ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM THỊ NHƢ TRANG
PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH DỰA TRÊN
GIÁ TRỊ VĂN HÓA MƢỜNG - HÒA BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Hà Nội - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Mục đích nghiên cứu 4
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6. Giới hạn đề tài 5
7. Phương pháp nghiên cứu 5
8. Ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài 6
9. Cấu trúc của luận văn 6
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA TỘC NGƢỜI VÀ PHÁT
TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH 7
1.1.Cơ sở lý luận về văn hóa tộc ngƣời 7
1.1.1. Khái niệm về văn hóa tộc người 7
1.1.2. Quan điểm, chủ chương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
trong vấn đề gắn văn hóa tộc người với phát triển kinh tế du lịch 8
1.2. Khái niệm giá trị, sản phẩm du lịch và đặc điểm của sản phẩm du lịch . 10
1.2.2.Sản phẩm du lịch là gì 11
1.2.3. Đặc điểm của sản phẩm du lịch 13
1.3. Quan niệm về văn hóa và sản phẩm văn hoá trong hoạt động du lịch 14
1.3.1. Văn hoá và du lịch là gì 14
1.3.2. Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá 16
1.3.3. Du lịch văn hoá và đặc điểm sản phẩm văn hóa, sản phẩm du lịch 17
1.4. Định nghĩa phát triển sản phẩm du lịch và các yếu tố ảnh hƣởng đến sự
phát triển sản phẩm du lịch 20
1.4.1. Định nghĩa phát triển sản phẩm du lịch 20
1.4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của sản phẩm du lịch 21
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DU LỊCH
VĂN HÓA MƢỜNG HÕA BÌNH THEO HƢỚNG BỀN VỮNG 69
3.1. Định hƣớng phát huy giá trị văn hóa tộc ngƣời trong phát triển du lịch
69
3.1.1. Các nhu cầu phát triển du lịch văn hóa trong việc khai thác giá trị văn
hóa tộc người 69
3.1.1.1. Nhu cầu về việc nâng cao chất lượng cuộc sống, nghỉ ngơi, vui chơi 69
3.1.1.2. Nhu cầu về việc làm và nâng cao đời sống cho người dân 69
3.1.1.3. Nhu cầu về việc phát triển đồng đều giữa các vùng miền trong cả nước
70
3.1.2. Các điều kiện nhằm phát triển du lịch trong khai thác văn hóa tộc người
70
3.1.2.1. Điều kiện về tài nguyên du lịch và sản phẩm văn hóa 70
3.1.2.2. Điều kiện về điểm đến du lịch 71
3.1.2.3. Điều kiện về cộng đồng, dân cư địa phương 71
3.2. Định hƣớng phát triển du lịch tỉnh Hòa Bình đến năm 2020 72
3.2.1. Quan điểm và chính sách phát triển du lịch tại Hòa Bình 73
3.2.2. Định hướng phát triển sản phẩm du lịch văn hóa Mường Hòa Bình 74
3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động phát triển sản phẩm du lịch
dựa trên giá trị văn hóa Mƣờng Hòa Bình 79
3.3.1. Chính sách phát triển du lịch 79
3.3.2. Đẩy mạnh hoạt động quảng bá, đào tạo nguồn lực tại địa phương 80
3.3.4. Xây dựng sản phẩm du lịch 81
3.3.5. Đáp ứng nhu cầu việc làm và tăng thu nhập cho người dân 84
3.3.6. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị phục vụ du lịch 84
3.4. Một số kiến nghị và đề xuất 84
3.4.1. Kiến nghị với Chính phủ, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch 84
3.4.2. Kiến nghị với sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hòa Bình và Ủy ban nhân
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ
STT
Tên Bảng biểu, bản đồ
Trang
1
Bảng 2.1: Doanh thu từ hoạt động du lịch tại Hòa Bình
49
2
Bảng 2.2: Doanh thu từ du lịch của huyện Tân Lạc, Lạc Sơn,
Cao Phong, Kim Bôi
50
3
Sơ đồ 2.3: Phân cấp quản lý Nhà nước về du lịch của tỉnh
Hòa Bình
51
4
Bảng 2.4: Doanh thu từ hoạt động du lịch huyện Tân Lạc từ
năm 2011 -2013
54
5
Bảng 2.5: Doanh thu từ hoạt động du lịch huyện Lạc Sơn từ
năm 2011 -2013
58
6
Tại Việt Nam, loại hình du lịch văn hóa các dân tộc thiểu số đã và đang được
chú trọng tìm hiểu, khai thác và phát triển. Có thể kể đến các mô hình văn hóa như
văn hóa Chăm pa tại Ninh Thuận, văn hóa dân tộc Thái Trắng tại bản Lác - Mai
Châu, Hòa Bình…Ngoài là những điểm du lịch hấp dẫn về thiên nhiên, giá trị nhân
văn sâu sắc, văn hóa bản địa tại các dân tộc thiểu số còn là tiềm năng phát triển du
lịch, cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nơi đây.
