xây dựng một số tuyến điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới - Pdf 25


1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐINH NHẬT LÊ XÂY DỰNG MỘT SỐ TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH
CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI SAU KHI MỞ RỘNG
ĐỊA GIỚI
Luận văn thạc sỹ du lịch Hà Nội, 2012 Hà Nội, 2012 MỤC LỤC

3
Trang

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài 6
2. Mục đích nghiên cứu 7
3. Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu 8
5. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
6. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 11
7. Những đóng góp mới của luận văn 14
8. Bố cục của luận văn 15
CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC XÂY
DỰNG CÁC TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH
16
1.1. Cơ sở lý luận 16
1.1.1. Tuyến điểm du lịch trong cấu trúc hệ thống lãnh thổ du lịch
16
1.1.1.1. Cấu trúc hệ thống lãnh thổ du lịch
16
1.1.1.2. Vị trí của điểm, tuyến du lịch trong hệ thống lãnh thổ du lịch
17

2.1.2. Tài nguyên du lịch của thành phố Hà Nội
52
2.1.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên của thành phố Hà Nội
52
2.1.2.1. Tài nguyên du lịch nhân văn của thành phố Hà Nội
56
2.1.3. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật của thành phố Hà Nội
70
2.1.3.1. Giao thông
70
2.1.3.2. Thông tin liên lạc
73
2.1.3.3. Hệ thống điện
74
2.1.3.4. Hệ thống cấp thoát nước
74
2.2. Hiện trạng khai thác một số tuyến điểm du lịch của thành phố
Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
75
2.2.1. Hiện trạng phát triển du lịch Hà Nội
75
2.2.1.1. Hiện trạng khách du lịch
75
2.2.1.2. Hiện trạng doanh thu du lịch
77
2.2.1.3. Hiện trạng lao động của ngành du lịch
78
2.2.1.4. Hiện trạng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất – kỹ thật phục vụ du
lịch
79

3.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm khai thác có hiệu quả các tuyến
điểm du lịch của Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
123
3.3.1. Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Nội
123
3.3.2. Tăng cường đầu tư phát triển du lịch
123
3.3.3. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch
125
3.3.4. Đa dạng hoá các sản phẩm du lịch
126
3.3.5. Tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch
127
3.3.6. Nâng cao hiệu quả quản lý, tổ chức thực hiện
128
3.4. Một số kiến nghị 128
3.4.1. Kiến nghị với Tổng cục du lịch
128
3.4.2. Kiến nghị với UBND TP Hà Nội
129
3.4.3. Kiến nghị với Sở VHTT&DL Hà Nội
129
3.4.4. Kiến nghị với các sở, ban, ngành liên quan
130
KẾT LUẬN 131
TÀI LIỆU THAM KHẢO 133
PHỤ LỤC 138

Bảng 2.2: Số liệu thống kê thu nhập du lịch của Hà Tây cũ
77
Bảng 2.3: Số liệu thống kê lượng khách du lịch đến Hà Nội sau khi
mở rộng (giai đoạn 2008 - 2009)
78
Bảng 2.4: Thực trạng về nguồn nhân lực du lịch của Hà Nội
78

7
Bảng 2.5: Thống kê trong khối khách sạn được xếp hạng sao của
Hà Nội năm 2011
81
Bảng 3.1. Kết quả đánh giá vị trí một số điểm du lịch ở Hà Nội
100
Bảng 3.2. Kết quả đánh giá độ hấp dẫn của một số điểm du lịch ở
Hà Nội
101
Bảng 3.3. Kết quả đánh giá CSHT và CSVCKT một số điểm du
lịch ở Hà Nội
102
Bảng 3.4 Kết quả đánh giá thời gian hoạt động du lịch của một số
điểm du lịch ở Hà Nội
104
Bảng 3.5: Kết quả đánh giá sức chứa khách du lịch của một số điểm
du lịch ở Hà Nội
105
Bảng 3.6: Kết quả đánh giá độ bền vững của môi trường du lịch tại
một số điểm du lịch ở Hà Nội
107
Bảng 3.7: Kết quả đánh giá tổng hợp 6 chỉ tiêu

ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất
kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa
dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được
với các nước trong khu vực. Phấn đấu đến năm 2030, Việt Nam trở thành
quốc gia có ngành du lịch phát triển. [43]
Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, là trái
tim của cả nước, nhận được rất nhiều sự quan tâm, đầu tư về mọi mặt trong
đó du lịch là lĩnh vực được ưu tiên phát triển. Sau khi chính thức mở rộng
địa giới vào tháng 1 năm 2008, Thủ đô Hà Nội mới có diện tích lớn gấp 3,6
lần so với trước khi mở rộng, bao gồm: thành phố Hà Nội cũ, toàn bộ tỉnh
Hà Tây, huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc) và 4 xã của huyện Lương Sơn (Hòa
Bình). Tổng diện tích của Thủ đô mới là hơn 3.300 km2. Sự mở rộng ấy đã
đem lại cho Hà Nội thêm rất nhiều tài nguyên du lịch, là những nguồn lực
quan trọng trong sự phát triển du lịch. Không còn bó hẹp trong ba mươi sáu
phố phường vốn đã quá quen thuộc với du khách, du lịch Hà Nội ngày nay
đem đến nhiều lựa chọn hơn với những chương trình du lịch phong phú đáp
ứng nhu cầu thẩm nhận của nhiều tập khách khác nhau như du lịch sinh thái,
du lịch nghỉ dưỡng, du lịch lễ hội, du lịch làng nghề, du lịch nông nghiệp…

9
Hội tụ rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch như vậy, song trên
thực tế, sự mở rộng của Hà Nội mới chỉ thể hiện dưới góc độ hành chính,
chưa có được những bước đột phá đối với du lịch Thủ đô. Sản phẩm du lịch
của Hà Nội thời gian qua chủ yếu dựa vào các yếu tố tự nhiên, khai thác
những cái có sẵn mà chưa có được sự đầu tư đúng mức bởi vậy Hà Nội hiện
nay nổi bật lên là trung tâm trung chuyển khách du lịch lớn chứ chưa thể
hiện được vai trò là đầu tàu phát triển du lịch của cả nước như mong muốn.
Một trong những vấn đề cần thiết để phát triển du lịch thủ đô trong thời gian
tới đây là phải đẩy mạnh việc nghiên cứu để xây dựng các tuyến điểm du
lịch mới, nhằm tạo nên những sản phẩm du lịch độc đáo, thu hút ngày càng

vậy, Hà Nội hiện nay bao gồm 29 đơn vị hành chính: 1 thị xã, 10 quận, 18
huyện ngoại thành. Tuy vậy, trước đây đã có những công trình nghiên cứu
về khu vực thành phố Hà Nội cũ, với những tuyến điểm du lịch quen thuộc
hiện đang được khai thác tương đối hiệu quả. Vì vậy với thời gian nghiên
cứu có hạn, đối tượng nghiên cứu của đề tài này chủ yếu tập trung vào khu
vực Hà Nội mới sau khi tiến hành mở rộng địa giới, không đi vào đánh giá,
phân tích nhiều ở khu vực thành phố Hà Nội cũ.
- Giới hạn về thời gian: Đề tài tập trung điều tra, thu thập, phân tích các
số liệu trong giai đoạn từ 2005 – 2010 và định hướng phát triển giai đoạn
2012 – 2020.
5. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trên Thế giới
Du lịch ngày càng phát triển mạnh mẽ tại nhiều quốc gia trên thế giới, số
lượng người đi du lịch ngày càng tăng, ngày càng có nhiều nhà khoa học tiến
hành các công trình nghiên cứu về du lịch. Từ đầu những năm 60, ở Liên Xô
đã có những nghiên cứu về quy hoạch các vùng du lịch tiêu biểu như công
trình nghiên cứu đánh giá các thể tổng hợp tự nhiên phục vụ mục đích du
lịch của dưới sự chủ trì của Mukhina. Trong công trình này, ông đã đưa ra

11
những nguyên tắc, phương pháp để tiến hành một công trình đánh giá tổng
thể tự nhiên cũng như các thành phần của chúng. Công trình nghiên cứu này
được xem là cơ sở khoa học cho các công trình đánh giá tài nguyên du lịch ở
Liên Xô, Ba Lan và nhiều quốc gia Xã hội chủ nghĩa khác. Tiếp theo đó, các
nhà khoa học Tiệp Khắc như Mariot, Sulawikova đã nghiên cứu việc đánh
giá và thành lập bản đồ tiềm năng du lịch tự nhiên và lịch sử - văn hóa.
Pertxick (1978) đã chỉ ra những nguyên tắc, phương pháp điều tra, đánh
giá tài nguyên trong quy hoạch vùng kinh tế nói chung và quy hoạch vùng
du lịch nói riêng. [15]. Các nhà địa lý Anh, Mỹ đã tiến hành các nghiên cứu
về nguyên tắc và phương pháp phân vùng du lịch, bản chất các vùng du lịch

