Hoàn thiện pháp luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam
Nghị quyết Đại hội Đảng IX đã đặt ra nhiệm vụ đối ngoại trong giai đoạn mới
là tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hớng đa phơng hoá, đa dạng hoá,
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện nớc ta và đảm
bảo thực hiện những cam kết trong quan hệ song phơng và đa phơng nh AFTA,
APEC, Hiệp định thơng mại Việt Mỹ và tiến tới gia nhập WTO
1
.
Thực hiện chủ trơng trên của Đảng, chúng ta đã và đang tham gia có hiệu quả
vào ASEAN/AFTA, APEC và đang tích cực tiến hành đàm phán để gia nhập Tổ
chức Thơng mại Thế giới (WTO) theo các phơng án và lộ trình hợp lý, phù hợp với
hoàn cảnh của nớc ta là một nớc đang phát triển ở trình độ thấp và đang trong quá
trình chuyển đổi cơ chế kinh tế
2
(mục tiêu dự kiến vào năm 2005). Có thể khẳng
định, việc gia nhập WTO trong thời gian tới sẽ là bớc ngoặt đánh dấu sự hội nhập
mạnh mẽ của kinh tế Việt Nam vào kinh tế thế giới. Với sự gia nhập này, chúng ta
sẽ tránh đợc tình trạng bị phân biệt đối xử trong thơng mại quốc tế, ổn định đợc thị
trờng xuất khẩu, từng bớc nâng cao vị thế của quốc gia và tạo thế đứng vững chắc
hơn trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, gia nhập
WTO cũng đòi hỏi Việt Nam cần có sự đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách
và pháp luật, đặc biệt là pháp luật kinh tế - thơng mại sao cho phù hợp với các quy
tắc chung của hệ thống thơng mại quốc tế, với luật chơi chung của thế giới, đồng
thời vẫn đảm bảo đợc quyền lợi của đất nớc, độc lập, chủ quyền dân tộc, ổn định đời
sống kinh tế - chính trị - xã hội trong nớc.
Hoàn thiện hệ thống pháp luật theo luật chơi chung của WTO là một vấn đề
không hề đơn giản. Bởi lẽ, WTO đợc tổ chức và vận hành dựa trên một khuôn khổ
pháp lý chặt chẽ nhằm bảo đảm tính khả thi và hiệu quả cao nhất trong mọi hoạt
động của mình, nhằm mục đích phối hợp hành động của các quốc gia trong nỗ lực
chung là tiến tới tự do hoá thơng mại trên phạm vi toàn cầu. Khuôn khổ đó là một hệ
thống các văn bản pháp lý có giá trị ràng buộc tất cả các nớc thành viên, gồm 60
Trên cơ sở đó, khoá luận đa ra một số giải pháp nhằm điều chỉnh và hoàn thiện pháp
luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam trớc yêu cầu chuẩn bị gia nhập WTO
(mục tiêu dự kiến vào năm 2005).
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của khoá luận là chế định thơng mại hàng hoá của WTO
bao gồm Hiệp định chung về Thuế quan và Thơng mại (GATT) và các Hiệp định
kèm theo (12 Hiệp định)
3
cùng các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam về th-
ơng mại hàng hoá. Phạm vi nghiên cứu của khoá luận chỉ giới hạn ở những quy định
và nội dung cơ bản trong các Hiệp định và các văn bản pháp luật kể trên, không đi
sâu phân tích chi tiết và toàn bộ các Hiệp định, các văn bản đó, không phân tích các
Phụ lục, các Văn bản diễn giải đi kèm các Hiệp định của WTO, cũng nh không phân
tích các luật thơng mại chuyên ngành nh dịch vụ, sở hữu trí tuệ, đầu t v.v
Phơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phơng pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tác giả sử
dụng các phơng pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh, diễn giải, quy nạp để
nghiên cứu đề tài khoá luận. Ngoài ra, khoá luận còn vận dụng các quan điểm, đờng
lối, chủ trơng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nớc để khái quát hệ thống và
khẳng định kết quả nghiên cứu.
Bố cục của khoá luận
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội
dung của khoá luận đợc trình bày trong 3 chơng:
Chơng 1: Những quy định cơ bản về thơng mại hàng hoá của WTO
Chơng 2: So sánh pháp luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam với các
quy định về thơng mại hàng hoá của WTO
Chơng 3: Quan điểm, nguyên tắc và các giải pháp điều chỉnh hoàn thiện
pháp luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO
Pháp luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam trớc yêu cầu gia nhập Tổ chức
Thơng mại Thế giới (WTO) là một vấn đề phức tạp và rộng lớn. Việc nghiên cứu
á
ATC
Agreement on Textiles and
Clothing
Hiệp định về Hàng dệt và May
mặc
CVA
Agreement on Implementation of
Article VI of the GATT 1994
(Customs Value Code)
Hiệp định về thực thi Điều VII của
GATT 1994 (Xác định trị giá tính
thuế hải quan)
DSU
Understanding on Rules and
Procedures Governing the
Settlement of Disputes
Bản thoả thuận về Quy tắc và Thủ
tục giải quyết tranh chấp
EU European Union Liên minh Châu Âu
GATS
General Agreement on Trade in
Services
Hiệp định chung về Thơng mại
Dịch vụ
GATT
General Agreement on Tariffs and
Trade
Hiệp định chung về Thuế quan và
Mậu dịch
Measures
Hiệp định về áp dụng các biện
pháp kiểm dịnh động thực vật
TBT
Agreement on Technical Barriers
to Trade
Hiệp định về hàng rào kỹ thuật
trong thơng mại
TPRM Trade Policy Review Mechanism
Cơ chế đánh giá chính sách thơng
mại
TRIMs
Agreement on Trade-Related
Investment Measures
Hiệp định Các biện pháp đầu t liên
quan đến thơng mại
TRIPS
Agreement on Trade-Related
Aspects of Intellectual Property
Rights
Hiệp định về Quyền sở hữu trí tuệ
liên quan đến thơng mại
UNCTAD
United Nations Conference on
Trade and Development
Hội nghị Thơng mại và Phát triển
của Liên hợp quốc
WB World Bank Ngân hàng Thế giới
WTO World Trade Organization Tổ chức Thơng mại Thế giới
Mặc dù vậy, kiên trì mục tiêu đã định, và với kết quả đáng khích lệ đã đạt đợc
ở vòng đàm phán thuế đầu tiên là 45.000 u đãi về thuế áp dụng giữa các bên tham
gia đàm phán, chiếm khoảng 1/5 tổng lợng mậu dịch thế giới, 23 nớc sáng lập đã
cùng nhau ký kết Hiệp định chung về Thuế quan và Thơng mại (GATT), chính thức
có hiệu lực vào tháng 1/1948.