Tỉnh Hòa Bình là một miền đất hội tụ những yếu tố tự nhiên và văn hóa các
dân tộc thiểu số đặc sắc. Đồng thời, có vị trí địa lý và mạng lưới giao thông thuận
lợi phát triển du lịch. Tỉnh được coi là chiếc nôi của nền văn hóa Việt cổ. Tại đây,
có sự giao thoa văn hóa của nhiều anh em dân tộc khác nhau cùng cộng cư trong
không gian sống miền núi và trung du phía Bắc. Trong đó, đặc trưng nổi bật và tỉ lệ
dân số chiếm số đông của dân cư đó phải kể đến người Mường ở Hòa Bình. Dân tộc
Mường phân bố và cư trú rộng rãi tại các tỉnh Miền Bắc như Hòa Bình, Thanh Hóa,
Thái Nguyên, Phú Thọ Tuy nhiên, người Mường Hòa Bình có nét hài hòa văn
hóa riêng biệt, tiêu biểu của người Mường cổ. Chính điều đó, đã tạo tính đặc trưng
dễ dàng nhận diện người Mường của tỉnh Hòa Bình và người Mường của tỉnh khác
2
như Thanh Hóa, Thái Nguyên - sự khác biệt có thể nhận thấy rõ ràng qua trang phục
người phụ nữ…Hiện nay, mô hình du lịch văn hóa cộng đồng gắn với các dân tộc
thiểu số được đánh giá là xu thế của phát triển du lịch trong tương lai. Văn hóa
Mường được đánh giá là kho tàng chứa đựng nhiều giá trị văn hóa, nhân văn của
một tộc người. Hiện nay, phát triển du lịch tại Hòa Bình vẫn chưa đúng tầm, chưa
đáp ứng được nhu cầu thực tế. Tiềm năng du lịch chưa được khai thác đúng mức,
hoặc khai thác còn nhỏ lẻ, mang tính cá nhân. Bên cạnh đó, sản phẩm du lịch về văn
hóa Mường Hòa Bình còn nghèo nàn, đơn sơ, chưa bộc lộ những giá trị tài nguyên
nhân văn và tự nhiên sâu sắc. Những sản phẩm du lịch hiện đang cung cấp tới du
khách còn mờ nhạt, chưa đặc sắc và phong phú.
hai huyện Kim Bôi và Tân Lạc (tỉnh Hòa Bình)”- Trường Đại Học KHXH& Nhân
Văn, Đại Học Quốc Gia Hà Nội, 2012. Bùi Thanh Thủy với công trình “Văn hóa
các tộc người thiểu số tỉnh Hòa Bình với việc phát triển du lịch Văn Hóa” – Viện
Văn Hóa nghệ thuật Việt Nam, 2012.
Qua các đề tài nghiên cứu khoa học của các tác giả trên, có thể nhận thấy có
rất ít các công trình nghiên cứu toàn diện về giá trị văn hóa tộc người hướng đến
mục đích phát triển du lịch, đặc biệt là xây dựng các sản phẩm du lịch. Trong các
hoạt động du lịch tác động không nhỏ đến đời sống kinh tế, xã hội, tâm lý, lối sống
của cư dân, và vấn đề cốt lõi nhằm phát huy, bảo tồn văn hóa thông qua các hoạt
động này. Đây được đánh giá là yếu tố quan trọng trong việc đưa ra các giải pháp
nhằm phát triển bền vững.
