MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU i
LỜI MỞ ĐẦU i
CHƯƠNG1: 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH 1
VÀ MỐI TƯƠNG QUAN CỦA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VỚI 1
KHẢ NĂNG CẠNH TRANH 1
CHƯƠNG2: 23
THỰC TRẠNG VÀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA 23
CÔNG TYCỔ PHẦN MAY SÔNG HỒNG 23
KẾT LUẬN 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.2.2.1: Tình hình nguồn vốn kinh doanh của Công ty (2010-2011) 32
Bảng 2.2.1.4: Bảng phân tích tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu 30
Bảng 2.2.1.5: Bảng phân tích tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) 31
Bảng 2.3: Bảng tổng hợp các chỉ tiêu phân tích 42
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang ở trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới. Điều này mang lại nhiều
cơ hội cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhưng bên cạnh đó cũng là không ít
những khó khăn thách thức. Với việc nền kinh tế ngày càng mở cửa, các doanh nghiệp
nước ngoài dễ dàng xâm nhập vào thị trường Việt Nam, thêm vào đó là sự ra đời ồ ạt
của các doanh nghiệp trong nước làm cho thị phần của các doanh nghiệp ngày càng bị
thu hẹp. Các doanh nghiệp của chúng ta hiện nay đang phải chịu sức ép cạnh tranh rất
lớn để có thể giữ vững chỗ đứng của mình trên thị trường, để tồn tại và phát triển. Quá
i
trình cạnh tranh góp phần giúp cho các doanh nghiệp khẳng định vị thế của mình, tăng
nhanh doanh thu và lợi nhuận. Đồng thời đó cũng là yếu tố để loại bỏ những doanh
nghiệp kinh doanh yếu kém, không hiệu quả. Mỗi doanh nghiệp lại đề ra những chiến
lược cạnh tranh khác nhau để nâng cao khả năng cạnh tranh cho mình. Và Công ty cổ
phần may Sông Hồng cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
1.1.1. Khái niệm cạnh tranh.
1.1.1.1. Khái niệm:
Cùng với sự thay đổi của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử phát triển của xã
hội loài người, con người luôn đi tìm động lực phát triển trong các hình thái kinh tế xã
hội. Đã có thời kỳ, thị trường, cạnh tranh và lợi nhuận được coi như là mặt trái gắn
liền với chủ nghĩa tư bản và bị gạt ra khỏi công cuộc xây dựng thể chế kinh tế thời kỳ
kế hoạch hóa tập trung. Lúc đó, các Nhà nước xã hội chủ nghĩa coi việc nắm giữ sức
mạnh kinh tế kết hợp với yếu tố kế hoạch tập trung như là những động lực cơ bản để
thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội, thực hiện công bằng, dân chủ và văn minh. Với
đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi, Việt Nam thực sự thực thi những nguyên lý của
cơ chế thị trường chưa từng được biết đến trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung.
Chúng ta đã dần quen với việc vận dụng một động lực mới của sự phát triển là cạnh
tranh.
Cho đến nay, các nhà khoa học dường như chưa thể thoả mãn với bất cứ khái niệm
nào về cạnh tranh. Bởi lẽ với tư cách là một hiện tượng xã hội riêng có của nền kinh tế
thị trường, cạnh tranh xuất hiện ở mọi lĩnh vực, mọi công đoạn của quá trình kinh
doanh và gắn liền với bất cứ chủ thể nào đang hoạt động trên thị trường. Do đó, cạnh
tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào ý định và hướng tiếp
cận của các nhà khoa học.
Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi một chủ thể kinh doanh, cạnh tranh được
cuốn Black’Law Dictionary diễn tả là “sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều
thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba”.
Với tư cách là hiện tượng xã hội, theo cuốn Từ điển Kinh doanh của Anh xuất bản
năm 1992, cạnh tranh được định nghĩa là “sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh
doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên hoặc cùng một loại khách hàng về
phía mình”.