Trong quá trình hoạt động của mình từ tháng 1/1948 đến tháng 1/1995, GATT
đã tiến hành 8 vòng đàm phán
4
chủ yếu về thuế quan. Tuy nhiên, từ thập kỷ 70 của
thế kỷ XX và đặc biệt từ Vòng đàm phán Uruguay (1986 - 1994) do thơng mại quốc
tế không ngừng phát triển, nên GATT đã mở rộng diện hoạt động, đàm phán không
chỉ về thuế quan mà còn tập trung xây dựng các Hiệp định hình thành các chuẩn
mực, luật chơi điều tiết các vấn đề về hàng rào phi quan thuế, về thơng mại dịch vụ,
4
Xem thêm Phụ lục 1: Tóm tắt các vòng đàm phán của GATT
5
Hoàn thiện pháp luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam
quyền sở hữu trí tuệ, các biện pháp đầu t có liên quan tới thơng mại, về thơng mại
hàng nông sản, hàng dệt may, về cơ chế giải quyết tranh chấp. Với diện điều tiết của
hệ thống thơng mại đa biên đợc mở rộng, nên Hiệp định chung về Thuế quan và Th-
ơng mại (GATT) với t cách là một sự thoả thuận có nhiều nội dung ký kết mang tính
chất tuỳ ý đã tỏ ra không thích hợp. Do đó, ngày 15/4/1994, tại Marrakesh (Marốc),
kết thúc Vòng đàm phán Uruguay
5
, các thành viên của GATT đã cùng nhau ký Hiệp
định thành lập Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO) nhằm kế tục và phát triển sự
nghiệp của GATT. Theo đó, WTO chính thức đợc thành lập độc lập với hệ thống
Liên hợp quốc và đi vào hoạt động từ ngày 1/1/1995.
Tính đến tháng 12 năm 2003, WTO đã có 146 nớc và lãnh thổ là thành viên
chính thức, 26 nớc và vùng lãnh thổ cùng 7 tổ chức quốc tế đợc hởng quy chế quan
rộng lớn các hoạt động thơng mại. Các hiệp định đó liên quan đến nông nghiệp,
5
Xem thêm Phụ lục 2: Tóm tắt thành quả của Vòng đàm phán Uruguay (1986-1994)
6
Xem thêm Phụ lục 3: Danh sách thành viên chính thức và các chính phủ nớc, tổ chức quốc tế đợc hởng quy
chế quan sát viên tại WTO
7
Xem thêm Việt Nam và các tổ chức kinh tế quốc tế, Uỷ ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế, NXB
CTQG, 2000, trang 18-24 và Thông tin khoa học pháp lý Chuyên đề về: ASEAN, APEC, WTO - Một số vấn
đề pháp lý về tổ chức và hợp tác, Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý, Bộ T pháp, 10/1998, trang 46-51
6
Hoàn thiện pháp luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam
hàng dệt may, ngân hàng, vô tuyến viễn thông, mua sắm của chính phủ, các tiêu
chuẩn công nghiệp, đến sở hữu trí tuệ và các lĩnh vực khác. Tuy vậy, các nguyên tắc
cơ bản, các nguyên tắc nền tảng của WTO xuyên suốt toàn bộ các hiệp định. Các
nguyên tắc đó là cơ sở của hệ thống thơng mại đa biên. Có thể nêu lên một số
nguyên tắc cơ bản sau đây của WTO:
1.1.3.1. Thơng mại không phân biệt đối xử
Thơng mại thế giới phải đợc thực hiện một cách công bằng, không có sự phân
biệt đối xử, với nội dung sau:
Các nớc thành viên WTO cam kết dành cho nhau chế độ Đãi ngộ Tối huệ quốc
(MFN), tức là chế độ đãi ngộ ở các lĩnh vực mình dành cho hàng hoá của một nớc
bạn hàng này tới mức nào thì cũng phải dành cho hàng hoá của các nớc bạn khác
chế độ đãi ngộ nh vậy, bình đẳng, không có sự phân biệt đối xử nào.
Các nớc thành viên WTO cam kết dành cho nhau chế độ Đối xử quốc gia (NT),
tức là chế độ không phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu với hàng sản xuất trong n-
ớc, khi hàng nhập khẩu đợc đa vào thị trờng trong nớc. Các quốc gia có chính sách
đối xử nh thế nào đối với hàng hoá sản xuất trong nớc thì cũng phải đối xử nh vậy
đối với hàng hoá nhập khẩu từ các nớc thành viên WTO.
