ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐINH THỊ HÀ NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG XÚC TIẾN
CỦA ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH NINH BÌNH CHO
THỊ TRƢỜNG KHÁCH QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH Hà Nội, 2014
1
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 7
1. Lý do chọn đề tài 7
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
3. Đối tƣợng nghiên cứu 8
4. Phạm vi nghiên cứu 9
5. Tổng quan lịch sử nghiên cứu đề tài 9
6. Phƣơng pháp nghiên cứu 10
7. Những đóng góp mới của đề tài 12
8. Cấu trúc của luận văn 12
Chƣơng 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ KINH NGHIỆM HOẠT
ĐỘNG XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH 13
1.1. Thị trƣờng khách du lịch quốc tế 13
1.2. Điểm đến du lịch 14
1.2.1. Khái niệm 14
1.2.2. Các yếu tố cấu thành điểm đến du lịch 16
1.2.3. Phân loại điểm đến du lịch 19
1.2.4. Các nhân tố ảnh hƣởng đến điểm đến du lịch 20
1.2.5. Hệ thống điểm đến du lịch 21
1.3. Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch 22
1.3.1. Khái niệm 22
1.3.2. Vai trò, lợi ích của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch 23
1.3.3. Nội dung của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch 25
1.4. Kinh nghiệm xúc tiến quảng bá du lịch của một số điểm đến du lịch, bài
3.1. Một số giải pháp 80
3.1.1. Xác định cụ thể thị trƣờng khách quốc tế cho hoạt động xúc tiến 80
3.1.2. Thiết kế, xây dựng thông điệp xúc tiến điểm đến du lịch của Ninh Bình
cho thị trƣờng khách quốc tế 80
3
3.1.3. Phát triển thị trƣờng và sản phẩm du lịch 82
3.1.4. Lựa chọn hệ thống các công cụ xúc tiến điểm đến du lịch phù hợp 83
3.1.5. Xây dựng ngân sách cho hoạt động xúc tiến 86
3.1.6. Tăng cƣờng công tác quản lý của du lịch Ninh Bình 86
3.1.7. Nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ 87
3.1.8. Liên kết, hợp tác trong phát triển du lịch 89
3.2. Một số kiến nghị 89
3.2.1. Với Chính Phủ 89
3.2.2. Với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 90
3.2.3. Với Tổng cục Du lịch 90
3.2.4. Với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình 90
Tiểu kết chƣơng 3 91
KẾT LUẬN 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
PHỤ LỤC 97
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT STT
United Nations Educational, Scientific and Cultural
Organization - Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa
của Liên hợp quốc
10
UNWTO
United Nations World Travel Organization – Tổ chức
du lịch thế giới
11
VHTT&DL
Văn hóa thể thao và du lịch
12
VNĐ
Việt Nam đồng
13
VQG
Vƣờn quốc gia
14
WTTC
World Travel and Tourism Coucil- Hội đồng lữ hành
và du lịch quốc tế
15
KBTTN
Khu bảo tồn thiên nhiên 5
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.6
Cơ cấu khách quốc tế đến Ninh Bình, giai đoạn
2009 – 2012
58
7
Bảng 2.7
Một số đặc điểm của khách quốc tế đến Ninh Bình
năm 2012
59 - 60
8
Bảng 2.8
Tổng hợp các ấn phẩm, tài liệu quảng cáo du lịch
Ninh Bình phát hành trong giai đoạn 2009 – 2012
68
9
Bảng 2.9
Tổng hợp kinh phí xúc tiến quảng bá du lịch cấp từ
nguồn ngân sách tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2009 -
2012
73
10
Bảng 2.10
Kinh phí xúc tiến quảng bá của du lịch Ninh Bình
cho thị trƣờng khách quốc tế
74 7
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Du lịch là một ngành công nghiệp không khói, mang lại lợi ích kinh tế và
chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của nhiều nƣớc trên thế giới. Hơn nữa
ngành du lịch còn giải quyết các vấn đề về lao động, việc làm cho ngƣời dân ở các
điểm du lịch, các nƣớc có hoạt động du lịch phát triển. Chính vì vậy, không riêng
các nƣớc phát triển mà các nƣớc đang phát triển tập trung đầu tƣ khai thác và phát
triển ngành công nghiệp không khói đầy tiềm năng này. Nhu cầu du lịch của con
ngƣời ngày càng cao và đa dạng, tuy nhiên để tìm kiếm thông tin và lựa chọn một
điểm du lịch phù hợp lại không phải là vấn đề đơn giản. Có rất nhiều điểm du lịch
có tài nguyên hấp dẫn, song không thu hút đƣợc du khách. Tại sao nhƣ vậy? Điều gì
khiến du khách chọn điểm du lịch này mà không chọn điểm du lịch khác. Sự cạnh
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động xúc tiến cho thị trƣờng khách quốc tế, từ đó đẩy mạnh
hoạt động xúc tiến của du lịch Ninh Bình đến thị trƣờng khách quốc tế một cách
chuyên nghiệp và hiệu quả hơn. Qua đó rút ra bài học kinh nghiệm trong hoạt động
du lịch Ninh Bình.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch và hoạt động xúc tiến
du lịch.