phát triển vùng du lịch Bắc Bộ” (2001), “Quy hoạch phát triển du lịch Việt
Nam giai đoạn 1995 – 2010” (1995). Có thể kể đến ở đây đề tài khoa học
cấp bộ của PGS. TS Phạm Trung Lương và nhóm nghiên cứu thuộc Viện
Nghiên cứu Phát triển Du lịch: “Cơ sở khoa học xây dựng các tuyến điểm du
lịch”. Đây là một đề tài nghiên cứu đạt được nhiều thành công, có tính ứng
dụng cao, là cơ sở quan trọng cho các đề tài nghiên cứu ứng dụng về xây
dựng các tuyến điểm du lịch.
Các địa phương đã và đang tiến hành triển khai xây dựng nhiều đề tài quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch cấp tỉnh / thành phố: Hồ Chí Minh, Hà Nội,
Hải Phòng. Đà Nẵng. Khánh Hoà … với sự tham gia thực hiện của các nhà
khoa học địa lý, du lịch trong và ngoài nước. Trong đó, việc xây dựng các
tuyển điểm du lịch được xác định là một trong những nội dung quan trọng.
“Xây dựng một số tuyến điểm du lịch của thành phố Hà Nội sau khi
mở rộng địa giới” là một trong những đề tài đầu tiên nghiên cứu về vấn đề
này trên phạm vi lãnh thổ Hà Nội sau khi mở rộng địa giới. Kết quả nghiên
cứu của đề tài sẽ đóng góp tích cực cho việc nghiên cứu xây dựng các tuyến
điểm du lịch cấp địa phương nói chung và Hà Nội sau khi mở rộng địa giới
nói riêng.
13
6. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
Quan điểm nghiên cứu
Quan điểm hệ thống
Quan điểm này được sử dụng rộng rãi trong quá trình nghiên cứu, theo
đó, khi nghiên cứu một vấn đề cụ thể nào đó cần đặt nó trong mối tương
quan với các vấn đề, yếu tố trong hệ thống. Các hệ thống lãnh thổ du lịch
thường tồn tại và phát triển trong mối quan hệ qua lại nội tại của từng phân
hệ, giữa các phân hệ du lịch trong một hệ thống với nhau và với môi trường

hợp, đảm bảo các mục tiêu và nguyên tắc phát triển bền vững.
Quan điểm kế thừa
Khi tiến hành nghiên cứu, để tiết kiệm thời gian, công sức và tiền bạc,
cần phải biết kế thừa các công trình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu và các
tài liệu có liên quan đến việc xây dựng tuyến điểm du lịch của các nhà
nghiên cứu trước.
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
- Nghiên cứu, xử lý các tài liệu trong phòng dựa trên các nguồn tư liệu,
số liệu khác nhau thu thập được từ những nguồn đáng tin cậy. Với phương
pháp này, các tài liệu về tuyến điểm du lịch, về hoạt động du lịch … sẽ được
phân tích, chọn lọc, xử lý nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu. Tổng quan
tài liệu thu thập được cho phép các nhà nghiên cứu kế thừa các nghiên cứu
trước đó, sử dụng các thông tin đã qua kiểm chứng, cập nhật những vấn đề
liên quan trong và ngoài nước. Ngoài nguồn thông tin từ sách báo, tạp chí,
các công trình khoa học được lưu trữ trong hệ thống thư việc, một trong
những nguồn tư liệu to lớn và dễ dàng tiếp cận hiện nay xuất phát từ mạng
lưới thông tin toàn cầu internet với các công cụ tìm kiếm ưu việt.

15
Phương pháp khảo sát, điều tra thực địa
- Bên cạnh việc phân tích tài liệu lưu trữ sẵn có, các nhà nghiên cứu sử
dụng phương pháp khảo sát, điều tra thực địa để có được những thông tin
thực tế, cập nhật có điều kiện để so sánh, đối chiếu với thông tin thu thập
trong phòng. Việc điều tra thực địa giúp các nhà nghiên cứu tránh được
quyết định chủ quan, vội vàng, phiến diện, thiếu cơ sở thực tế.
- Các hoạt động chính: quan sát, chụp ảnh, quay phim, ghi chép, gặp
gỡ, trao đổi với chính quyền sở tại, người dân địa phương, tham gia các buổi
thuyết trình, hội nghị, hội thảo tại các điểm du lịch trên địa bàn nghiên cứu.
Phương pháp thang điểm tổng hợp