Chế độ MFN và chế độ NT chủ yếu dành cho hàng hoá khi áp dụng các chính
các nớc WTO khác thơng lợng giảm dần. Chỉ có giảm, mà không có tăng quá mức
trần cam kết, nếu tăng quá thì phải bồi thờng nhanh chóng, kịp thời và thoả đáng
cho các nớc bị thiệt hại. Ngoài ra, mỗi nớc phải cam kết mốc thời gian thực hiện lộ
trình cắt giảm dần để tiến tới mục tiêu xoá bỏ hàng rào quan thuế.
1.1.3.4. Nguyên tắc ổn định trong thơng mại
8
WTO chủ trơng thơng mại quốc tế phải đợc tiến hành trên cơ sở ổn định, rõ
ràng, minh bạch, không ẩn ý. Để thực hiện nguyên tắc này, WTO quy định:
Các nớc thành viên phải thông qua đàm phán, đa ra các cam kết với những lộ
trình thực hiện cụ thể. Tuy thừa nhận quyền của mỗi nớc thành viên đợc đàm phán
lại các cam kết của mình, nhng WTO quy định nghĩa vụ phải đền bù các thiệt hại có
thể xảy ra cho các thành viên khác.
Mọi chế độ, chính sách thơng mại của quốc gia phải đợc công bố công khai
cho mọi ngời, ổn định trong thời gian dài và có thể dự báo trớc những rủi ro có thể
xảy ra. Nếu quốc gia có thay đổi thì phải thông báo trớc cho các doanh nghiệp, cá
nhân có đủ thời gian nghiên cứu, góp ý, phản ánh nguyện vọng của họ trớc khi đa
chính sách đã thay đổi đó ra áp dụng.
Nguyên tắc này giúp môi trờng kinh doanh có tính ổn định, lành mạnh và có
thể dự đoán trớc đợc.
1.1.3.5. Nguyên tắc tăng cờng cạnh tranh công bằng
WTO luôn chủ trơng tăng cờng cạnh tranh lành mạnh, công bằng trong thơng
mại quốc tế, để cho chất lợng, giá cả quyết định vận mệnh của hàng hoá trong cạnh
tranh trên thơng trờng; không đợc dùng quyền lực Nhà nớc để áp đặt, bóp méo tính
lành mạnh, công bằng của cạnh tranh trên thơng trờng quốc tế.
Nguyên tắc này đã đợc nhấn mạnh trong các lĩnh vực nh quyền và nghĩa vụ
của doanh nghiệp Nhà nớc; quyền cấp phép kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu; cấp
hạn ngạch; trợ giá; bán phá giá; quản lý ngoại hối; quản lý giá cả và các hoạt động
trong lĩnh vực phi thuế quan khác.
1.1.3.6. Nguyên tắc không hạn chế số lợng hàng hoá nhập khẩu
MFN đợc miễn trừ trong quan hệ giữa các nớc thành viên của tổ chức kinh tế, thơng
mại khu vực dới hình thức liên minh thuế quan hoặc khu vực mậu dịch tự do.
1.1.3.9. Nguyên tắc dành điều kiện thuận lợi hơn cho các nớc đang phát
triển và chậm phát triển
Phần IV GATT 1994 thừa nhận sự cần thiết phải dành cho các nớc đang phát
triển và chậm phát triển những điều kiện thuận lợi hơn trong thơng mại quốc tế về
hàng hoá và dịch vụ. Đối với những nớc này, các nớc công nghiệp phát triển sẽ
không yêu cầu có đi có lại trong các cam kết, giảm hoặc bỏ hàng rào thuế quan hoặc
phi thuế quan để các nớc đó có thể tham gia đầy đủ vào thơng mại thơng mại quốc
tế.
Trong điều khoản hỗ trợ khả năng của WTO, các nớc phát triển cam kết
dành chế độ u đãi thuế quan phổ cập (GSP) cho các nớc đang phát triển và chế độ u
đãi thơng mại đặc biệt cho các nớc chậm phát triển nhất.
1.1.4. Hệ thống các hiệp định của WTO
10
Hệ thống các hiệp định của WTO đến nay gồm có:
(1) Hiệp định Marrakesh thành lập Tổ chức Thơng mại thế giới (Hiệp định
WTO)
(2) Các Hiệp định đa biên về thơng mại hàng hoá, trong đó gồm:
- Hiệp định chung về Thuế quan và Thơng mại (GATT 1994)
- Các Hiệp định kèm theo:
9
Xem thêm khoản 3,4 Điều IX Hiệp định thành lập Tổ chức Thơng mại Thế giới (Hiệp định WTO)
10
Xem thêm Danh mục các chữ viết tắt trong khoá luận
9
Hoàn thiện pháp luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam
+ Hiệp định về thực hiện Điều VII của GATT 1994 (Xác định trị giá tính thuế
hải quan)
+ Hiệp định về Giám định hàng hoá trớc khi gửi hàng (PSI)
họp ít nhất một lần.
1.2. Những quy định cơ bản Về thơng mại hàng hoá CủA
WTO
1.2.1. Những nguyên tắc cơ bản của WTO về thơng mại hàng hoá
ở phần trên, chúng ta đã tìm hiểu và phân tích các nguyên tắc cơ bản nhất của
Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO) (gồm 9 nguyên tắc). Đó đợc coi là những
nguyên tắc nền tảng nhằm điều chỉnh và chi phối mọi quy định, mọi hoạt động trong
tất cả các lĩnh vực của WTO từ thơng mại hàng hoá, thơng mại dịch vụ đến sở hữu
10
Hoàn thiện pháp luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam
trí tuệ, giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, ở từng lĩnh vực cụ thể, WTO lại có một số
nguyên tắc cơ bản điều chỉnh riêng cho lĩnh vực đó. Trên cơ sở nh vậy, chế định th-
ơng mại hàng hoá đồ sộ của WTO bao gồm Hiệp định chung về thơng mại và thuế
quan (GATT 1994) cùng 12 Hiệp định và rất nhiều Phụ lục, Quyết định, Các văn
bản diễn giải liên quan kèm theo đợc xây dựng dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản sau
đây:
Nguyên tắc thứ nhất: Chỉ sử dụng thuế quan để bản hộ nền sản xuất trong
nớc. Theo nguyên tắc này, trong khi thừa nhận các nớc cần theo đuổi chính sách th-
ơng mại mở và tự do nhng đồng thời cũng cho phép các nớc bảo hộ nền sản xuất
trong nớc tránh sự cạnh tranh của nớc ngoài, miễn là sự bảo hộ này chỉ đợc thực
hiện thông qua thuế quan và chỉ ở mức thấp. Để đạt đợc điều đó, nguyên tắc này
nghiêm cấm các nớc sử dụng các hạn chế định lợng, trừ những trờng hợp ngoại lệ.