1
1.1.1.2. Những đặc trưng cơ bản của cạnh tranh:
Mặc dù được nhìn nhận dưới những góc độ khác nhau, song theo các lý thuyết về
kinh tế, cạnh tranh là sản phẩm riêng có của nền kinh tế thị trường, là linh hồn và là
trường, quyết định giá trị thặng dư của xã hội sẽ thuộc về ai. Ở đó mức thụ hưởng
về lợi nhuận của mỗi nhà kinh doanh sẽ tỷ lệ thuận với năng lực của bản thân họ trong
việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, người tiêu dùng trong xã hội.Hình ảnh của cạnh
tranh sẽ được minh họa bằng quan hệ tay ba giữa các doanh nghiệp với nhau và với
khách hàng. Các doanh nghiệp đua nhau lấy lòng khách hàng. Khách hàng là người có
quyền lựa chọn người sẽ cung ứng sản phẩm cho mình. Quan hệ này cũng được mô tả
tương tự khi các doanh nghiệp cùng nhau tranh giành một nguồn nguyên liệu. Hiện
tượng tranh đua như vậy được kinh tế học gọi là cạnh tranh trong thị trường. Từng thủ
đoạn được sử dụng để ganh đua được gọi là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp. Kết
quả của cuộc cạnh tranh trên thị trường làm cho người chiến thắng mở rộng được thị
phần và tăng lợi nhuận, làm cho kẻ thua cuộc chịu mất khách hàng và phải rời khỏi thị
trường.
Ba là, mục đích của các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh là cùng tranh giành thị
trường mua hoặc bán sản phẩm.
Với sự giục giã của lợi nhuận, nhà kinh doanh khi tham gia vào thị trường luôn
ganh đua để có thể tranh giành các cơ hội tốt nhất nhằm mở rộng thị trường. Với sự
giúp đỡ của người tiêu dùng, thị trường sẽ chọn ra người thắng cuộc và trao cho họ lợi
ích mà họ mong muốn.Trên thị trường, cạnh tranh chỉ xảy ra giữa các doanh nghiệp có
chung lợi ích tiềm năng về nguồn nguyên liệu đầu vào (cạnh tranh mua); hoặc về thị
trường đầu ra của sản phẩm (cạnh tranh bán) của quá trình sản xuất. Việc có cùng
chung lợi ích để tranh giành làm cho các doanh nghiệp trở thành là đối thủ của nhau.
Lý thuyết cạnh tranh xác định sự tồn tại của cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
theo hướng xác định sự tồn tại của thị trường liên quan đối với các doanh nghiệp. Việc
họ có cùng một thị trường liên quan làm cho họ có cùng mục đích và trở thành đối thủ
cạnh tranh của nhau. Theo kinh nghiệm pháp lý của các nước và theo Luật Cạnh tranh
Việt Nam, thị trường liên quan bao gồm thị trường sản phẩm và thị trường địa lý. Việc
xác định thị trường liên quan suy cho cùng là xác định khả năng thay thế cho nhau
giữa sản phẩm của các doanh nghiệp trên một khu vực không gian nhất định. Trong
đó, khả năng thay thế của các sản phẩm thường được mô tả bằng tính năng sử dụng,
tính chất lý hoá và giá cả tương tự nhau. Mọi sự khác biệt của một trong ba dấu hiệu
khả năng sử dụng hiệu quả hơn. Như thế, sẽ có kẻ mất và người được trong cuộc cạnh
tranh. Người được sẽ tiếp tục kinh doanh với những gì đã gặt hái, còn doanh nghiệp
4
thua cuộc phải thu hẹp hoạt động kinh doanh, thậm chí phải rời bỏ thị trường. Có thể
nói, với đặc trưng này, cạnh tranh được mô tả như quy luật đào thải rất tự nhiên diễn
ra trên thương trường.
1.1.2. Vai trò và tầm quan trọng của cạnh tranh.
1.1.2.2. Đối với nền kinh tế quốc dân:
Cạnh tranh còn đem lại những lợi ích không nhỏ cho nền kinh tế đất nước. Để tồn
tại và phát triển trong cạnh tranh các doanh nghiệp đã không ngừng nghiên cứu, tìm
hiểu và áp dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất kinh doanh nhờ đó mà tình
hình sản xuất của đất nước được phát triển, năng suất lao động được nâng cao. Đứng
ở góc độ lợi ích xã hội, cạnh tranh là một hình thức mà Nhà nước sử dụng để chống
độc quyền, tạo cơ hội để người tiêu dùng có thể lựa chọn được những sản phẩm có
chất lượng tốt, giá rẻ.
