Phát triển sản phẩm du lịch sinh thái tại khu dự trữ sinh quyển Cát Bà - Pdf 25


1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trần Thị Thùy Linh

Phát triển sản phẩm du lịch sinh thái tại khu dự trữ
sinh quyển Cát Bà .
Luận văn ThS. Du lịch

Nghd. : PGS. TS Phạm Trung Lương
1.2.1.2. Dự án khu Bảo tồn tự nhiên Annapurna, Nepal
1.4.2. Ví dụ về phát triển DLST không bền vững

1.4.2.1.Đảo Galaparos - Ecuado
1.4.2.2.Khu dự trữ tự nhiên Tangkoko Dua Saudara - Indonesia
1.4.3.Tại Việt Nam :
1.3. DLST ở các VQG và Khu Dự trữ sinh quyển (DTSQ):
1.3.1.Khái quát tiềm năng DLST ở các VQG:
1.3.2. Khu dự trữ sinh quyển (DTSQ):
1.3.2.1. Khái niệm
1.3.2.2. Chức năng khu DTSQ
1.3.2.3. Cấu trúc và tổ chức một khu DTSQ
1.3.2.4. Công tác quản lý khu DTSQ
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DLST TẠI KHU DTSQ CÁT BÀ
2.1.Tổng quan về khu DTSQ Cát Bà
2.1.1.Đặc điểm chung
2.1.2. Phân khu Khu DTSQ Cát Bà
2.2. Đặc điểm tài nguyên DLST của khu DTSQ Cát Bà :
2.2.1. Các giá trị tự nhiên
2.2.1.1. Địa hình:
2.2.1.2. Khí hậu, thủy văn :
2.2.1.3. Hệ thực vật
2.1.2.4. Hệ động vật
2.2.2. Một số giá trị tài nguyên DLST khác :
2.2.2. 1. Hóa thạch tê giác :
2.2.2.2. Hệ thống hang động trên đảo
2.2.2.3. Cảnh quan vịnh Lan Hạ
2.2.2.4 Di chỉ Cái Bèo
2.2.2.5. Lễ hội truyền thống
2.3. Thực trạng khai thác du lịch sinh thái tại Cát Bà:

3.3.3. Với Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hải Phòng:
3.3.4. Đối với Sở Du lịch Hải Phòng:
3.3.5. Đối với Ban Quản lý VQG Cát Bà:

Tài liệu tham khảo 101
Phụ lục 105
Danh mục viết tắt Du lịch sinh thái: DLST.
Vƣờn Quốc gia: VQG
Khu bảo tồn thiên nhiên: Khu BTTN
Khu Dự trữ Sinh quyển: Khu DTSQ
Hệ sinh thái: HST
Ủy ban Nhân dân: UBND
Danh mục bảng biểu Tên bảng
Trang
1. Biểu đồ 2.1 .Biến trình nhiệt ở một số trạm vùng Quảng Ninh -
Hải Phòng

2. Biểu đồ 2.2 .Biến trình mưa vùng Quảng Ninh - Hải Phòng

3. Bảng 2.1: Độ khoáng và tính chất chính của hệ thống suối ngầm
của Cát Bà và một số địa phương khác

4. Bảng 2.2: Sơ đồ Ban quản lý Vườn Quốc gia Cát Bà



3. Hình 2.3. Rừng ngập mặn tại Cát Bà

4. Hình 2.4. Voọc đầu vàng tại Cát Bà

5. Hình 2.5 : Khỉ vàng trên đảo Cát Dứa

6. Hình 2.6: Tàu cao tốc Hoàng Long vận chuyển khách từ Đình Vũ
ra đảo Cát Hải

7. Hình 2.7: Hệ thống nhà hàng nổi tại Bến Bèo
8. Hình 2.8: Áo phông có hình voọc Cát Bà được bày bán tại Vườn
Quốc Gia Cát Bà