Nguyên tắc chống hạn chế định lợng đã dh củng cố thêm tại Vòng đàm phán
Uruguay.
Nguyên tắc thứ hai: Cần giảm thuế quan và cam kết ràng buộc không tăng
thêm. Nguyên tắc này quy định về việc giảm và xoá bỏ thuế quan và các rào cản th-
ơng mại khác thông qua đàm phán đa phơng. Mức giảm thuế quan đợc liệt kê trên
cơ sở dòng thuế quan trong Danh mục nhợng bộ của mỗi nớc. Mức thuế trong Danh
mục nhợng bộ này còn đợc gọi là mức thuế ràng buộc. Các nớc không đợc phép
nâng thuế suất vợt quá mức thuế ràng buộc ghi trong Danh mục.
ra qua Hệ thống u đãi thuế quan phổ cập (GSP). Theo hệ thống này, các nớc phát
triển áp dụng thuế suất u đãi hoặc miễn giảm thuế cho hàng hoá nhập khẩu từ các n-
ớc đang phát triển, nhng lại áp dụng thuế suất MFN cho hàng hoá nhập khẩu từ các
quốc gia khác. Điều XX của GATT 1994 quy định về các ngoại lệ chung, theo đó
nguyên tắc này không áp dụng trong các trờng hợp để bảo vệ đạo đức công cộng;
sức khoẻ và cuộc sống của con ngời, động thực vật; di sản quốc gia; nguồn tài
nguyên có thể cạn kiệt; nhằm thực hiện một kế hoạch ổn định kinh tế của chính phủ;
bảo đảm sự tôn trọng pháp luật và các quy tắc không trái với quy định của Hiệp
định; nhằm phân phối một sản phẩm thuộc diện khan hiếm chung trong nớc hay tại
một địa phơng; nhằm bảo vệ an ninh và bí mật của quốc gia; hoặc liên quan đến lao
động tù nhân.
1.2.1.2. Đối xử quốc gia (NT)
Nh trên đã nêu, nguyên tắc đối xử Tối huệ quốc yêu cầu các thành viên không
phân biệt đối xử giữa các nớc. Nguyên tắc Đối xử quốc gia (NT) bổ sung cho đối xử
Tối huệ quốc. Theo nguyên tắc NT quy định tại Điều III GATT 1994, một mặt hàng
nhập khẩu sau khi đã đi qua biên giới và đã trả các khoản thuế quan cũng nh các
khoản phí khác sẽ không bị đối xử kém u đãi hơn so với các sản phẩm nội địa tơng
tự. Nói cách khác, nguyên tắc này yêu cầu các nớc thành viên đối xử với các hàng
nhập khẩu trên cùng cơ sở nh hàng sản xuất trong nớc.
Vì vậy, các nớc không đợc phép đánh các khoản thuế nội địa (ví dụ thuế doanh
thu hay thuế giá trị gia tăng VAT) với mức thuế suất cao hơn mức áp dụng cho các
sản phẩm nội địa tơng ứng đối với hàng nhập khẩu sau khi nó đã thanh toán các
khoản thuế quan tại biên giới. Tơng tự nh vậy, các quy định tác động đến việc mua
bán sản phẩm tại thị trờng trong nớc cũng không thể áp dụng nghiêm ngặt hơn đối
với hàng nhập khẩu.
1.2.3. Những quy định về thuế quan của WTO
1.2.3.1. Khái niệm và đặc điểm của thuế quan
Thuế quan là loại thuế lấy vật phẩm xuất khẩu qua biên giới quốc gia hay quá
cảnh làm đối tợng thu thuế, tạo thành khoản thu nhập thuế của Nhà nớc do hải quan
thực hiện.
ràng buộc và cắt giảm thông qua đàm phán. Trong tơng lai 95% số hàng hoá trong
mậu dịch quốc tế sẽ đợc điều tiết chủ yếu bằng công cụ thuế quan.
Cắt giảm thuế
Từ khi ra đời cho đến nay, GATT, mà nay là WTO, đã bỏ ra rất nhiều nỗ lực để
cắt giảm thuế quan đánh vào hàng hoá nhập khẩu. Có thể thấy trong tất cả 8 vòng
đàm phán từ năm 1947 đến năm 1994, chủ đề chính vẫn là cắt giảm và ràng buộc
thuế quan. Với các nớc phát triển thì việc thực hiện cắt giảm thuế quan không phải
là khó khăn. Nhng với các nớc đang phát triển, vốn có nguồn thu ngân sách hạn hẹp
và sức cạnh tranh của sản xuất trong nớc yếu kém thì đây quả là một vấn đề nan
giải. Tuy vậy, các thành viên của GATT đã đạt đợc thoả thuận giảm thuế cho 89.000
hạng mục hàng hoá. Riêng ở vòng đàm phán Uruguay, các cam kết cắt giảm và ràng
buộc thuế quan đối với hàng nhập khẩu của các nớc thành viên đã lên tới 22.500
trang văn bản.