Cạnh tranh bao giờ cũng mang tính sống còn, gay gắt và nó còn gay gắt hơn khi
cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Hiện nay thị trường quốc tế có nhiều doanh nghiệp
của nhiều quốc gia khác nhau với những đặc điểm và lợi thế riêng đã tạo ra một sức ép
cạnh tranh mạnh mẽ, không cho phép các doanh nghiệp hành động theo ý muốn của
mình mà buộc doanh nghiệp phải quan tâm đến việc thúc đẩy khả năng cạnh tranh của
mình theo hai xu hướng: Tăng chất lượng của sản phẩm và hạ chi phí sản xuất. Để đạt
được điều này các doanh nghiệp phải biết khai thác triệt để lợi thế so sánh của đất
nước mình để tạo ra sự khác biệt cho sản phẩm. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải chú
trọng đầu tư các trang thiết bị hiện đại, không ngừng đưa các tiến bộ khoa học công
nghệ kỹ thuật vào sản xuất nhằm tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản
phẩm. Những điều này sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cho quốc gia, các nguồn lực sẽ
được tận dụng triệt để cho sản xuất, trình độ khoa học kĩ thuật của đất nước sẽ không
ngừng được cải thiện.
1.1.2.3. Đối với doanh nghiệp:
Như chúng ta đã biết, cạnh tranh là một biểu hiện đặc trưng của nền kinh tế hàng
các sản phẩm phù hợp với túi tiền và sở thích của mình. Những lợi ích mà họ thu
được từ hàng hoá ngày càng được nâng cao, thoả mãn ngày càng tốt hơn các nhu cầu
của họ nhờ có các dịch vụ trước, trong và sau khi bán hàng, được quan tâm nhiều
hơn. Đây là những lợi ích làm người tiêu dùng có được từ cạnh tranh.
6
1.1.3. Các hình thức cạnh tranh.
1.1.3.1. Căn cứ vào các chủ thể tham gia cạnh tranh:
Người ta chia cạnh tranh làm ba loại:
• Cạnh tranh giữa người bán và người mua:
Là cuộc cạnh tranh diễn ra theo "luật" mua rẻ bán đắt. Người mua luôn muốn mua
được rẻ, ngược lại người bán lại luôn muốn được bán đắt. Sự cạnh tranh này được thực
hiện trong quá trình mặc cả và cuối cùng giá cả được hình thành và hành động mua
được thực hiện.
• Cạnh tranh giữa người mua với người bán:
Là cuộc cạnh tranh trên cơ sở quy luật cung cầu. Khi một loại hàng hoá, dịch vụ
nào đó mà mức cung cấp nhỏ hơn nhu cầu tiêu dùng thì cuộc cạnh tranh sẽ trở nên
quyết liệt và giá dịch vụ hàng hoá đó sẽ tăng. Kết quả cuối cùng là người bán sẽ thu
được lợi nhuận cao, còn người mua thì mất thêm một số tiền. Đây là một cuộc cạnh
tranh mà những người mua tự làm hại chính mình.
• Cạnh tranh giữa những người bán với nhau:
Đây là cuộc cạnh tranh gay go và quyết liệt nhất, nó có ý nghĩa sống còn đối với
bất kì một doanh nghiệp nào. Khi sản xuất hàng hoá phát triển, số người bán càng tăng
lên thì cạnh tranh càng quyết liệt bởi vì doanh nghiệp nào cũng muốn giành lấy lợi thế
cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần của đối thủ và kết quả đánh giá doanh nghiệp nào
chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này là việc tăng doanh số tiêu thụ, tăng thị phần và
cùng với đó sẽ là tăng lợi nhuận, tăng đầu tư chiều sâu và mở rộng sản xuất. Trong
cuộc chạy đua này những doanh nghiệp nào không có chiến lược cạnh tranh thích hợp
thì sẽ lần lượt bị gạt ra khỏi thị trường nhưng đồng thời nó lại mở rộng đường cho
những doanh nghiệp nào nắm chắc được "vũ khí" cạnh tranh và dám chấp nhận luật
chơi phát triển.