Hoạt động quản lý và khai thác văn hóa tộc người trong phát triển du lịch
đang đóng vai trò không nhỏ trong tổng thể của hoạt động du lịch, hiện nay vẫn
chưa đi sâu và đi sát nhằm giải quyết một cách toàn diện.
Từ những thông tin tìm hiểu thực tế, tác giả đã kế thừa và tiếp thu các kiến
thức của các học giả đi trước làm cơ sở cho việc đánh giá, triển khai đề tài, bổ sung
thêm các nội dung của luận điểm trong luận văn. Bên cạnh đó, tác giả kết hợp việc
đi điền dã thực tế, sử dụng các tài liệu về văn hóa Mường Hòa Bình để làm sáng tỏ,
đặt ra các mục tiêu nghiên cứu toàn diện và đặc thù hơn. Trên cơ sở đó, đề xuất các
giải pháp, kiến nghị có hiệu quả nhằm phục vụ công tác quản lý và phát triển kinh tế
vùng, địa phương, tỉnh Hòa Bình.
4
3.Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu tiềm năng du lịch của văn hóa Mường Hòa Bình trên cơ sở đánh
giá hiện trạng hoạt động du lịch tại tỉnh Hòa Bình, đặc biệt là du lịch tìm hiểu bản
sắc văn hóa Mường. Đề xuất phương hướng giải pháp và thúc đẩy hoạt động đưa
các sản phẩm văn hóa Mường vào phục vụ trong du lịch. Trên cơ sở đó nâng cao
đồng người Mường.
- Đề xuất một số giải pháp và kiến nghị hiện trạng phát triển du lịch đang còn
tồn tại, nêu định hướng phát triển du lịch văn hóa Mường Hòa Bình.
6. Giới hạn đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu về dân tộc Mường tại Hòa Bình lấy 4 huyện Tân
Lạc (Mường Bi), Lạc Sơn (Mường Vang), Cao Phong (Mường Thàng), Kim Bôi
(Mường Động) làm thực tế tiêu biểu. Bao gồm những nét văn hóa đặc trưng tiêu
biểu của người Mường tại Hòa Bình. Đề tài không đi sâu vào khái quát những đặc
trưng riêng biệt, nhấn mạnh điểm mạnh mỗi Mường trong hoạt động thu hút khách
du lịch.
7.Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đề tài chuyên sâu về nghiên cứu dựa trên cơ
sở đưa ra những lý luận chung mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch. Các mối quan
hệ trong cộng đồng người Mường tạo nên những giá trị văn hóa phục vụ hoạt động
du lịch.
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Luận văn sử dụng phương pháp thu
thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp.
+Nguồn dữ liệu sơ cấp bằng việc điều tra, khảo sát thực địa, phỏng vấn các
cán bộ chuyên trách, những người phục vụ hoạt động du lịch về văn hóa Mường
Hòa Bình.
+Nguồn dữ liệu thứ cấp từ các kết quả nghiên cứu, qua sách báo, tạp chí, các
trang web điện tử, tài liệu, các báo cáo của các cơ quan quản lý du lịch và chính
quyền địa phương.
Phân tích đánh giá tổng hợp: Từ những yêu cầu của nghiên cứu, việc phân
tích đánh giá tổng hợp dựa trên những nhu cầu của thực tế, những tiềm năng sẵn có
của vùng. Đưa ra những giải pháp, mục tiêu phát triển du lịch từ việc khai thác
những giá trị đặc sắc của văn hóa Mường Hòa Bình, hướng đến phát triển du lịch
bền vững.