- Khảo sát, phân tích thực trạng hoạt động xúc tiến cho thị trƣờng khách quốc tế của
du lịch Ninh Bình.
- Đánh giá những thành công và hạn chế trong hoạt động xúc tiến của du lịch Ninh
Bình trong thời gian qua.
- Đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm đấy mạnh hoạt động xúc tiến của điểm đến
du lịch Ninh Bình cho thị trƣờng khách quốc tế.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
- Thị trƣờng khách du lịch quốc tế đến Ninh Bình. Các sản phẩm du lịch của Ninh
Bình.
9
- Các hoạt động xúc tiến cho thị trƣờng khách quốc tế của các cơ quan quản lý, xúc
tiến điểm đến du lịch Ninh Bình.
- Các cơ chế, chính sách, chƣơng trình xúc tiến phát triển du lịch của Tỉnh Ninh
Bình.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu các hoạt động xúc tiến du lịch cho thị trƣờng
khách quốc tế của các cơ quan quản lý, xúc tiến du lịch của tỉnh Ninh Bình ( Trung
tâm xúc tiến du lịch Tỉnh Ninh Bình)
- Về thời gian: Luận văn tiến hành nghiên cứu hoạt động xúc tiến của điểm đến
Ninh Bình cho thị trƣờng khách quốc tế giai đoạn 2009 - 2012 và đến năm 2020.
cấp tỉnh ở Việt Nam: nghiên cứu trường hợp tỉnh Nghệ An”, Đào Thị Ngọc Lan
(2011) “Nghiên cứu hoạt động xúc tiến du lịch Hải Dương giai đoạn 2005 -
2010”…
Ngoài ra còn có rất nhiều bài báo, báo cáo khoa học, các đề tài nghiên cứu về
hoạt động xúc tiến nhƣ: Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 7/2004, Nguyễn Tuấn Anh –
Vụ phó vụ Lữ hành, “Xây dựng và quảng bá du lịch Việt Nam”, Tạp chí Du lịch
Việt Nam, số 8/2010, Vụ thị trƣờng – Tổng cục Du lịch (2010), “Liên kết xúc tiến
du lịch cho các tỉnh Bắc Trung Bộ - Thực trạng và giải pháp”. Kỷ yếu hội thảo liên
kết phát triển du lịch các tỉnh Bắc Miền Trung, Nghệ An, 2010, Trần Nguyên Trực
– Tổng lãnh sự Việt Nam tại Khonhean Thái Lan “Kinh nghiệm xúc tiến du lịch tại
Lào và Thái Lan thông qua các cơ quan đại diện ngoại giao”.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử. Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng một số phƣơng pháp nghiên
cứu khác: thu thập xử lý số liệu, mô tả và so sánh, điều tra xã hội học bằng bảng
hỏi, phƣơng pháp chuyên gia.
6.1. Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Tiến hành phân tích nghiên cứu hoạt động du lịch Ninh Bình nói chung, và
hoạt động xúc tiến cho thị trƣờng khách quốc tế nói riêng của Ninh Bình trong mối
11
quan hệ với các điểm du lịch cùng khu vực, trong nƣớc, và trên thế giới. Xem xét
hoạt động xúc tiến cụ thể cho thị trƣờng khách quốc tế với các tỉnh, thành phố trong
các mối quan hệ bên ngoài (kinh tế, xã hội, chính trị…), và các mối quan hệ bên
trong ngành du lịch của tỉnh, thành phố.
