩm của các quá trình địa chất
lâu dài (nội sinh, ngoại sinh). Trong chừng mực nhất định, mọi hoạt động sống
của con ngƣời trên một lãnh thổ đều phụ thuộc vào địa hình. Tất nhiên tùy thuộc
vào mục đích hoạt động kinh tế mà sự phụ thuộc đó nhiều hay ít hay phụ thuộc
vào khía cạnh này hay khác của địa hình. Đối với hoạt động du lịch, điều quan
trọng nhất là đặc điểm hình thái địa hình, nghĩa là các dấu hiệu bên ngoài của địa
hình và các dạng đặc biệt của địa hình có sức hấp dẫn khai thác cho du lịch.

Việt Nam chủ yếu là đá vôi. Thuật ngữ “Karst” bắt nguồn từ tên một miền thuộc
Nam Tƣ, nơi mà địa hình này nghiên cứu lần đầu.
Các kiểu Kast có thể đƣợc tạo thành từ sự hòa tan của nƣớc trên mặt cũng
nhƣ của nƣớc ngầm. Một trong các kiểu Karst đƣợc quan tâm nhất đối với du
lịch là hang động Karst. Những cảnh quan thiên nhiên và văn hóa của hang động
Karst rất hấp dẫn khách du lịch. Đây chính là nguồn tài nguyên du lịch, một loại
hàng hóa đặc biệt có thể sinh lợi dễ dàng. Hiện nay trên thế giới có khoảng 650
hang động đã đƣợc sử dụng cho du lịch, hang năm thu hút khoảng 15 triệu khách
tới thăm. Trên thế giới có 25 hang động Karst dài nhất, điển hình nhƣ hang Flint
Mammauth Cave System dài 530 km ở Hoa Kì, hang Optimisticeskaya dài 153
km ở Ucraina, hang Holloch dài 133,5 km ở Thụy Sĩ, hang Rescau Jencan
Bernard sâu 1535 m ở Pháp, hang Sistema de Trave sâu 1380 m ở Tây Ban Nha.
Hang động Karst ở Việt nam không dài, không sâu, nhƣng rất đẹp. Động
Phong Nha (ở Bố Trạch, Quảng Bình) dài gần 8 km, có cửa vào rộng 25 m và
cao 10 m, đƣợc coi là hang nƣớc đẹp nhất thế giới, “kỳ quan nhất thế giới” hay
“Phong Nha đệ nhất động”. Đây sẽ là điểm du lịch đông khách nhất, đem lại
nguồn thu ngoại tệ lớn nhất của Quảng Bình trong những năm tới. Một số hang
động khác của Việt Nam cũng có điểm du lịch hấp dẫn nhƣ Bích Động (Ninh
Bình), động Hƣơng Tích (Hà Tây), Hang Bồ Nâu, Luồng (Quảng Ninh)…
Ngoài hang động Karst, các kiểu địa hình Karst khác cũng có giá trị lớn đến
du lịch, chẳng hạn kiểu Karst ngập nƣớc mà tiêu biểu là Vịnh Hạ Long, một
trong những kì quan thế giới, với khả năng du ngoạn bằng tàu thuỷ, thuyền bè. 16
Kiểu Karst đồng bằng ở vùng Ninh Bình đƣợc mệnh danh là một Hạ Long khô
tuyệt vời thu hút sự chú ý của khách du lịch trong nƣớc và quốc tế
- Các kiểu địa hình ven bờ các kho chứa nƣớc lớn (đại dƣơng, biển, sông
hồ…) có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch. Nói chung, địa hình ven bờ có thể
tận dụng khai thác du lịch với mục đích khác nhau: từ tham quan du lịch theo

khách du lịch là một ngày hao phí cho mục địch của chuyến đi du lịch và nhƣ
vậy làm giảm hiệu quả của chuyến đi nghỉ biển.
- Số ngày nắng trung bình trong ngày cao. Khách du lịch thƣờng chọn
những nơi có nhiều ánh nắng mặt trời . Những nơi có số ngày nắng trung bình
trong ngày cao thƣờng đƣợc ƣa thích và có sức hút mạnh đối với khách du lịch,
chẳng hạn nhƣ vùng biển Địa Trung Hải, vùng biển Caribe, vùng biển Đông
Nam Á…
- Nhiệt độ trung bình của không khí vào ban ngày không cao lắm. Đối với
khách du lịch ở phƣơng Bắc, nhiệt độ cao khiến họ không chịu nổi.
-
Nhiệt độ nƣớc biển điều hòa, thích hợp nhất với khách du lịch tắm biển là
nhiệt độ nƣớc biển từ 20-25
0
C. Nếu nhiệt độ nƣớc biển dƣới 20
0
C và trên 30
0
C là
không thích hợp. Một số dân tộc ở Bắc Âu có thể chịu đƣợc nhiệt độ nƣớc biển
từ 17
0
C đế 20
0
C.