Theo GS Ngô Đức Thịnh trong công trình “Văn hóa tộc người và văn hóa
Việt Nam” văn hóa tộc người được hiểu theo cách diễn giải riêng “Văn hóa tộc
người là tổng thể các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt vật chất và văn hóa tinh
thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục và lễ nghi…khiến người ta phân
biệt tộc người này với tộc người khác”. Ngoài ra “Văn hóa tộc người là tổng thể các
yếu tố văn hóa mang tính đặc trưng và đặc thù dân tộc, nó thực hiện chức năng cố
kết tộc người và phân biệt tộc người này với tộc người khác”. (127, tr.229).
Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách chân thực cuộc sống của con người
trong suốt quá trình lịch sử. Văn hóa tạo nên một hệ thống các giá trị truyền thống
bao gồm thẩm mĩ và lối sống. Văn hóa là tất cả những gì con người đã bỏ công xây
dựng nên nó, và nó khác với những gì đang tồn tại ngoài tự nhiên của con người.
“Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị tinh thần và vật chất do con người sáng tạo
và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với
môi trường tự nhiên và xã hội” (127, tr 845).
Có thể thấy rằng đời sống vật chất và tinh thần mang một hiện tượng phổ
quát của các tộc người, mặt khác sự vận động của chủ thể luôn gắn với không gian
thời gian cụ thể. Chính nhờ vào quan hệ của tự nhiên và xã hội mà chủ thể văn hóa
sáng tạo ra những sản phẩm có giá trị, đồng thời nhờ đó mà chủ thể có thể thể hiện
mình trước tự nhiên và xã hội. Tất cả đều phản ánh những giá trị được định hình
qua thời gian và không gian sinh tồn của các tộc người.
8
Các dạng thức biểu hiện của văn hóa tộc người
Đối với bất cứ tộc người nào trong quá trình tương tác với môi trường tự nhiên
để tồn tại và mang giá trị văn hóa đặc trưng riêng. Nhưng nhìn chung bao gồm các
dạng thức tiêu biểu như sau :
- Trong văn hóa mưu sinh có các loại hình công cụ, phương thức canh tác, chăn
nuôi, các nghề thủ công, biện pháp tổ chức sản xuất, hái lượm, săn bắn.
bảo tồn nét đẹp văn hóa của các dân tộc anh em trong cả nước.
Trong nhiều chủ trương, đường lối, chính sách về chỉ đạo và thực hiện mục
tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã được Đảng và Nhà nước quan tâm và ban hành từ
rất sớm, làm cơ sở và định hướng trong hoạt động bảo tồn và phát huy bản sắc văn
hóa dận tộc, gắn với kinh tế để phát triển văn hóa và nâng cao đời sống kinh tế xã
hội của đồng bào các dân tộc thiểu số.
Như trong nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII ra đời đã nêu lên các nhiệm
vụ cụ thể trong đó có nhiệm vụ bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc
thiểu số. Với mục tiêu chính nhằm xây dựng một nền văn hóa mới tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, làm nền tảng tinh thần cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế
xã hội.
Trong những năm trở lại đây, Chính phủ đã ban hành nhiều các quy định đề
ra hướng phát triển văn hóa gắn với kinh tế như nghị quyết số 581/ QĐ – TTg ngày
6 /5/ 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược phát triển văn hóa
đến năm 2020. Trong đó, có đưa ra nhiệm vụ “Đẩy mạnh các hoạt động bảo tồn và
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số. Thông qua hoạt động du lịch văn hóa
được tổ chức, quản lý tốt, góp phần nâng cao đời sống tinh thần, tạo công ăn việc
làm, xóa đói giảm nghèo cho đồng bào vùng dân tộc miền núi”. Nghị định số
05/2011 ngày 14/01/2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, trong đó nhấn mạnh
“Bảo tồn, phát huy các lễ hội truyền thống tốt đẹp của đồng bào các dân tộc, định
kỳ tổ chức ngày hội văn hóa – thể thao dân tộc theo từng khu vực hoặc từng dân tộc
ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số”. Đặc biệt, gần đây nhất đề án “Bảo tồn, phát triển
văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt theo quyết định số 1270/ QĐ – TTg ngày 27/07/2011. Trong đó, có
hai trong bốn mục tiêu chính được đề ra là:
-Tôn vinh các giá trị truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số; khích lệ sáng tạo
các giá trị văn hóa mới góp phần giảm dần sự chênh lệch về mức sống và hưởng thụ
gian này nhưng không đúng trong thời gian hoặc không gian khác.