Nghiên cứu, xem xét thực trạng hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch
Ninh Bình qua các giai đoạn, từ đó có thể đƣa ra những kết luận, nhận định. Dựa
trên cơ sở đó đƣa ra giải pháp nhằm tăng cƣờng thúc đẩy hoạt động xúc tiến của
Ninh Bình.
6.2. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
dụng vào thực tiễn ở Ninh Bình.
- Đề tài đã phân tích chỉ ra những mặt hạn chế và tích cực của hoạt động xúc tiến
điểm đến của du lịch Ninh Bình cho thị trƣờng khách quốc tế, một thị trƣờng khách
tiếm năng quan trọng với Ninh Bình. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho các hoạt
động xúc tiến cũng nhƣ tổ chức, quản lý du lịch của Ninh Bình.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến cho thị trƣờng khách
quốc tế, nâng cao vị thế du lịch Ninh Bình trong lòng du khách quốc tế.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn có 3
chƣơng:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản và kinh nghiệm hoạt động xúc tiến điểm
đến du lịch
Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động xúc tiến của điểm đến du lịch Ninh Bình cho thị
trƣờng khách quốc tế
Chƣơng 3: Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xúc tiến của du lịch Ninh Bình
cho thị trƣờng khách quốc tế. 13
Chƣơng 1. MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ KINH NGHIỆM HOẠT ĐỘNG
XÚC TIẾN ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH
1.1. Thị trƣờng khách du lịch quốc tế
Du lịch là một ngành dịch vụ tổng hợp, các sản phẩm là các dịch vụ phục vụ
nhu cầu của khách hàng nói chung và khách du lịch nói riêng. Cũng nhƣ các ngành
sản xuất vật chất khác, khi tập hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm, thì việc
phân phối, bán sản phẩm ra thị trƣờng là một điều tất yếu để thu hồi vốn và thu lợi
chuyển và ở lại nƣớc khác ngoài quốc gia của họ trong thời gian nhất định. Đối
tƣợng khách du lịch quốc tế chính là một phân khúc thị trƣờng quan trọng nhất
trong hoạt động du lịch của mỗi một quốc gia và vùng lãnh thổ, bởi về mặt thời lƣu
trú thƣờng dài hơn khách du lịch nội địa, chi tiêu nhiều hơn, sử dụng các dịch vụ
cao cấp hơn đem lại nguồn thu ngoại tệ cho ngân sách của đất nƣớc. Tùy thuộc vào
đặc điểm dân tộc, vùng lãnh thổ mà trong phân khúc thị trƣờng khách du lịch
quốc tế lại có những sự phân chia ra làm nhiều thị trƣờng khác nhau: ví dụ thị
trƣờng Châu Âu, các nƣớc Châu Á, Châu Úc Để có thể làm tốt công tác trong
hoạt động du lịch đón tiếp, phục vụ phân khúc thị trƣờng này đòi hỏi điểm đến du
lịch có đầy đủ những điều kiện về tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất, nguồn nhân
lực đáp ứng đƣợc yêu cầu của du khách.
Trong luận văn này đối tƣợng chính của đề tài có liên quan đến hoạt động xúc
tiến đối với đối tƣợng khách chính là khách du lịch quốc tế. Do đó sự phân khúc thị
trƣờng khách du lịch quốc tế, hoặc hoạt động xúc tiến của tỉnh Ninh Bình đối với
thị trƣờng này cũng dựa vào khả năng đáp ứng nhu cầu của du khách và nằm trong
chiến lƣợc phát triển du lịch của tỉnh.
1.2. Điểm đến du lịch
1.2.1. Khái niệm
Điểm đến du lịch đƣợc định nghĩa khác nhau dƣới nhiều góc độ. Theo quan
niệm truyền thống: “Điểm đến du lịch là nơi mà con người thực hiện những kỳ nghỉ
của họ”. Theo quan niệm này thì điểm đến chỉ là một không gian để khách du lịch
15
ăn uống, nghỉ ngơi, vui chơi… và khái niệm này chƣa nêu đƣợc tính chất đặc trƣng
của điểm đến du lịch.