Bảng 1: Mức thuế trung bình trớc và sau Vòng Uruguay
Đơn vị: %
Tên nớc Nơi đến
13
Hoàn thiện pháp luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam
Các nớc
công nghiệp
Các nớc đang
phát triển
Các nớc có nền
kinh tế chuyển đổi
Trớc Sau
Mức
giảm
Trớc Sau
Mức
giảm
Thuế suất Ràng buộc (Bound Tariff Rates).
Trên thực tế, có thể gặp tới 3 loại ràng buộc thuế quan tơng ứng với mức độ
ràng buộc:
- Thuế suất ràng buộc cao hơn thuế suất thực tế đang áp dụng. Trờng hợp này
hay gặp ở các nớc đang phát triển. Mức thuế ràng buộc đợc gọi là mức thuế trần. Vì
giữa mức thuế thực tế và mức thuế trần có một khoảng cách nên nớc cam kết ràng
buộc thuế hoàn toàn có thể tăng thuế suất thực tế của mình mà vẫn không vi phạm
cam kết.
- Thuế suất ràng buộc bằng thuế suất thực tế áp dụng.
- Thuế suất ràng buộc thấp hơn thuế suất thực tế áp dụng.
14
Hoàn thiện pháp luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam
Hai trờng hợp sau thờng gặp ở các nớc phát triển. Các nớc này tự tin về khả
năng cạnh tranh của hàng hoá nớc mình trớc những hàng hoá nhập khẩu chịu thuế
suất thấp. Vì thế, họ sẵn sàng đa ra thuế suất ràng buộc bằng, thậm chí thấp hơn
thuế suất thực tế áp dụng, thể hiện thiện chí giảm thuế và sự chuẩn bị chu đáo, kỹ
càng trong lịch trình giảm thuế để đạt đợc thuế suất ràng buộc trong một khoảng
thời gian cụ thể.
Đối với các sản phẩm nông nghiệp, các nớc thành viên cam kết ràng buộc thuế
quan đối với 100% các mặt hàng, Hầu nh tất cả các hạn chế khác đều đợc quyền
chuyển sang thuế. Còn trong lĩnh vực công nghiệp, các nớc phát triển tăng mức cam
kết ràng buộc từ 77% lên 99% mặt hàng, các nớc đang phát triển cũng tăng từ 21%
lên 73%, các nớc có nền kinh tế chuyển đổi tăng từ 73% lên 98%. Các con số này
đảm bảo mức độ tiếp cận thị trờng an toàn hơn cho các nhà đầu t và kinh doanh
quốc tế.
WTO có thể chấp nhận việc phá bỏ cam kết ràng buộc thuế trong một số trờng
hợp ngoại lệ nhng sau đó, nớc phá bỏ cam kết ràng buộc thuế phải đền bù cho phần
thơng mại mà các bạn hàng bị mất đi.
Không phân biệt đối xử
Thuế quan phải đợc áp dụng trên nguyên tắc Tối huệ quốc (MFN) cho tất cả
giới hạn trần do nớc xuất khẩu áp đặt cho tổng giá trị hoặc tổng khối lợng của một
số sản phẩm nhất định. Hạn ngạch xuất khẩu đợc đặt ra để bảo vệ các nhà sản xuất
và tiêu dùng trong nớc khỏi sự thiếu hụt tạm thời của các sản phẩm và để cải thiện
giá của các sản phẩm trên thị trờng thế giới bằng việc thu hẹp nguồn cung cấp
chúng.
- Hạn ngạch nhập khẩu (Import quotas): Hạn ngạch nhập khẩu là sự hạn chế
trực tiếp về khối lợng hoặc giá trị nhập khẩu của những loại hàng hoá nhất định đợc
phép mang từ nớc ngoài vào trong một thời gian nhất định, thờng là một năm. ở các
nớc phát triển, hạn ngạch nhập khẩu đợc áp dụng để bảo vệ nông nghiệp, ví dụ hạn
ngạch nhập khẩu pho-mát, đờng ở Mỹ và EU. Còn các quốc gia đang phát triển quy
định hạn ngạch nhập khẩu để bảo vệ sản xuất nội địa, hỗ trợ sản xuất hàng thay thế
nhập khẩu mà phần lớn là công nghệ chế tạo hay công nghiệp chế biến và để cân
bằng cán cân thanh toán.
Việc quy định hạn ngạch hoàn toàn không có lợi cho tiêu dùng. Xã hội phải bỏ
ra khoản chi phí cho việc bảo hộ sản xuất nội địa kém hiệu quả. Hạn ngạch cản trở
tự do lu thông hàng hoá trên thị trờng thế giới. Vì vậy, Điều XI GATT 1994 quy
định: "Không một nớc thành viên nào đợc sử dụng một biện pháp cấm hay hạn chế
nào trừ thuế quan, dù mang hình thức hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu hay xuất
khẩu hoặc các biện pháp khác nhằm vào việc nhập khẩu từ bất kỳ một nớc thành
viên khác" (Điều XI.1 - GATT 1994).