9. Hình 2.9: Trung tâm du khách tại VQG Cát Bà

10. Hình 2.10: Một số biển chỉ dẫn tại Vườn Quốc gia Cát Bà

11. Hình 2.11: Đá tai mèo tại Đảo Cát Dứa và mũi tên hướng dẫn lối
đi cho du khách.
LỜI MỞ ĐẦU

thức được tính cấp thiết của vấn đề, tác giả đã chọn đề tài:"Phát triển sản
phẩm du lịch sinh thái tại Khu Dự trữ sinh quyển Cát bà" để thực hiện nghiên
cứu cho luận văn thạc sỹ.
2.Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài:
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm ra một số giải pháp nhằm góp
phần phát triển du lịch sinh thái tại Khu Dự trữ sinh quyển Cát Bà
Luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về du lịch sinh thái và chỉ ra một
số ví dụ về phát triển du lịch sinh thái bền vững và không bền vững trên thế
giới và Việt Nam.
- Phân tích được thực trạng phát triển hoạt động du lịch sinh thái tại Cát
Bà và chỉ ra các nguyên nhân của việc phát triển du lịch sinh thái tại Cát Bà
hiện nay chưa tương xứng với tiềm năng.
- Đề xuất được một số các giải pháp về nhân lực, marketing, định
hướng quy hoạch v v và có các kiến nghị với các cơ quan hữu quan nhằm
phát triển các sản phẩm du lịch sinh thái tại Cát Bà trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận về du lịch sinh
thái, kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái ở một số nước trên thế giới và
Việt Nam, tình hình phát triển du lịch sinh thái ở Cát Bà hiện nay cùng với hệ
thống các yếu tố liên quan tới phát triển du lịch sinh thái ở Cát Bà.
- Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động du lịch sinh thái tại Khu Dự
trữ sinh quyển Cát Bà, trong đó đặc biệt là VQG Cát Bà, hạt nhân của Khu
Dự trữ sinh quyển và các yếu tố liên quan. Bên cạnh đó, luận văn có sử dụng
một số tư liệu và số liệu về hoạt động du lịch sinh thái tại một số địa phương
trong cả nước, các công trình nghiên cứu được đăng tải trong các tạp chí, các
hội thảo, các đề tài nghiên cứu khoa học về du lịch sinh thái
4.Các quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu:

CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH SINH THÁI
1.1. Quan điểm về du lịch sinh thái
1.1.1. Du lịch bền vững
Theo quan điểm của Tổ chức bảo tồn Thiên nhiên Thế giới ( IUCN ) thì
“phát triển bền vững phải cân nhắc đến hiện trạng khai thác các nguồn tài
nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó
khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn, đan
xen nhau”.
Có quan điểm cho rằng du lịch bền vững là hoạt động khai thác môi
trường tự nhiên và văn hoá nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách
du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn, đồng thời tiếp tục duy
trì các khoản đóng góp cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng

để tăng cường phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát
triển du lịch, đồng thời sử dụng thu nhập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực
mà ngành du lịch phụ thuộc vào.
Định nghĩa của Ôxtrâylia: Du lịch sinh thái là du lịch dựa vào thiên
nhiên, có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên,
được quản lý bền vững về mặt sinh thái.
Theo Hiệp hội Du lịch sinh thái quốc tế: Du lịch sinh thái là việc đi lại
có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải
thiện phúc lợi cho người dân địa phương
Buckley đã tổng quát : Chỉ có du lịch dựa vào tư nhiên, được quản lý
bền vững, hỗ trợ bảo tồn và có giáo dục môi trường mới được xem là du lịch
sinh thái.
Khái niệm về du lịch sinh thái đã có những thay đổi trong cách nhìn
nhận, từ việc đơn thuần coi hoạt động DLST là loại hình du lịch ít tác động
tới môi trương sang cách nhìn nhận DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm
với môi trường, có tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho
hoạt động bảo tồn và đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương.
Hội thảo quốc gia về “ Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái
ở Vịêt Nam ” từ ngày 7-9/9/1999 đã đưa ra định nghĩa lần đầu tiên về DLST ở
Việt Nam “ Du lịch sinh thái là lọai hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn
hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và
phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”.
Theo định nghĩa này, vai trò của cộng đồng địa phương trong hoạt động sinh
thái đã được khẳng định.
Theo Luật Du lịch, du lịch sinh thái là " hình thức du lịch dựa vào
thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng
đồng nhằm phát triển bền vững".
Mặc dù khái niệm về DLST còn có những điểm chưa thống nhất và sẽ
còn được hoàn thiện dần trong quá trình phát triển của nhận thức, song những
đặc điểm cơ bản nhất của định nghĩa về DLST cũng đã được Tổ chức Du