Theo ý kiến của PGS.TS. Nguyễn Bách Khoa và Th.S Nguyễn Viết Thái thì
“Các điểm đến du lịch cũng được coi là một dạng thức sản phẩm/thị trường du lịch
đặc biệt theo tiếp cận quản trị kinh doanh và marketing du lịch. Điểm đến du lịch
của một quốc gia là tập hợp những điểm đến riêng lẻ của từng vùng trong quốc gia
đó. Tại từng thời điểm nhất định và theo một ý định và chủ đề cụ thể, một vài hoặc
song chúng đều phải có những điểm chung đó là các yếu tố để tạo thành một điểm
đến du lịch.
- Điểm hấp dẫn du lịch
Đề cập tới điểm hấp dẫn du lịch, PGS.TS Trần Thị Minh Hòa trong tập bài
giảng Marketing điểm đến du lịch (2012) có đƣa ra nhận định về điểm hấp dẫn du
lịch: “Điểm hấp dẫn du lịch (Actractive site) là những điểm có tài nguyên du lịch
nổi trội, có khả năng hấp dẫn du khách” [12, tr. 2]. Nhƣ vậy sức hấp dẫn của điểm
du lịch đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc có thể thực hiện hoạt động du
lịch hay phát triển du lịch theo từng cấp độ, và là yếu tố quan trọng trong việc hình
thành nên điểm đến du lịch.
Xét về mức độ thì đây là yếu tố quan trọng nhất để có thể hình thành nên một
điểm đến du lịch. Tất cả các điểm đến du lịch đều bao gồm trƣớc hết là nơi có điểm
hấp dẫn du lịch với du khách, song một điểm hấp dẫn du lịch chƣa chắc đã là một
điểm đến du lịch. Một điểm hấp dẫn du lịch nếu thiếu những yếu tố nhƣ: khả năng
tiếp cận, dịch vụ ăn nghỉ thì cũng khó trở thành một điểm đến du lịch.
Điểm hấp dẫn du lịch nhƣ đƣợc đề cập tại mục 1.1.1 bao gồm những loại tài
nguyên có thể là tự nhiên, nhân văn hoặc kết hợp cả hai nhân tố này có khả năng tạo
ra động lực ban đầu cho sự đến và tham quan thƣởng thức, thẩm nhận những giá trị
về tự nhiên, văn hóa của du khách.
Một thực tế của những điểm hấp dẫn du lịch là nó có tính đa dạng và hơn thế
nữa là có thể thuộc những hình thức sở hữu khác nhau: cá nhân, tổ chức, tỉnh, quốc
gia , vì vậy dựa vào tiềm lực của từng chủ sở hữu điểm hấp dẫn đó mà có thể đầu
17
tƣ cho việc nâng cấp hạ tầng vật chất kỹ thuật, quảng bá, quảng cáo rộng rãi để đƣa
vào khai thác phục vụ du lịch, hay là để nó vào dạng chỉ là tiềm năng đối với hoạt
động du lịch.
- Hệ thống giao thông (Khả năng tiếp cận nơi đến)
Một điểm đến du lịch nhất thiết phải có, duy trì và không ngừng mở rộng hệ
thống giao thông đi lại. Nó tạo ra khả năng tiếp cận đƣợc đến điểm du lịch hấp dẫn
- Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ
Du lịch là một ngành sản xuất ra các sản phẩm là những dịch vụ. Tuy nhiên
tự thân ngành du lịch không thể sản xuất và đáp ứng đầy đủ nhƣ cầu của du khách
mà có sự kết hợp của nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau. Điều này thể hiện tính liên
ngành, đa ngành trong du lịch tại bất cứ một đất nƣớc, vùng lãnh thổ hay một điểm
đến, điểm du lịch nào.