-
Điều kiện khí hậu có ảnh hƣởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch
hoặc hoạt động dịch vụ về du lịch. Ở mức độ nhất định cần phải lƣu ý tới những
hiện tƣợng thời tiết đặc biệt làm cản trở tới kế hoạch du lịch, thí dụ nhƣ những sự
cố thời tiết đáng kể ở Việt Nam là bão trên các vùng biển và duyên hải, hải đảo,

phƣơng, quốc gia các yếu tố khí hậu có những ảnh hƣởng không tốt cho sức khỏe
con ngƣời, giảm sức hấp dẫn du khách, gây khó khăn cho việc triển khai các hoạt
động du lịch. Những ngƣời ở xứ nóng trong nững ngày hè oi bức thƣờng đi nghỉ
mát ở các vùng biển hoặc ở các vùng núi, cao nguyên có khí hậu mát mẻ và khả
năng chịu lạnh kém hơn. Những ngƣời sống xứ lạnh thì thƣờng đi nghỉ đông ở
những vùng ấm áp và khả năng chịu lạnh của họ tốt hơn.
- Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng: các điều kiện
thuận lợi về áp suất không khí, nhiệt độ, độ ẩm, ánh nắng, độ trong lành của
không khí có tác dụng tốt cho việc chữa bệnh và phục hồi sức khỏe cho con
ngƣời. Ngoài việc phân bố ở những nơi có nguồn tài nguyên khác nhƣ nƣớc
khoáng, bãi biển đẹp, có nhiều ánh nắng, nơi có phong cảnh đẹp, các điểm du
lịch chữa bệnh, nghỉ dƣỡng ở Việt Nam cũng nhƣ ở trên thế giới thƣờng đƣợc
xây dựng, phát triển ở những nơi có khí hậu tốt, thích hợp với sức khỏe con
ngƣời nhƣ ở ven các hồ, ven biển và các vùng núi cao nguyên.
- Tài nguyên khí hậu phục vụ cho các loại hình du lịch thể thao, vui chơi giải
trí: các loại hình du lịch thể thao vui chơi giải trí nhƣ bơi thuyền, lƣớt ván, bơi 19
lội, lặn tắm biển, hồ, thƣờng đƣợc triển khai ở những vùng ven biển, hồ có các
điều kiện về tốc độ gió và nhiệt độ của nƣớc phù hợp và nhiều ánh nắng.
- Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các hoạt động du lịch: có
nhiều ngày thời tiết tốt, số ngày mƣa ít, tốc độ gió không lớn, độ ẩm không khí
không quá cao, cũng không quá thấp, không có hoặc ít thiên tai, … là những điều
kiện khí hậu thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động du lịch. Tuy nhiên, ở
những địa phƣơng trong nhiều thời kỳ trong năm còn có những yếu tố khí hậu
không thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động du lịch nhƣ mƣa nhiều, tốc độ
gió lớn, có nhiều thiên tai, … Để khắc phục đƣợc tính mùa vụ, những hạn chế
của khí hậu đối với hoạt động du lịch cần phải nghiên cứu, đánh giá cả những
điều kiện thuận lợi và không thuận lợi để có những định hƣớng giải pháp khai

Du lịch biển có nhiều điều kiện thuận lợi nhờ khí hậu bờ biển dịu mát cho
phép nghĩ ngơi dài ngày, nhờ bãi cát ven bờ vừa có thể tắm biển lại vừa tắm
nắng, tắm khí trời…
Trong tài nguyên nƣớc cần nói đến tài nguyên nƣớc khoáng. Đây là nguồn tài
nguyên có giá trị du lịch an dƣỡng và chữa bệnh.
Nƣớc khoáng là nƣớc thiên nhiên (chủ yếu là nƣớc dƣới đất) chứa một số
thành phần vật chất đặc biệt (các nguyên tố hóa học, các khí, các nguyên tố
phóng xạ…), hoặc có một số tính chất vật lý (nhiệt độ, độ pH…) có tác dụng
sinh lý đối với con ngƣời.
Một trong những công dụng quan trọng nhất của nƣớc khoáng là chữa bệnh.
Các nguồn nƣớc khoáng là tiêu đề không thể thiếu đƣợc đối với việc phát triển
du lịch chữa bệnh. Tính chất chữa bệnh của các nguồn nƣớc khoáng đã đƣợc
phát hiện từ thời đế chế La Mã.
Để thuận tiện cho việc chữa bệnh, các nhà bác học đã tiến hành phân loại
nƣớc khoáng vào mục đích chữa bệnh khác nhau:
+ Nhóm nước khoáng Cacbonic là nhóm khoáng quý có công dụng giải khát
rất tốt và chữa một số bệnh nhƣ cao huyết áp, sơ vữa động mạch nhẹ, các bệnh
về thần kinh ngoại biên. Nhóm nƣớc khoáng cacbonic quí nổi tiếng trên thế giới
nhƣ Vicky (Pháp), Boczomi (Grudia), Visbaden (CHLB Đức). Ở Việt Nam tiêu
biểu có nƣớc suối Vĩnh Hảo, nổi tiếng từ năm 1928 đến nay với sản phẩm nƣớc
khoáng đóng chai, đã xuất khẩu sang một số nƣớc ở Đông Nam Á.
+ Nhóm nước khoáng Silic có công dụng đối với cá bệnh về tiêu hóa, thần
kinh, thấp khớp, phụ khoa…. Trên thế giới nổi tiếng về nguồn nƣớc khoáng Silic
là nguồn nƣớc khoáng Kul Dur (Liên Xô cũ). Ở Việt Nam tiêu biểu có nguồn
nƣớc khoáng Kim Bôi (Hòa Bình) và Hội Vân (Phù Cát - Bình Định). Tại hai nơi
này đã xây dựng hai nhà an dƣỡng chữa bệnh sử dụng nƣớc khoáng Silic 21
Nhà nghĩ Kim Bôi nằm ở xóm Mò Đá, xã Hạ Bì cách huyện lị Kim Bôi 3 km