• Cạnh tranh không hoàn hảo:
Nếu một hãng có thể tác động đáng kể đến giá cả thị trường đối với đầu ra của hãng
thì hãng ấy được liệt vào "hãng cạnh tranh không hoàn hảo"… Như vậy cạnh tranh
không hoàn hảo là cạnh tranh trên thị trường không đồng nhất với nhau. Mỗi loại sản
phẩm có thể có nhiều loại nhãn hiệu khác nhau, mỗi loại nhãn hiệu lại có hình ảnh và
uy tín khác nhau mặc dù xem xét về chất lượng thì sự khác biệt giữa các sản phẩm là
không đáng kể. Các điều kiện mua bán cũng rất khác nhau. Những người bán có thể
8
cạnh tranh với nhau nhằm lôi kéo khách hàng về phía mình bằng nhiều cách như:
Quảng cáo, khuyến mại, những ưu đãi về giá và dịch vụ trước, trong và sau khi mua
hàng. Đây là loại hình cạnh tranh rất phổ biến trong giai đoạn hiện nay.
• Cạnh tranh độc quyền:
Là cạnh tranh trên thị trường mà ở đó một người bán một loại sản phẩm không
đồng nhất. Họ có thể kiểm soát gần như toàn bộ sản phẩm hay hàng hoá bán ra thị
trường. Thị trường này có pha trộn lẫn giữa độc quyền và cạnh tranh gọi là thị trường
cạnh tranh độc quyền. Ở đây xảy ra cạnh tranh giữa các nhà độc quyền. Điều kiện gia
nhập hoặc rút lui khỏi thị trường cạnh tranh độc quyền có nhiều trở ngại do vốn đầu tư
lớn hoặc do độc quyền về bí quyết công nghệ, thị trường này không có cạnh tranh về
giá cả mà một số người bán toàn quyền quyết định giá cả. Họ có thể định giá cao hơn
tuỳ thuộc vào đặc điểm tiêu dùng của từng sản phẩm, cốt sao cuối cùng họ thu được
lợi nhuận tối đa. Những nhà doanh nghiệp nhỏ tham gia vào thị trường này phải chấp
nhậnbán hàng theo giá cả của nhà độc quyền.
Trong thực tế có thể tình trạng độc quyền xảy ra nếu không có sản phẩm nào thay
thế sản phẩm độc quyền hoặc các nhà độc quyền liên kết với nhau. Độc quyền gây trở
ngại cho sự phát triển sản xuất và làm phương hại đến người tiêu dùng. Vì vậy ở một
số nước đã có luật chống độc quyền nhằm chống lại sự liên minh độc quyền giữa các
nhà kinh doanh.
1.1.3.3. Căn cứ vào phạm vi kinh tế.
Xét theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh được chia làm 2 loại: cạnh tranh giữa
các ngành và cạnh tranh trong nội bộ ngành. Để giành lợi thế trên thị trường, các
các doanh nghiệp trên thị trờng. Chất lượng sản phẩm càng cao tức là mức độ thoả
mãn nhu cầu càng cao, dẫn tới đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, làm tăng khả năng trong
thắng thế trong cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong điều kiện hiện nay, mức sống của
người dân ngày càng đựơc nâng cao, tức là nhu cầu có khả năng thanh toán của người
tiêu dùng tăng lên thì sự cạnh tranh bằng giá cả đã và sẽ có xu hướng vị trí cho sự cạnh
tranh bằng chất lượng.
Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điều kiện nhất
định về kinh tế kỹ thuật. Chất lượng là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện ở nhiều mặt khác
nhau tính cơ lý hoá đúng như các chỉ tiêu quy định, hình dáng mầu sắc hấp dẫn. Với
mỗi loại sản phẩm khác nhau, tuy nhiên vấn đề đặt ra la doanh nghiệp phải luôn luôn
giữ vũng và không ngừng năng cao chất lượng sản phẩm. Đó là điều kiện không thể
10
thiết nếu doanh nghiệp muốn giành được thắng lợi trong cạnh tranh, nói một cách khác
chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp. Khi chất lượng không
còn được đảm bảo, không thoả mãn nhu cầu khách hàng thì ngay lập tức khách hàng
sẽ rời bỏ doanh nghiệp.
Nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc tăng khả
năng cạnh tranh thể hiện trên các giác độ:
- Chất lượng sản phẩm tăng lên sẽ thu hút được khách hàng tăng đựơc khối lượng
hàng hoá tiêu thụ, tăng uy tín sản phẩm mở rộng thị trường, từ đó tăng doanh thu, tăng
lợi nhuận, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm có nghĩa là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh.