Nhu cầu của khách du lịch là không cố định, nó có sự đa dạng trong việc đòi
hỏi hàng loạt các tiện nghi và các dịch vụ hỗ trợ tại nơi đƣợc lựa chọn. Vì vậy với
những nhu cầu và mong muốn của du khách để đảm bảo sự thỏa mãn đó thì điểm
đến du lịch cũng cần có sự đầu tƣ nhất định, sự liên kết với các ngành khác: giao
thông, y tế, cơ quan quản lý, chính quyền địa phƣơng, dân cƣ Điều này đƣợc phản
ánh bởi các hệ thống hạ tầng cơ bản nhƣ các dịch vụ công cộng, giao thông công
cộng và đƣờng xá cũng nhƣ các dịch vụ trực tiếp cho du khách nhƣ chỗ ở, thông tin
cho du khách, các dịch vụ giả trí, thể thao, hƣớng dẫn, phục vụ hay mua sắm
- Các hoạt động bổ sung
Một thực tế hiện nay đang diễn ra trong hoạt động du lịch của nƣớc ta đó là:
du khách muốn tiêu tiền nhƣng không biết mình phải tiêu tiền ở đâu, cho cái gì,
muốn làm một cái gì đó nhƣng không biết phải làm ở đâu. Đó là thực tế phản ánh
tình trạng thiếu, yếu các cơ sở, dịch vụ, các hoạt động bổ sung cho du khách tại
điểm đến du lịch.
Thông thƣờng việc sử dụng thời gian của du khách theo một chƣơng trình đã
đƣợc lập sẵn và trong đó có thời gian du khách đƣợc tự do sử dụng quỹ thời gian
của mình. Đối với khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế họ muốn sử dụng
thời gian của mình một cách có ý nghĩa và hợp lý nhất trong quỹ thời gian ngẵn
19
ngủi của mình tại điểm đến. Vì vậy ngoài những điểm tham quan đã đƣợc ghi trong
lịch trình tour du lịch đƣợc cung cấp bởi các công ty, tổ chức du lịch thì mong muốn
tìm hiểu, sử dụng các dịch vụ ngoài phần họ đã đƣợc nhà cung cấp ghi trong hợp
đồng là những nhu cầu rất lớn. Các dịch vụ bổ sung nhƣ dịch vụ làm đẹp, vui chơi
Hệ thống
giao thông
Dịch vụ lƣu
trú, ăn uống
Các tiện nghi
và dịch vụ
hỗ trợ
Các hoạt
động bổ
sung
20
một tỉnh. Do đó trong việc phân loại điểm đến du lịch, tác giả đƣa ra cách phân loại
căn cứ trên góc độ lãnh thổ, điểm đến đƣợc phân loại nhƣ sau:
- Điểm đến cấp quốc tế: khu vực bao gồm nhiều hoặc một số quốc gia ví dụ nhƣ
điểm đến Châu Á, Châu Âu, Đông Nam Á Đối với cấp độ điểm đến này thì dựa
vào đặc điểm chủ yếu là phân vùng theo sự phân chia lãnh thổ trên bản đồ thế giới.
Ở một số, hoặc nhiều quốc gia này cũng có nhiều điểm tƣơng đồng về ngôn ngữ, lối
sinh hoạt văn hóa, tài nguyên du lịch
- Điểm đến là quốc gia: Nhỏ hơn điểm đến quốc tế, thƣờng chỉ một quốc gia nhất
định nhƣ: điểm đến Việt Nam, Trung Quốc, Pháp Với đặc điểm của điểm đến là
quốc gia thì tài nguyên du lịch, dịch vụ du lịch, khả năng tiếp cận cũng mang đặc
điểm riêng của từng nƣớc. Chính những điều này mà có thể tạo nên sức hấp dẫn,
cạnh tranh trong không gian là một thành tố tạo nên điểm đến quốc tế.
- Điểm đến cấp vùng: Trong mỗi một đất nƣớc sự phân chia lãnh thổ theo vùng gần
nhƣ là tất yếu để có thể dễ dàng cho chính quyền quản lý. Đối với điểm đến cấp
vùng ví dụ nhƣ ở nƣớc ta có điểm đến vùng Bắc Trung Bộ, vùng Tây Nguyên, vùng
Đồng bằng sông Hồng… Căn cứ vào những nét đặc trƣng riêng trong lối sống văn
hóa, điều kiện phát triển du lịch khác nhau, mà du lịch có thể phát triển theo
những định hƣớng cụ thể cho từng điểm đến cấp vùng.