tồn cảnh quan, nâng cao mức sống cho cộng đồng dân cư địa phương
- Tính liên vùng : Hoạt động du lịch không đơn thuần diễn ra ở một địa
phương, một quốc gia mà thường liên kết các điểm du lịch, các tuyến du lịch
liêng vùng, liên quốc gia.
- Tính mùa vụ : Tuỳ vào loại hình du lịch mà hoạt động du lịch sẽ có
tính mùa vụ rõ ràng hoặc không rõ ràng. Tính mùa vụ trong du lịch thể hiện ở
việc thời gian tập trong hoạt động du lịch với cường độ cao trong năm.
- Tính chi phí : Biểu hiện ở chỗ mục đích chuyến đi du lịch là hưởng
thụ các sản phẩm du lịch chứ không nhằm mục đích kiếm tiền.
- Tính xã hội hoá : Mọi thành phần trong xã hội có thể gián tiếp hoặc
trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch.
- Tính giáo dục cao về môi trường : DLST hướng con người tiếp cận
gần hơn nữa với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn có giá trị cao về đa
dạng sinh học và nhạy cảm về mặt môi trường. Hoạt động DLST luôn lồng
ghép nội dung giáo dục về môi trường, bảo vệ môi trường cho du khách và
được coi là cầu nối nhằm cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với việc
bảo vệ môi trường.
-Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa
dạng sinh học: Từ vịêc giáo dục du khách về nội dung bảo vệ môi trường,
hoạt động DLST sẽ dần dần giúp du khách hình thành ý thức bảo vệ các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững.
- Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương : các khái niệm về du
lịch sinh thái hầu hết đều nhấn mạnh vai trò của cộng đồng địa phương. Cộng
đồng địa phương là chủ nhân các nguồn tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho
du lịch. Việc tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động DLST sẽ có
tác dụng trong việc giáo dục du khách bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi
trường, đồng thời nâng cao nhận thức và thu nhâp cho cộng đồng.
Cochrane đã tổng kết các nguyên tắc của du lịch sinh thái [26]:
* Sử dụng thận trọng các nguồn tài nguyên môi trường, khuyến khích
hoạt động bảo tồn và giảm thiểu các nguồn tiêu dùng gây rác rưởi

xuống cấp tập tục sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương
dưới tác động nào đó sẽ làm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có và
sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó. Hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực
tiếp đến hoạt động DLST.
* Tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương.
Đây vừa là nguyên tắc vừa là mục tiêu hướng tới của DLST. Nếu như
các loại hình du lịch dựa vào tự nhiên khác ít quan tâm đến vấn đề này và
phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động du lịch đều thuộc về các công ty thì
ngược lại DLST sẽ dành một phần đáng kể lợi nhuận từ hoạt động của mình
đóng góp cải thiện môi trường, nâng cao mức sống của cộng đồng địa
phương.
Ngoài ra, DLST với sự tham gia của cộng đồng luôn hướng tới việc
huy động tối đa sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động của
mình. Cộng đồng người dân địa phương có thể tham gia các hoạt động dịch
vụ DLST như làm vai trò hướng dẫn viên (guider), đảm nhiệm chỗ nghỉ cho
khách (homestay), cung ứng các nhu cầu về thực phẩm (food supply), về hàng
lưu niệm cho khách (souvenir supply) Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với
việc giảm sức ép của cộng động sống trong và ở vùng đệm các vườn quốc gia,
khu bảo tồn thiên nhiên lên môi trường và đa dạng sinh học.
Thông qua việc tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng
địa phương, nỗ lực bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hoá khu vực sẽ được
phát huy bởi người dân địa phương sẽ nhận thức được sự gắn kết hữu cơ giữa
việc bảo tồn và cuộc sống của họ, và chính họ sẽ là những người chủ thực sự,
ngừơi bảo vệ trung thành các giá trị tự nhiên và văn hoá bản địa nơi diễn ra
hoạt động DLST.
1.1.2.3.Những yêu cầu cơ bản đối với tổ chức phát triển DLST:
Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được du lịch sinh thái là sự tồn tại
của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao.
Điều này giải thích tại sao hoạt động du lịch sinh thái thường chỉ phát
triển ở các khu bảo tồn tự nhiên (natural reserve), đặc biệt ở các vườn quốc