11
Theo phạm trù kinh tế học: Giá trị là một khái niệm trừu tượng, là ý nghĩa của
sự vật trên phương diện phù hợp với nhu cầu của con người. Tạm thời có thể xem
giá trị kinh tế của sự vật liên quan mật thiết đến ba mặt chính của nhu cầu là sản
xuất, tiêu thụ , sở hữu, của chủ thể kinh tế ở bất kỳ cấp bậc nào (cá nhân, công ty,
nhà nước , toàn thế giới).
Trong đó, có thể nhận thấy được các sự vật có khả năng làm thỏa mãn nhu cầu
con người ở dạng đơn lẻ , riêng biệt, nhưng giá trị của chúng được liên kết lại thành
hệ thống thông qua sự tương tác của các nhu cầu chính yếu nói ở trên.
1.2.2.Sản phẩm du lịch là gì
Sản phẩm du lịch tiếng Anh là “tourism product”, một thuật ngữ chuyên
ngành du lịch. Một quá trình “trực tiếp” cho phép các doanh nghiệp và các cơ quan
du lịch xác định khách hàng hiện tại và tiềm năng. Ảnh hưởng đến ý nguyện, sáng
kiến khách hàng ở cấp độ địa phương, khu vực quốc gia và quốc tế để các đơn vị
này có thể thiết kế tạo ra các dịch vụ du lịch nhằm nâng cao sự hài lòng của khách,
đạt được mục tiêu đề ra.
“Sản phẩm du lịch là toàn bộ những dịch vụ tạo ra các hàng hóa văn hóa
mang tính đặc thù do các cá nhân, và tổ chức kinh doanh du lịch cung cấp để phục
vụ những nhu cầu của các đối tượng du khách khác nhau; nó phù hợp với những
tiêu chí nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế; Đồng thời chứa đựng những giá trị văn
hóa đặc trưng bản địa, đáp ứng và làm thỏa mãn các mục tiêu kinh tế - xã hội đối
với các cá nhân, tổ chức và địa phương đang diễn ra các hoạt động kinh tế du lịch”.
Sản phẩm du lịch trước hết là sản phẩm văn hóa và chúng có mối quan hệ mật thiết
với nhau.
Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất
hữu hình và vô hình, đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất
theo chuỗi thời gian liên tục nhằm thỏa mãn những nhu cầu khác nhau của du khách
trong suốt chuyến đi.
+Sản phẩm du lịch riêng lẻ: là những dịch vụ, hàng hóa thỏa mãn nhu cầu
riêng lẻ của du khách trong khi họ thực hiện chuyến đi của mình bao gồm nhu cầu
lưu trú, nhu cầu vận chuyển, tham quan, giải trí…
Căn cứ vào đặc tính đáp ứng nhu cầu của sản phẩm mà sản phẩm riêng lẻ có
thể phân biệt theo các hình thức sau:
13
- Sản phẩm du lịch đặc thù: là những dịch vụ, hàng hóa thỏa mãn nhu cầu
đặc trưng của du khách, thúc đẩy khách đi du lịch. Đây là những dịch vụ thỏa mãn
nhu cầu tham quan, tìm hiểu, nghỉ ngơi, giải trí, chữa bệnh, hội họp, triển lãm…
- Sản phẩm du lịch mang tính thiết yếu: là những dịch vụ, hàng hóa thỏa mãn
những nhu cầu không thể không đáp ứng của du khách như nhu cầu ăn, ở, mặc, đi
lại…
- Sản phẩm du lịch mang tính bổ sung: là những sản phẩm thỏa mãn những
nhu cầu tuy không thiết yếu nhưng đảm bảo hoạt động sinh hoạt bình thường của du
khách tại nơi du lịch như trang điểm, cắt tóc, mua sắm vật dụng hàng ngày…
Các sản phẩm du lịch nêu trên đều cần thiết cho phát triển du lịch nói chung
và phát triển loại hình du lịch sự kiện nói riêng của mỗi địa phương.