Tuy vậy, WTO cũng vẫn cho phép đợc sử dụng hạn ngạch trong một số trờng
hợp ngoại lệ: đảm bảo an ninh lơng thực (Điều XI.2.a); áp dụng các tiêu chuẩn hay
quy chế về phân loại, xếp hạng, tiếp thị các sản phẩm trên thị trờng quốc tế (Điều
XI.2.b); triển khai các biện pháp của chính phủ đợc áp dụng đối với nông sản (Điều
XI.2.c); bảo vệ tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán (Điều XII); và
các ngoại lệ chung: để bảo vệ đạo đức xã hội; để bảo vệ cuộc sống của con ngời,
động vật, thực vật; để bảo đảm sự tôn trọng pháp luật và các quy tắc không bất cập
với các quy định của GATT; để bảo vệ di sản quốc gia có giá trị nghệ thuật, lịch sử
hay khảo cổ (Điều XX) hay để bảo vệ các quyền lợi thiết yếu tới an ninh, duy trì
hoà bình và an ninh quốc tế (Điều XXI).
về thủ tục và lập chứng từ xuất nhập khẩu cần duy trì ở mức tối thiểu. Tuy nhiên,
GATT thừa nhận rằng thờng với những lý do khác nhau, các nớc yêu cầu các nhà
nhập khẩu phải có giấy phép nhập khẩu. Chế độ cấp phép nh vậy có thể đợc áp dụng
để quản lý về hạn chế định lợng, trong những trờng hợp cần thiết nhất định cho phép
các nớc thành viên áp dụng những hạn chế ấy. Cũng có thể đợc sử dụng chế độ này
để giám sát thống kê thơng mại hoặc giá cả của một số hàng hoá nhất định.
Điều 1 Hiệp định ILP đề ra những quy tắc cho việc áp dụng và thi hành các thủ
tục nhà nớc về cấp phép nhập khẩu. Hiệp định định nghĩa việc cấp phép nhập
khẩu là các thủ tục hành chính yêu cầu xuất trình đơn xin cấp cho cơ quan
quản lý liên quan, là điều kiện tiên quyết cho việc nhập khẩu hàng hoá.
Hiệp định ILP bắt buộc các nớc thành viên công bố tất cả quy định về thủ tục
cấp phép nhập khẩu, để các nhà nhập khẩu, xuất khẩu và chính phủ của họ hiểu biết
đầy đủ về: t cách của những cá nhân, các công ty và các tổ chức làm đơn xin cấp; cơ
quan quản lý hành chính chịu trách nhiệm cấp giấy phép; và những sản phẩm cần có
giấy phép.
Hiệp định phân định giấy phép nhập khẩu thành hai loại: loại giấy phép tự
động và loại giấy phép không tự động. Cụ thể:
17
Hoàn thiện pháp luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam
Cấp phép nhập khẩu tự động (mặc nhiên): Theo chế độ này, các cơ quan hành
chính có thẩm quyền cấp phép một cách tự động mà không đợc tuỳ ý quyết định và
giấy phép đợc cấp trong tất cả các trờng hợp. Hiệp định yêu cầu việc chấp thuận
hoặc cấp phép lập tức ngay khi chấp nhận đơn và chỉ trong thời hạn tối đa là 10
ngày làm việc bất luận trong trờng hợp nào (Điều 2 Hiệp định ILP).
Cấp phép nhập khẩu không tự động (có điều kiện): Chế độ cấp phép có điều
kiện đợc sử dụng cho mục đích chủ yếu của chính phủ là hạn chế nhập khẩu. Chính
phủ có thể thực hiện điều này bằng cách thông báo hạn ngạch hoặc giới hạn định l-
ợng áp dụng đối với hàng hoá hạn chế. Hiệp định đòi hỏi giấy phép nhập khẩu phải
đợc cấp trong vòng 30 ngày kể từ lúc nhận đơn, thủ tục nơi cấp phép quy định rằng
giấy phép đợc cấp trên cơ sở đến trớc giải quyết trớc. Trờng hợp trong vòng 60
18
Hoàn thiện pháp luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam
nhau về tính tơng đơng của các biện pháp kiểm dịch động thực vật cụ thể (Điều 4
Hiệp định SPS).
Hiệp định SPS yêu cầu các nớc thành viên:
(1) Đảm bảo biện pháp kiểm dịch động thực vật của các nớc thành viên phù
hợp với các đặc điểm kiểm dịch động thực vật của một vùng - hoặc trong cả nớc,
hoặc một vùng trong một nớc, hoặc các vùng của một vài nớc - từ đó sản xuất ra sản
phẩm hoặc là nơi sản phẩm sẽ đợc xuất đến (Điều 6.1). Các đặc điểm này phải đợc
xác định, căn cứ vào mức độ phổ biến của những bệnh dịch và sâu bệnh cụ thể; và;
(2) Không áp dụng các biện pháp SPS gây phân biệt đối xử vô căn cứ hoặc tuỳ tiện
giữa các nớc thành viên hoặc khu vực nếu nh có các điều kiện tơng đồng áp đặt hoặc
tạo ra những hạn chế trá hình đối với thơng mại quốc tế (Điều 2.3).
Tuy nhiên cần lu ý rằng những linh hoạt trong việc cho phép không áp dụng
nguyên tắc MFN chỉ đợc thực hiện đối với các biện pháp SPS có mục đích ngăn
ngừa việc xâm nhập của các loại dịch và sâu bệnh gây ra bởi động thực vật vào nớc
thành viên. Các biện pháp SPS nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm (ví dụ nh các quy
định về chất phụ gia, sự nhiễm bẩn hoặc mức độ chất không phân huỷ cho phép)
phải đợc áp dụng trên cơ sở MFN.