1.1.4.2. Cạnh tranh bằng giá cả.
Giá cả sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của giá trị sản phẩm mà người bán hay
doanh nghiệp bán dự định có thể nhận được từ người mua thông qua việc trao đổi
hàng hoá đó trên thị trường. Giá cả của sản phẩm phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Các yếu tố kiểm soát được: Chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí bán hàng, chi phí
lưu động và chi phí yểm trợ xúc tiến bán hàng.
- Các yếu tố không kiểm soát được: quan hệ cung cầu cường độ cạnh tranh trên
- Chính sách định giá theo giá thị trường.
Đây là cách định giá phổ biến của các doanh nghiệp hiện nay tức là giá bán sản
phẩm xoay quanh mức giá thị trường của sản phẩm đó. Ở đây do không sử dụng yếu tố
giá làm đòn bẩy kích thích người tiêu dùng nên để tiêu thụ được sản phẩm, doanh
nghiệp tăng cường công tác tiếp thị thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp giảm chi phí
sản xuất kinh doanh.
- Chính sách giá phân biệt.
Với cùng một loại sản phẩm nhưng doanh nghiệp định ra nhiều mức giá khác nhau
dựa theo nhiều tiêu thức khác nhau:
+ Phân biệt theo lượng mua: Mua khối lượng nhiều hoặc giảm giá hoặc hưởng
chiết khấu.
+ Phân biệt theo chất lượng: Các loại chất lượng (1,2,3) có mức giá khác nhau phục
vụ cho các nhóm đối tượng khác nhau.
12
+ Phân biệt theo phương thức thanh toán: Thanh toán ngay hay trả chậm, thanh
toán bằng tiền mặt hay chuyển khoản.
+ Phân biệttheo thời gian: Tại các thời điểm khác nhau, giá cả khác nhau.
- Chính sách bán phá giá.
Định mức giá bán thấp hơn hẳn giá thị trường và thấp hơn cả giá thành sản xuất.
Mục tiêu của bán giá là tối thiểu hoá rủi ro hay thua lỗ hoặc để tiêu diệt đối thủ cạnh
tranh. Muốn đạt đựơc mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phải có tiềm lực về tài chính,
về khoa học công nghệ sản phẩm đã có uy tín trên thị trường. Bán phá giá chủ nên áp
dụng khi sản phẩm bị tồn đọng quá nhiều, bị cạnh tranh gay gắt, lạc hậu không phù
hợp với nhu cầu tiêu dùng, sản phẩm mang tính thời vụ, dễ hư hỏng, càng để lâu càng
lỗ lớn.
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội mức sống của người dân
không ngừng nâng cao, giá cả không còn là công cụ cạnh tranh quan trọng nhất của
doanh nữa nhưng nếu doanh nghiệp biết kết hợp công cụ giá với các công cụ khác thì
kết quả thu được sẽ rất to lớn.
1.1.4.3. Cạnh tranh bằng hệ thống phân phối
1.1.4.4. Cạnh tranh bằng chính sách Marketing.
Khách hàng hay người mua hàng là một bộ phận không thể tách rời trong môi
trường cạnh tranh. Trong quá trình kinh doanh các doanh nghiệp sử dụng nhiều biện
pháp nhằm giành giật khách hàng về phía mình. Marketing hay hoạt động quảng cáo
thương hiệu là việc cung cấp đến người tiêu dùng những thông tin về sản phẩm, thông
điệp của nhà sản xuất. Qua đó tác động tới hành vi, thói quen mua hàng của người tiêu
dùng, thuyết phục họ sự dụng sản phẩm hay dịch vụ của mình. Trong hoạt động kinh
doanh, hoạt động này mang lại một hiệu quả to lớn, tác động tích cực đến doanh thu
của toàn doanh nghiệp. Ý thức được vấn đề này, các doanh nghiệp hiện nay đều đang
phát triển rất mạnh hoạt động marketing nhằm thu hút thêm khách hàng và mở rộng
thị trường. Do vậy để có thể thu hút được khách hàng đòi hỏi doanh nghiệp phải có
một chiến lược marketing rõ ràng, hoạt động quảng cáo ấn tượng để không bị mờ nhạt
trước hoạt động marketing của đối thủ cạnh tranh.