1.2.3. Đặc điểm của sản phẩm du lịch
1.2.3.1.Sản phẩm du lịch có tính vô hình
Sản phẩm du lịch về cơ bản là sản phẩm không nhìn thấy được, không thể
lưu kho và thành phần chính của sản phẩm du lịch là dịch vụ (chiếm 80% -90% về
mặt giá trị), hàng hóa chiếm tỉ trọng nhỏ.
Chính vì sản phẩm du lịch không thể nhìn thấy được nên khách hàng không
thể dùng trước, kiểm tra trước mà chỉ có thể cảm nhận khi đã sử dụng nó. Việc đánh
giá chất lượng sản phẩm du lịch rất khó khăn vì thường mang tính chất chủ quan, và
1.3.1. Văn hoá và du lịch là gì
Văn hoá là gì ?
Khái niệm về văn hóa có rất nhiều định nghĩa và khái niệm khác nhau, tùy
từng góc nhìn văn hóa mà có khái niệm cụ thể phù hợp với nó. Tuy nhiên, có một
vài khái niệm thường gặp có thể áp dụng vào nhiều lĩnh vực.
Theo UNESSCO văn hoá hôm nay được coi là tổng thể những nét riêng biệt
về vật chất và tư tưởng, trí tuệ và cảm xúc, nó quyết định tính cách của một xã hội
hay của một nhóm người trong xã hội. Nó bao gồm: nghệ thuật, văn chương, lối
sống, quyền cơ bản của con người, hệ thống các giá trị, tập tục và tín ngưỡng. Văn
hoá đem lại cho con người khả năng suy xét của bản thân, chính nhờ vào văn hoá
mà con người tự thể hiện, ý thức được bản thân và biết mình là một phương án chưa
hoàn thành để đặt ra, xem xét bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi về nó.
Văn hoá là hệ thống hữu cơ giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo
ra và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn, qua tác động con người – môi
trường tự nhiên – xã hội.
15
Văn hóa là toàn bộ những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự
nhiên – xã hội. Văn hóa là của con người, thuộc về con người và chỉ thuộc về con
người mà thôi. Nó ra đời được coi là tất yếu khách quan để phản ánh và phục vụ
cuộc sống của các cá nhân và cộng đồng người trong những thời điểm khác nhau
của lịch sử. Trong tiến trình phát triển, bất cứ một cộng đồng dân tộc nào đều hướng
đến việc sáng tạo
Du lịch là gì ?
Hoạt động du lịch về lịch sử đã có sự xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử của
loài người. Từ những chuyến đi xa, cuộc hành hương, du canh du cư đã giúp con
người biết thêm về nhiều vùng đất mới, nhiều nơi khác nhau trên thế giới với tên
gọi lữ hành. Khái niệm du lịch thì phải rất lâu sau mới có, tùy từng quốc gia, góc độ
Văn hoá trong du lịch ở nước ta vừa như là mục tiêu mang tính định hướng,
vừa như là một quan điểm khẳng định rằng: văn hoá là nội dung, là bản chất đích
thực của du lịch Việt Nam, tạo nên tính độc đáo, đặc sắc, hấp dẫn nhất của các sản
phẩm du lịch Việt Nam.
Xét theo phạm trù văn hoá xã hội, du lịch là một hoạt động văn hoá cao cấp
của con người. Bởi văn hoá là mục đích mà du lịch hướng tới, là nguyên nhân nội
sinh của nhu cầu du lịch. Dù người đi du lịch nhằm mục đích gì hoặc theo phương
thức nào thì mục đích cuối cùng là nhằm thoả mãn những nhu cầu của bản thân, để
cảm nhận, thụ hưởng những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra ở một
xứ sở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ.