Đề tài nghiên cứu việc xây dựng các tuyến điểm du lịch của Hà Nội
nhằm phục vụ khai thác du lịch trước mắt và lâu dài. Vì vậy không chỉ tập
trung vào những tuyến điểm sẵn có mà cần có những dự báo về khả năng
khai thác, phát triển các tuyến điểm du lịch trong tương lai dựa trên dự báo
về nguồn khách, cơ cấu khách, thị trường khai thác khách cũng như khả
năng đầu tư, tôn tạo, nâng cấp các điểm du lịch và dựa trên sự tăng trưởng
chung của ngành du lịch.
7. Những đóng góp mới của luận văn
- Tổng quan có chọn lọc các nghiên cứu trong và ngoài nước các vấn đề
lý luận, phương pháp luận, hệ thống chỉ tiêu cho việc xây dựng các tuyến
điểm du lịch và vận dụng chúng vào điều kiện cụ thể của thành phố Hà Nội
sau khi mở rộng địa giới.
- Điều tra, khảo sát, đánh giá tiềm năng, thực trạng khai thác một số
tuyến điểm du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới,
từ đó đưa ra nhận xét về điểm mạnh, những hạn chế và khả năng khai thác
của chúng.

17
- Xây dựng một số tuyến điểm du lịch của thành phố Hà Nội sau khi
mở rộng địa giới dựa trên tổ hợp chỉ tiêu bằng phương pháp thang điểm tổng
hợp và đề xuất một số giải pháp nhằm khai thác các tuyến điểm đó.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận
văn gồm 3 chương:
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO VIỆC XÂY
DỰNG CÁC TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH
CHƯƠNG 2. HIỆN TRẠNG KHAI THÁC CÁC TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH
CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI SAU KHI MỞ RỘNG ĐỊA GIỚI
CHƯƠNG 3. XÂY DỰNG VÀ KHAI THÁC MỘT SỐ TUYẾN ĐIỂM DU
LỊCH CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI SAU KHI MỞ RỘNG ĐỊA GIỚI

du lịch liên quan dựa trên việc sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên du lịch
(kinh tế, xã hội, môi trường) cao nhất. Là một dạng của tổ chức lãnh thổ xã
hội, tổ chức lãnh thổ du lịch mang tính chất lịch sử. Cùng với sự phát triển
của xã hội, trước hết của sức sản xuất xã hội, đã dần dần xuất hiện các hình
thức tổ chức lãnh thổ du lịch. [42]
Tổ chức lãnh thổ du lịch có hệ thống phân vị bao gồm điểm du lịch,
trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng du lịch và vùng du lịch. Trong
đó, điểm du lịch là cấp thấp nhất của hệ thống lãnh thổ du lịch.
Về cấu trúc, hệ thống lãnh thổ du lịch là một hệ thống gồm nhiều
thành phần có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Có thể coi các điều kiện và
nhân tố du lịch trong sự thống nhất của chúng là một hệ thống mở phức tạp,
gồm có cấu trúc bên trong và cấu trúc bên ngoài. Cấu trúc bên trong gồm các
nhân tố hoạt động với sự tác động qua lại lẫn nhau. Cấu trúc bên ngoài gồm

19
các mối liên hệ với điều kiện phát sinh và với hệ thống khác (tự nhiên, kinh
tế - xã hội)
1.1.1.2. Vị trí của điểm, tuyến du lịch trong hệ thống lãnh thổ du lịch
 Điểm du lịch
Trong hệ thống phân vị về mặt lãnh thổ, điểm du lịch là cấp thấp nhất.
Điểm du lịch có quy mô nhỏ. Khi thể hiện trên bản đồ vùng du lịch, điểm du
lịch là những điểm riêng biệt. Song, dù quy mô nhỏ, trên thực tế điểm du
lịch cũng chiếm một diện tích nhất định, quy mô khác nhau. Dựa theo quy
mô, điểm du lịch được chia ra thành: Điểm du lịch quốc gia và điểm du lịch
địa phương.
Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du
lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch” [14]. Điểm du
lịch là nơi tập trung một loại tài nguyên nào đó (tự nhiên, văn hoá – lịch sử
hoặc kinh tế - xã hội) hoặc một loại công trình riêng biệt phục vụ du lịch
hoặc kết hợp cả hai ở quy mô nhỏ. Vì thế, điểm du lịch có thể được phân

1.1.2.2. Tài nguyên du lịch
Theo Điều 4, Luật Du lịch của Việt Nam thì “Tài nguyên du lịch là
cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử-văn hóa, công trình lao
động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử
dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu
du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch.” [14]
TNDL gồm TNDL tự nhiên và TNDL nhân văn đang được khai thác
và chưa được khai thác.
TNDL có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu của tổ chức, cá
nhân. 21
Tài nguyên du lịch tự nhiên
TNDL tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậ
u,
thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên đang được khai thác hoặc

thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
 Địa hình
Địa hình là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạ
o nên
phong c
ảnh và sự đa dạng của phong cảnh. Đối với du lịch, các dấu hiệ
u bên
ngoài của địa hình càng đa dạng và đặc biệt thì càng có sức hấp dẫ
n du
khách.
Các đơn vị hình thái chính của địa hình là núi, đồi và đồng bằ
ng,