của các du khách khác hay nói một cách khác mức độ thoả mãn của du khách
bị giảm xuống dưới mức bình thường do tình trạng quá tải.
Về khía cạnh xã hội, sức chứa văn hoá xã hội là giới hạn mà tại đó bắt
đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của hoạt động khác du lịch đến đời
sống văn hoá - xã hội, kinh tế - xã hội của khu vực.
Do đó cần tổ chức để lượng khách chủ yếu tập trung chủ yếu trong khu
chức năng dịch vụ không gây tác động lớn đến nguồn tài nguyên và môi
trường, đa dạng sinh học ở lãnh thổ được tổ chức phát triển DLST.
- Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng địa phương: Để làm giảm
sức ép của cộng đồng địa phương lên khu bảo tồn cần khuyến khích họ tham
gia vào các hoạt động du lịch sinh thái. Lợi ích từ hoạt động du lịch sinh thái
phải được chia sẻ cho đa số dân cư. Ngoài ra, mục tiêu của DLST là sử dụng
nhiều nhất các nguồn lực địa phương, trong đó cộng đồng địa phương - người
hiểu rõ nhất về tài nguyên – đóng vai trò quan trọng. Do đó việc hoạch định
các dự án, quy hoạch cần được sự tham gia góp ý của cộng đồng.
1.1.2.5.Nội dung phát triển du lịch sinh thái :
Phát triển du lịch sinh thái là khai thác có hiệu quả những giá trị tiềm
năng của DLST kèm theo các điều kiện về cơ sở hạ tầng, về cơ sở vật chất kỹ
thuật và lao động du lịch nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh
và đáp ứng nhu cầu của du khách, đem lại lợi ích cho xã hội.
Nội dung phát triển DLST cụ thể bao gồm [29]:
- Tăng cường hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học : Yếu tố cơ bản cho
hoạt động của DLST chính là đa dạng sinh học. Hoạt động phát triển du lịch
sinh thái phải đi đôi với việc tăng cường đầu tư cho công tác bảo tồn đa dạng
sinh học nhằm đảo bảo được nguồn tài nguyên sinh thái bền vững.
Nội dung của việc tăng cường hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học thể
hiện ở các góc độ : nghiên cứu đánh giá thực trạng đa dạng sinh học, duy trì
bảo vệ các nguồn gien, xây dựng các khu bảo tồn và tăng cường công tác bảo
vệ môi trường, hỗ trợ phát triển cộng đồng địa phương.
- Phát triển các tuyến, điểm DLST : Đây là một nội dung quan trọng

Cơ chế và chính sách của Nhà nước cần được hoàn thiện theo hướng tạo điều
kiện cho hoạt động du lịch sinh thái. Các chính sách cụ thể như chính sách về
thuế, tín dụng, đào tạo, ưu đãi đầu tư, v.v. cần được thống nhất và đồng bộ
hóa nhằm tạo môi trường tốt hơn cho sự phát triển của các hoạt động du lịch
sinh thái.
- Tăng cường hoạt động nghiên cứu thị trường và quảng bá xúc tiến du
lịch sinh thái : phát triển DLST phải gắn liền với việc tăng cường nghiên cứu,
xác định rõ thị trường mục tiêu. Việc quảng bá, xúc tiến phải đẩm bảo nội
dung đầy đủ các thông tin cần thiết; lựa chọn phương tiện, thời điểm thích
hợp đến từng phân đoạn thị trường nhằm giới thiệu các sản phẩm DLST cũng
như làm tăng nhu cầu du khách.
1.1.2.6. Tài nguyên du lịch sinh thái :
Khái niệm về tài nguyên du lịch đã được đưa ra trong Luật Du lịch,
theo đó tài nguyên du lịch là " cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích
lịch sử- văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị
nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố
cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du
lịch"
Tài nguyên du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng của tài nguyên
du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và
các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự
nhiên đó. Tuy nhiên không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa đều
được coi là tài nguyên DLST, mà chỉ có các thành phần tự nhiên và các giá trị
văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác để tạo ra sản
phẩm DLST, phục vụ cho hoạt động DLST mới được coi là tài nguyên
DLST.
Đặc điểm của tài nguyên DLST [19]:
- Tài nguyên DLST phong phú và đa dạng, trong đó có nhiều tài nguyên
đặc sắc có sức hấp dẫn lớn: Các tài nguyên DLST chủ yếu được hình thành từ
tự nhiên do đó tài nguyên DLST rất đa dạng. Có nhiều hệ sinh thái đặc biệt,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status