Mối quan hệ mật thiết giữa văn hoá và du lịch được thể hiện qua các khía
cạnh: văn hoá là nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch. Nguồn nhiên liệu của văn
hoá có hai loại cơ bản: văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể. Theo quan niệm của
ngành du lịch, người ta xếp các thành tố văn hoá vào tài nguyên nhân văn cụ thể:
các di tích lịch sử - văn hoá; hàng lưu niệm; ẩm thực; lễ hội; trò chơi dân gian, giải
trí; phong tục, tập quán, cách ứng xử, giao tiếp; tín ngưỡng, tôn giáo; văn học - nghệ thuật.
Do đó văn hoá là điều kiện và môi trường để cho du lịch phát sinh và phát
triển. Cùng với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên văn hoá là một trong những điều kiện đặc
trưng cho việc phát triển du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương.
Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá còn được biểu hiện qua hành vi ứng xử,
đạo đức trong phục vụ, trong giao dịch kinh doanh du lịch. Trong hoạt động kinh
doanh nếu muốn thành công thì cần phải có văn hóa, gọi là văn hóa kinh doanh.
17
Đây chính là mối quan hệ giữa văn hóa với kinh doanh nói chung, kinh doanh du
lịch nói riêng.
Xét ở một khía cạnh khác, mối quan hệ mật thiết này được thể hiện: nếu
muốn phát triển du lịch cần phải có một môi trường du lịch tốt. Tri thức, thông tin
hoạt động du lịch mang giá cả khác nhau.
Sản phẩm văn hóa mang đặc trưng dấu ấn của thời đại, phản ánh khả năng,
trình độ, điều kiện phát triển, tâm lý xã hội, mục tiêu, mục đích cá nhân, cộng đồng
dân cư trong xã hội tại thời điểm nó ra đời. Sản phẩm văn hóa không phải khi nào
cũng biểu hiện, thể hiện rõ định hình, định tính, định lượng, điều đó được hiểu là
tính cụ thể của sản phẩm văn hóa không phải là yếu tố xuyên suốt khi nào cũng có.
Sản phẩm văn hóa có tầm lan tỏa rộng, có sức lan tỏa bền bỉ, nội dung và hình thức,
quy mô và tính chất lan tỏa là không đồng nhất.
Tác động của sản phẩm văn hóa đối với xã hội loài người, các cộng đồng dân
cư, các cá nhân, tổ chức…là rất khác nhau nhưng đều thống nhất ở tính phổ quát
rộng rãi và bền vững cao. Sản phẩm văn hóa luôn chứa đựng giá trị nhưng không
phải bao giờ cũng biểu hiện ra về mặt giá cả. Và không phải sản phẩm văn hóa nào
cũng trở thành hàng hóa. Giá cả không bao giờ phản ánh hết được giá trị của sản
phẩm văn hóa.
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp mang bản chất và nội dung văn hóa
sâu sắc. Trên cơ sở nền tảng văn hóa dân tộc, vùng miền, hoạt động du lịch luôn
đem đến cho du khách những sản phẩm chứa đựng các giá trị nhân văn sâu sắc
mang sắc thái bản địa. Điều đó cho thấy những sản phẩm du lịch chính là những sản
phẩm của văn hóa du lịch.
Sản phẩm du lịch trước hết là một loại hàng hóa nhưng mang yếu tố đặc biệt,
nó cũng cần được nghiên cứu, đầu tư, có người sản xuất với quy trình sản xuất khác
nhau, có người tiêu dùng…như mọi hàng hóa khác. Sản phẩm du lịch thường mang
những đặc trưng văn hóa cao, thỏa mãn nhu cầu của các đối tượng du khách. Đó có
thể là một chương trình du lịch diễn ra trong khoảng thời gian và không gian khác
nhau. Sản phẩm du lịch thể hiện ở trong các tour du lịch này là việc khai thác các
tiềm năng, nguồn lực sẵn có trên một địa bàn hoặc được tạo ra khi biết kết hợp
những tiềm năng, nguồn lực này theo những thể thức riêng của từng cá nhân hay
một công ty nào đó. Việc xây dựng một chương trình du lịch (tour) chính là tạo ra
một sản phẩm du lịch. Đó chính là việc khai thác các giá trị văn hóa vật thể và phi