Hệ thống điểm du lịch đƣợc hình thành với những yếu tố hấp dẫn có khả
năng thu hút khách du lịch đƣợc xác định trong quy hoạch tổng thể phát triển du
lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030) là những khu, điểm du lịch
quốc gia, điểm du lịch địa phƣơng. Những năm gần đây cùng với quá trình đầu tƣ
phát triển hạ tầng và những điều kiện tiếp cận điểm đến, nhiều khu du lịch, công
trình nhân tạo ra đời kéo theo hoạt động du lịch nhƣ thủy điện Sơn La (Sơn La), di
tích chùa Bái Đính (Ninh Bình), hầm đe
̀
o Hải Vân, khu vui chơi tổng hợp Đại Nam
(Bình Dƣơng) đã trở thành các điểm du lịch có sức thu hút khách mới làm phong
phú thêm hệ thống khu, điểm du lịch.
Quy hoạch tổng thể xác định hệ thống các điểm du lịch quốc gia; trên cơ sở
đó trong quy hoạch phát triển du lịch trên địa bàn từng địa phƣơng xác định các
điểm du lịch địa phƣơng. Các điểm du lịch đƣợc phân thành ba nhóm:
22
Điểm du lịch sinh thái, điểm du lịch văn hóa và điểm du lịch sinh thái kết
hợp văn hóa. Việc xác định điểm du lịch quốc gia chủ yếu dựa trên đánh giá về vị
trí, quy mô, đặc điểm tài nguyên và mức độ hấp dẫn du lịch.
Hệ thống điểm du lịch địa phƣơng cũng đƣợc hình thành trên cơ sở khai thác
các giá trị tài nguyên du lịch ít nổi trội hơn về tính đặc sắc cũng nhƣ quy mô so với
các tài nguyên du lịch có giá trị cấp quốc gia. Tuy nhiên, việc đánh giá xác định đối
với hệ thống điểm du lịch quốc gia còn rất định tính và đạt đƣợc ở mức độ tƣơng
đối do vậy cho đến nay chƣa có điểm du lịch đƣợc công nhận là điểm du lịch quốc
gia, cũng vậy hệ thống điểm du lịch địa phƣơng chƣa đƣợc công nhận một cách
chính thức theo quy định của Luật Du lịch.
1.3. Hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch
1.3.1. Khái niệm
Theo Well và Wint (2000): “Xúc tiến là hoạt động liên quan đến quảng cáo,
marketing trực tiếp, tham gia các triển lãm, hội trợ thương mại” [19, tr. 1].
người nhận tin, ngân sách xúc tiến nhằm phát triển và duy trì hiệu quả một hỗn hợp
công cụ truyền thông trên cơ sở nguồn lực của các tổ chức, để thu hút một cách
cạnh tranh các khách hàng hiện tại và tiềm năng tới điểm đến, đạt được các mục
tiêu xúc tiến và các mục tiêu chung của điểm đến” [8, tr. 88].
1.3.2. Vai trò, lợi ích của hoạt động xúc tiến điểm đến du lịch
- Đối với chính điểm đến và các nhà cung ứng sản phẩm du lịch
Trƣớc hết có thể thấy rằng một điểm đến du lịch thực hiện một chƣơng trình,
chiến lƣợc xúc tiến thì mục đích quảng bá, thông tin rộng rãi hơn về toàn bộ thông
tin: nguồn tài nguyên đáp ứng nhu cầu tham quan, thƣởng ngoạn của du khách; khả
năng đáp ứng đƣợc nhu cầu về các dịch vụ ăn, nghỉ, bổ sung ; sản phẩm du lịch
của điểm đến là điều quan trọng nhất. Từ những điều này mới có thể thu hút đƣợc
sự chú ý, lƣu tâm của du khách mỗi lần lựa chọn nơi mà mình sẽ tiêu lƣợng thời
gian của kỳ nghỉ; thu hút đƣợc nguồn khách và quan trọng hơn chính là sự thu hút
đối với các nhà đầu tƣ. Sự minh bạch về lƣợng thông tin của điểm đến trong quá