1.2.4.5. Hàng rào kỹ thuật trong thơng mại
Để tìm hiểu vấn đề thuộc về kỹ thuật này, trớc hết chúng ta cần phải hiểu rõ
các khái niệm về các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật và đánh giá sự phù hợp
của các tiêu chuẩn quy định đó, cụ thể:
(1) Các quy định kỹ thuật và tiêu chuẩn kỹ thuật
Các quy định quốc tế áp dụng cho các tiêu chuẩn sản phẩm đợc sử dụng trong
thơng mại hàng hoá và các thủ tục sử dụng cho việc đánh giá sự phù hợp với các tiêu
chuẩn đó đợc quy định trong Hiệp định về Hàng rào kỹ thuật trong thơng mại
(Agreement on Technical Barriers to Trade - Hiệp định TBT). Hiệp định đã sử dụng
thuật ngữ quy định kỹ thuật để chỉ các tiêu chuẩn mà việc tuân thủ là bắt buộc. Còn
thuật ngữ tiêu chuẩn kỹ thuật thì đợc sử dụng để dùng cho các tiêu chuẩn không
ợc một cơ quan kỹ thuật độc lập chứng nhận. Thủ tục do các cơ quan kỹ thuật độc
lập nh vậy tiến hành đánh giá và công nhận chính thức năng lực chuyên môn của các
cơ quan đánh giá sự phù hợp đã đề cập ở trên đợc coi là các thủ tục chứng nhận
năng lực. Những đơn vị chứng nhận nhìn chung là các cơ quan chuyên môn hay
các hiệp hội của các ngành công nghiệp t nhân. Tuy nhiên, tại một số nớc, quyền
chứng nhận là thuộc một cơ quan tiêu chuẩn hoá quốc gia hay một đơn vị độc lập
cùng hợp tác cấp.
Điều 2.1 Hiệp định TBT đa ra một số nguyên tắc và quy tắc, theo đó yêu cầu
các cơ quan quản lý đảm bảo là những tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật gồm các yêu
cầu bao bì, ký mã hiệu và dán nhãn, và các thủ tục đợc tiến hành để đánh giá tính
phù hợp với các quy định và tiêu chuẩn đó đợc áp dụng sao cho không phân biệt đối
xử giữa các sản phẩm nhập khẩu theo xuất xứ (nguyên tắc MFN), không dành cho
các sản phẩm các sản phẩm nhập khẩu đối xử kém u đãi hơn các sản phẩm đợc sản
xuất trong nớc (nguyên tắc NT). Đồng thời, Điều 2.2 quy định rằng các tiêu chuẩn
bắt buộc đối với các sản phẩm cần phải đợc các nớc áp dụng sao cho không tạo ra
các cản trở không cần thiết cho thơng mại quốc tế. Hơn thế nữa, các tiêu chuẩn bắt
buộc này phải đợc dựa trên các thông tin và chứng cớ khoa học.
Hiệp định cho rằng mục đích này có thể đạt đợc nếu các nớc áp dụng, khi có
thể và thích hợp, các tiêu chuẩn quốc tế trong quá trình xây dựng các quy định kỹ
thuật của họ hay trong quá trình hình thành và phát triển các tiêu chuẩn quốc gia tự
nguyện. Hiệp định (Điều 2.5 và 2.6) kêu gọi các nớc thành viên sử dụng những chỉ
dẫn và khuyến nghị do các tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế xây dựng nên nh một cơ
sở cho các thủ tục đánh giá sự phù hợp của các nớc.
1.2.5. Những quy định về các lĩnh vực cụ thể khác của WTO
1.2.5.1. Định giá hải quan
20
Hoàn thiện pháp luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam
Điều 1 Hiệp định trị giá tính thuế hải quan của WTO (Customs Value
Agreement - Hiệp định CVA) quy định trị giá thuế quan của hàng nhập khẩu phải
là trị giá giao dịch, tức là giá thực tế đã thanh toán hoặc phải thanh toán cho hàng
(4) Trị giá tính toán: Trị giá tính toán đợc xác định bằng cách cộng thêm vào
giá thành mặt hàng đang đợc định giá một khoản lợi nhuận và các chi phí chung t-
ơng đơng với khoản lợi nhuận và chi phí chung thờng tính trong giá bán của các mặt
hàng cùng loại với hàng cần xác định trị giá đợc sản xuất bởi nhà sản xuất ở nớc
xuất khẩu với mục đích xuất khẩu sang nớc nhập khẩu (Điều 6 Hiệp định CVA).
Khi xác định trị giá trên cơ sở những phơng pháp này, hải quan phải tham khảo
và lu tâm đến ý kiến của ngời nhập khẩu.
1.2.5.2. Giám định trớc khi gửi hàng
21
Hoàn thiện pháp luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam
Việc giám định trực tiếp hàng hoá là một phần quan trọng trọng hoạt động
xuất khẩu. Nó bảo đảm giá mà ngời xuất khẩu đa ra trong hoá đơn phản ánh đúng
giá trị thực của hàng hoá và không có sự khai vợt hoặc khai thấp đi giá hoá đơn.
Việc giám định nh vậy đảm bảo cho ngời nhập khẩu rằng hàng hoá mà họ đặt hàng
đáp ứng đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lợng nêu trong hợp đồng, do đó sẽ góp
phần làm giảm tranh chấp sau khi hàng hoá đã đến đích. Việc giám định này cũng
góp phần tránh đợc việc nhập khẩu những hàng hoá đợc coi là có hại cho sức khoẻ
do đó không đợc phép bán ở lãnh thổ nhập khẩu (ví dụ: hoá chất và dợc phẩm bị
cấm, các sản phẩm thực phẩm không đạt tiêu chuẩn).
Hiệp định về Giám định trớc khi gửi hàng (Ageement on Preshipment
Inspection - Hiệp định PSI) thừa nhận rằng một số nớc đang phát triển sử dụng dịch
vụ PSI, và cho phép họ sử dụng dịch vụ này cho tới khi nào việc giám định số lợng,
chất lợng và giá cả của hàng hoá nhập khẩu còn cần thiết
(Lời mở đầu Hiệp định).
Mục tiêu cơ bản của Hiệp định là đa ra một tập hợp các nguyên tắc và quy tắc mà
các nớc sử dụng dịch vụ PSI và các nớc xuất khẩu phải tuân theo nhằm đảm bảo
hoạt động của họ không tạo ra các rào cản đối với hoạt động thơng mại, tức là không
đi ngợc lại nguyên tắc cơ bản của WTO về tự do hoá mậu dịch.