1.1.5. Sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh.
Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường. ở đâu có nền kinh
tế thị trường thì ở đó có nền kinh tế cạnh tranh. Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng
vậy, khi tham gia vào kinh doanh trên thị trường muốn doanh nghiệp mình tồn tại
14
và đứng vững thì phải chấp nhận cạnh tranh. Trong giai đoạn hiện nay do tác động
của khoa học kỹ thuật và công nghệ, nền kinh tế nước ta đang ngày càng phát triển,
nhu cầu cuộc sống của con người được nâng lên ở mức cao hơn rất nhiều.Con người
không chỉ cần có nhu cầu “ăn chắc mặc bền” như trước kia mà còn cần “ăn ngon
mặc đẹp”. Để đáp ứng kịp thời nhu cầu đó, doanh nghiệp phải không ngừng điều tra
nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, doanh nghiệp nào bắt kịp
và đáp ứng đầy đủ nhu cầu đó thì sẽ chiến thắng trong cạnh tranh. Chính vì vậy
cạnh tranh là rất cần thiết, nó giúp cho doanh nghiệp tồn tại và đứng vững trên thị
trường. Cạnh tranh sẽ tạo ra môi trường kinh doanh và những điều kiện thuận lợi để
đáp ứng nhu cầu khách hàng, làm cho khách hàng tin rằng sản phẩm của doanh
nghiệp mình là tốt nhất, phù hợp với thị hiếu nhu cầu của người tiêu dùng nhất.
Doanh nghiệp nào càng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng thì doanh nghiệp đó
1.2.1. Khái niệm về khả năng cạnh tranh.
Hiện nay, một doanh nghiệp muốn có một vị trí vững chắc trên thị trưòng và ngày
càng được mở rộng thì cần phải có một tiềm lực đủ mạnh để có thể cạnh tranh trên thị
trường. Cái đó chính là khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp. Khả năng cạnh
tranh của một doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị
trí của nó một cách lâu dài trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một mức lợi
nhuận ít nhất là bằng tỉ lệ đòi hỏi cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh.
1.2.2.1. Thị phần.
Doanh thu là số tiền mà doanh nghiệp thu được khi bán hàng hoá hoặc dịch vụ. Bởi
vậy mà doanh thu có thể được coi là một chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh. Hơn
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và tăng thêm lợi nhuận. Căn
cứ vào chỉ tiêu doanh thu qua từng thời kỳ hoặc qua các năm ta có thể đánh giá được
kết quả hoạt động kinh doanh là tăng hay giảm, theo chiều hướng tốt hay xấu. Nhưng
để đánh giá được hoạt động kinh doanh đó có mang lại được hiệu quả hay không ta
phải xét đến những chi phí đã hình thành nên doanh thu đó. Nếu doanh thu và chi phí
của doanh nghiệp đều tăng lên qua các năm nhưng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn
tốc độ tăng của chi phí thì hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá là
tốt, doanh nghiệp đã biết phân bổ và sử dụng hợp lý yếu tố chi phí, bởi một phần chi
phí tăng thêm đó được doanh nghiệp mở rộng quy mô kinh doanh, đầu tư mua sắm
trang thiết bị và xây dựng cơ sở hạ tầng. v.v.
16
Trên thực tế có rất nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác, trong đó thị phần là một chỉ tiêu
thường hay được sử dụng. Thị phần được hiểu là phần thị trường mà doanh nghiệp
chiếm giữ trong tổng dung lượng thị trường. Do đó thị phần của doanh nghiệp được
xác định:
Thị phần của doanh nghiệp =
Chỉ tiêu này càng lớn nói lên sự chiếm lĩnh thị trường của doanh nghiệp càng rộng.
Thông qua sự biến động của chỉ tiêu này ta có thể đánh giá mức động hoạt động của
lợi nhuận. Nếu chỉ tiêu này thấp tức là tốc độ tăng của lợi nhuận nhỏ hơn tốc độ tăng
của doanh thu, chứng tỏ sức cạnh tranh của doanh nghiệp thấp. Hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả cao. Đã có quá nhiều đối thủ thâm nhập vào thị
trường của doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp phải không ngừng mở rộng thị trường
để nâng cao khả năng cạnh tranh. Nhằm mục đích nâng cao lợi nhuận. Nếu chỉ tiêu
này cao tức là tốc độ tăng lợi nhuận lớn hơn tốc độ tăng của doanh thu. Hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp được đánh giá là có hiệu quả. Điều này chứng tỏ khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp cao. Doanh nghiệp cần phát huy lợi thế cảu mình
một cách tối đa và không ngừng đề phòng đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn thâm nhập vào
thị trường của doanh nghiệp bất cứ lúc nào do sức hút lợi nhuận cao.