tỉnh.
Ngoài ra còn nhiều nhóm nƣớc khoáng khác (sunfuahidro, Asen-fluo, Liti,
nhóm phóng xạ…) với các ý nghĩa du lịch chữa bệnh khác nhau.
Nƣớc khoáng là loại tài nguyên tổng hợp mà giá trị kinh tế và du lịch chữa
bệnh thể hiện rất rõ. Trên thế giới,nhu cầu du lịch kết hợp với việc an dƣỡng,
chữa bệnh, dùng nƣớc khoáng giải khát tăng lên đáng kể. Việc đi du lịch chữa 22
bệnh, an dƣỡng ở nguồn nƣớc khoáng này càng thu hút khách du lịch quốc tế.
Thụy Sĩ có 6,5 triệu dân, mỗi năm đến đón 34 triệu khách đến nghỉ tại nhà nghỉ
chữa bệnh bằng nƣớc khoáng. Hằng năm ngành du lịch đem lại 10% thu nhập
quốc dân. Tại Pháp, CHLB Đức, Italia, mỗi năm có hàng triệu ngƣời đi du lịch
chữa bệnh tại các nguồn nƣớc khoáng. Nhiều trung tâm du lịch, thành phố du
lịch nổi tiếng đều gắn liền với các nguồn nƣớc khoáng quý mà tiêu biểu là Xotri ,
Caclovy Vary, Wisbaden, Vichy…
1.2.4. Tài nguyên động thực vật
Hiện nay, khi mức sống của con ngƣời ngày càng nâng cao thì nhu cầu
nghỉ ngơi tham quan du lịch và giải trí trở thành nhu cầu cần thiết. Ngoài một số
hình thức truyền thống nhƣ tham quan phong cảnh, các di tích lịch sử văn hóa, đã
xuất hiện một hình thức mới với sức hấp dẫn du khách rất lớn. Đó là du lịch đến
khu bảo tồn thiên nhiên với đối tƣợng là các loại động thực vật, việc tham quan
du lịch trong thế giới động thực vật sống động, hài hòa trong thiên nhiên làm cho
con ngƣời tăng thêm lòng yêu cuộc sống.
Sở dĩ một số nƣớc trên lục địa châu Phi, Đông Âu, và vùng Đông Nam Á
thu hút đƣợc đông đảo du khách là do họ đã biết tận dụng khai thác các tiềm
năng thiên nhiên – đó là nguồn tài nguyên thực – động vật cùng với quang cảnh
hài hòa của nó.
Tài nguyên động thực vật vừa góp phần cùng với các tài nguyên khác tạo
nên phong cảnh đẹp, hấp dẫn, vừa có ý nghĩa bảo vệ môi trƣờng nhƣ: bảo tồn các

o Có một số động vật (thú, chim, bò sát, côn trùng, cá,…) phong phú
hoặc điển hình cho vùng.
o Có các loại khai thác đặc sản phục vụ nhu cầu khách du lịch.
o Thực động vật có màu sắc hấp dẫn, vui mắt, một số loài phổ biến
dễ quan sát bằng mắt thƣờng, ống nhòm hoặc nghe tiêng hót, tiếng
kêu và có thể chụp ảnh đƣợc.
o Đƣờng sá (đƣờng mòn) thuận tiện cho việc đi lại quan sát, vui chơi
của khách.
 Chỉ tiêu đối với du lịch săn bắn thể thao
Qui định loài đƣợc săn là loài phổ biến, không ảnh hƣởng đến số
lƣợng, quĩ gen; loài động vật hoạt động (ở dƣới nƣớc, mặt đất, trên cây) nahnh
nhẹn có địa hình tƣơng đối dễ vận động; xa cƣ trú của nhân dân, quân đội và cơ
quan. Ngoài ra khu vực dành cho săn bắn thể thao phải tƣơng đối rộng, đảm bảo

Trích đoạn Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà Nước Định hƣớng khai thác có hiệu quả tài nguyên du lịch sinh thái tại Long Sơn Giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng Giải pháp về thị trường khách du lịch Xây dựng các tuyến điểm nối kết
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status