Các nghĩa vụ mà Hiệp định PSI đặt ra đối với các nớc đang sử dụng dịch vụ
Vì sao chính phủ lại cần phải xác định xuất xứ của hàng nhập khẩu? Có 3 tình
huống cần thiết:
Thứ nhất, đối với những hàng nhập khẩu theo những hiệp định u đãi: Nớc nhập
khẩu phải đảm bảo áp dụng thuế suất thấp hoặc u đãi đối với sản phẩm xuất xứ từ
những nớc đợc hởng u đãi. Do đó họ cần bằng chứng chứng minh rằng hàng nhập
khẩu nếu không phải toàn bộ thì ít nhất cũng là phần chủ yếu đợc chế tạo hay
chuyển dạng tại nớc đợc hởng u đãi.
Thứ hai, đối với hàng nhập khẩu theo biểu thuế Tối huệ quốc, việc xác định
xuất xứ thờng là không cần thiết, vì thuế nhập khẩu đó đợc áp dụng trên cơ sở không
phân biệt đối xử đối với hàng nhập từ mọi nguồn.
Thứ ba, việc xác định xuất xứ cũng còn cần thiết để thu thập số liệu thống kê
thơng mại.
Phạm vi và mục tiêu áp dụng
Các điều khoản của Hiệp định về Quy tắc xuất xứ hàng hoá (Agreement on
Rules of Origin - Hiệp định ROA) áp dụng cho luật lệ, quy định và quyết định
hành chính của việc áp dụng chung do bất cứ thành viên nào áp dụng để xác định n-
ớc xuất xứ của hàng hoá nhập khẩu trên cơ sở Tối huệ quốc. Hiệp định ROA nêu
cụ thể rằng những điều khoản Hiệp định không áp dụng cho việc nhập khẩu theo
thoả thuận u đãi.
Mục tiêu cơ bản của Hiệp định là đòi hỏi các nớc vận dụng một hệ thống quy
tắc thống nhất hài hoà để xác định xuất xứ hàng hoá nhập khẩu trên cơ sở Tối huệ
quốc. Vì công tác kỹ thuật để triển khai các quy tắc này cần phải có thời gian, Hiệp
định đa ra 2 hệ thống điều khoản (Điều 2 và Điều 3 - Hiệp định ROA):
Hệ thống thứ nhất đa ra những quy định các nớc phải tuân thủ trong thời kỳ
chuyển đổi, tức là cho tới khi các quy tắc mới hài hoà hoá có hiệu lực. Trong thời kỳ
chuyển đổi, các nớc có quyền lựa chọn áp dụng các tiêu chuẩn khác nhau tuỳ theo
mục đích hay mục tiêu áp dụng các quy tắc này.
Hệ thống thứ hai đợc áp dụng sau thời kỳ chuyển đổi. Hệ thống này đề ra
những nguyên tắc và hớng dẫn về công tác kỹ thuật cho quá trình hài hoà hoá các
quy tắc xuất xứ. Sau thời kỳ chuyển đổi, các tiêu chuẩn hài hoà hoá đợc nghiên cứu
hạn, sự tăng trởng của các ngành công nghiệp phụ trợ trong nớc đợc thực hiện thông
qua việc áp đặt những đòi hỏi về hàm lợng nội địa và mở rộng xuất khẩu thông qua
những đòi hỏi về thực hiện xuất khẩu. Trong nhiều trờng hợp, hạn chế TRIMs đợc
thiết kế để đối phó với những tập quán hạn chế thơng mại của những công ty đa
quốc gia và các hành vi chống cạnh tranh của các công ty này.
Dới đây là danh mục minh hoạ về TRIMs (nhng không phải tất cả các TRIMs
đều bị cấm sử dụng theo Hiệp định về Các biện pháp đầu t liên quan đến thơng mại
của WTO):
(1) Những yêu cầu về hàm lợng nội địa (tiếng Anh viết tắt là LCRs): Đặt ra
việc sử dụng một số lợng nhất định đầu vào của địa phơng trong sản xuất.
(2) Những yêu cầu về cân đối thơng mại: Buộc nhập khẩu phải có một tỷ lệ t-
ơng đơng với xuất khẩu.
(3) Những yêu cầu về cân đối ngoại hối: Quy định ngoại hối cần cho nhập
khẩu phải giữ tỷ lệ nhất định với giá trị ngoại hối của công ty thu đợc từ xuất khẩu
và các nguồn khác.
(4) Những hạn chế về ngoại hối: Hạn chế khả năng tiếp cận nguồn ngoại hối và
do đó hạn chế nhập khẩu.
24
Hoàn thiện pháp luật về thơng mại hàng hoá của Việt Nam
(5) Những yêu cầu về tiêu thụ trong nớc: yêu cầu công ty phải bán tại chỗ một
tỷ lệ nhất định trong sản lợng để hạn chế xuất khẩu.
(6) Những yêu cầu về sản xuất: yêu cầu một số sản phẩm phải đợc chế tạo tại
chỗ.
(7) Những yêu cầu về tỷ lệ xuất khẩu (tiếng Anh viết tắt là EPRs): quy định
rằng một tỷ lệ nhất định trong sản lợng phải dành cho xuất khẩu.
(8) Những yêu cầu bắt buộc về loại sản phẩm: buộc nhà đầu t cung cấp sản
phẩm nhất định cho thị trờng nhất định hoặc chỉ định những sản phẩm đợc chế tạo
từ một cơ sở hay một hoạt động sản xuất.
(9) Những hạn chế về sản xuất: không cho phép các công ty đợc chế tạo một số
sản phẩm hay một nhóm sản phẩm nhất định tại nớc nhận đầu t.
25