Ngoại trừ các chỉ tiêu có thể đo lường được, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
còn được biểu hiện qua một số các chỉ tiêu định tính như
1.2.2.4. Uy tín của doanh nghiệp.
Đây là yếu tố tác động tới tâm lý người tiêu dùng và đến quyết định mua hàng của
người tiêu dùng. Uy tín của doanh nghiệp sẽ tạo lòng tin cho khách hàng, nhà cung
cấp và cho các đối tác kinh doanh và doanh nghiệp sẽ có nhiều thuận lợi và được ưu
đãi trong quan hệ với bạn hàng. Uy tín của doanh nghiệp là tài sản vô hình của doanh
nghiệp. Khi giá trị nguồn tài sản này cao sẽ giúp doanh nghiệp tăng khả năng thâm
nhập vào thị trường trong và ngoài nước, khối lượng tiêu thụ sản phẩm lớn và doanh
thu tăng, khả năng thâm nhập vào thị trường trong và ngoài nước, khối lượng tiêu thụ
sản phẩm lớn và doanh thu tăng, khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng
cao.
18
Tổng lợi nhuận
Tổng doanh thu
Trong nền kinh tế thị trường yếu tố nổi bật nhất để đánh giá khả năng cạnh tranh,
uy tín của doanh nghiệp đó là nhãn hiệu sản phẩm
- Thiết kế nhãn hiệu sản phẩm: Khi xây dựng một sản phẩm, các nhà quản trị sẽ
lưu tâm đến rất nhiều đến nhãn hiệu sản phẩm, một nhãn hiệu sản phẩm hay và ấn
tượng góp phần không nhỏ vào sự thành công của sản phẩm, nó giúp phân biệt sản
mà còn thể hiện tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
đó. Thông qua chỉ tiêu này mà doanh nghiệp thấy được hiệu quả hoạt động của mình
trong lĩnh vực marketing đồng thời có các quyết định chính xác hơn cho hoạt động này
trong tương lai.
Trên đây là một số chỉ tiêu cơ bản, ngoài ra người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu
năng suất lao động, tỷ suất chi phí… để phản ánh khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.
1.2.3. Vai trò của tài chính doanh nghiệp đối với khả năng cạnh tranh.
Tài chính doanh nghiệp là hoạt động tài chính của các doanh nghiệp nói chung. Đó
là một hệ thống những quan hệ kinh tế phát sinh trong lĩnh vực phân phối quỹ tiền tệ,
quá trình tạo lập và chu chuyển nguồn vốn của một doanh nghiệp để đạt được mục tiêu
chung của doanh nghiệp đó.
Vai trò của tài chính doanh nghiệp đối với khả năng cạnh tranh được biểu hiện qua
các mặt sau:
- Tài chính doanh nghiệp tổ chức huy động các nguồn lực tài chính. Đối với một
doanh nghiệp, vốn là yếu tố vật chất cho sự tồn tại và phát triển cũng như là chỉ tiêu
hàng đầu để đánh giá quy mô của doanh nghiệp. Bất cứ một hoạt động đầu tư, mua
sắm trang thiết bị hay phân phối quảng cáo… đều phải được tính toán dựa trên thực
trạng tài chính của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh sẽ có
khả năng trang bị các dịch vụ hoàn hảo, đảm bảo chất lượng, hạ giá thành, tổ chức các
hoạt động quảng cáo và khuyến mãi mạnh mẽ từ đó nâng cao sức cạnh tranh của
doanh nghiệp đó trên thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, vốn cũng là một loại
hàng hóa, cho nên việc sử dụng vốn của doanh nghiệp phải trả một khoản chi phí nhất
định. Vì thế, doanh nghiệp cần phải chủ động xác định nhu cầu vốn để tài trợ cho hoạt
động kinh doanh một cách hiệu quả.
- Song song với quá trình huy động vốn, tài chính doanh nghiệp còn có vai trò
tổ chức phân phối, đầu tư, sử dụng vốn để đạt hiệu quả kinh doanh cao nhất. Xét về
20
mặt tài chính, hiệu quả kinh doanh ở đây chính là lợi nhuận. Còn khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp là khả năng giành được và duy trì thị phần trên thị trường với lợi