ại lực chủ yếu
là sự lưu thông của nước trong các loại đá dễ bị hoà tan. Hang động Karst l
à
một kiểu Karst được quan tâm đối với du lịch vì cảnh quan thiên nhiên c
ủa
các hang đ
ộng Karst rất hấp dẫn khách du lịch. Nhiều hang động có vẻ đẹp
lộng lẫy, tráng lệ và r
ất kỳ ảo do tạo hoá sinh ra. Nhiều hang động chứa đựng
những di tích khảo cổ học, di tích lịch sử văn hoá. Không ít hang động đ
ã
được con người xây dựng thêm các công trình kiến trúc như chùa chi
ền để
thờ tự tạo nên một thế giới tâm linh đầy bí ẩn… Như v
ậy, có thể nói hang
động Karst là một loại tài nguyên du lịch – một loại hàng hoá đ
ặc biệt có thể
sinh lợi cao.
+ Kiểu địa hình ven bờ, các kho chứa nước lớn (đại dương, bi
ển,
hồ…) có ý nghĩa quan trọng đối với du lịch. Trên ph
ạm vi thế giới, số khách
đi du lịch biển thường chiếm số đông.
 Khí hậu
Khí hậu cũng được coi là một dạng tài nguyên du l
ịch. Trong các chỉ
tiêu về khí hậu, đáng lưu ý nhất là hai chỉ tiêu: nhiệt độ và đ
ộ ẩm không khí.
Ngoài ra còn ph
ải tính đến các yếu tố khác như gió, áp su


tuổi và nhu cầu quốc gia. Tài nguyên nước mặt không chỉ có tác dụng hồ
i
ph
ục trực tiếp mà còn ảnh hưởng nhiều đến thành phần khác của môi trườ
ng
sống, đặc biệt nó làm dịu đi khí hậu ven bờ. Hiện nay, trên thế giới đã xuấ
t
hiện ngày càng nhiều khu du lịch nghỉ dưỡng ven biển, ven hồ,…
thu hút
một lượng lớn du khách.
+ Nước ngầm nhìn chung ít có giá trị đối với du lịch, tuy nhiên cầ
n
ph
ải nói tới tài nguyên nước khoáng. Đây là nguồn tài nguyên có giá trị
du
lịch an dưỡng và chữa bệnh.
 Sinh vật
Tài nguyên sinh vật bao gồm toàn bộ các loài th
ực vật, động vật sống
trên lục địa và dưới nuớc vốn có sẵn trong tự nhiên và do con ngư
ời thuần
dưỡng, chăm sóc, lai tạo. Tài nguyên sinh vật vừa góp phần cùng v
ới các loại
tài nguyên khác tạo nên phong c
ảnh đẹp, hấp dẫn, vừa có ý nghĩa bảo vệ môi
trường như: bảo tồn các nguồn gen, che phủ cho mặt đất, hạn chế hiện tư
ợng
xói mòn … Tài nguyên sinh vật có ý nghĩa cho vi
ệc phát triển nhiều loại

+ Ngoài ra khu vực dành cho săn bắn thể thao phải tương đ
ối rộng, có
địa hình tương đối dễ vận động, xa dân cư, đảm bảo tầm bay của đạn và s

an toàn tuyệt đối cho khách. Cấm dùng súng quân sự, mìn ch
ất nổ nguy
hiểm.
- Chỉ tiêu đối với mục đích du lịch nghiên cứu khoa học:
+ Nơi có động thực vật phong phú và đa dạng.
+ Nơi có tồn tại loài quý hiếm.
+ Nơi có thể đi lại quan sát, chụp ảnh.

25
+ Có quy định thu mẫu của cơ quan quản lý…
Tài nguyên du lịch nhân văn
TNDL nhân văn là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con ngườ
i
sáng tạo ra. Tuy nhiên chỉ có những tài nguyên nhân văn có sức hấp dẫn vớ
i
du khách và có thể khai thác phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả xã hộ
i, kinh
tế, môi trường mới được gọi là tài nguyên du lịch nhân văn.
TNDL nhân văn
được phân thành 2 loại chính là TNDL nhân văn vật thể
và TNDL nhân văn
phi v
ật thể.
Trong mỗi loại tài nguyên, căn cứ vào nguồn gốc hình thành , n
uôi
dưỡng, đặc tính của tài nguyên, cấp bậc xếp hạng của các loạ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status