Hoàn thiện hệ thống pháp luật để thực hiện các cam kết về thương mại hàng hoá của Việt nam trong khuôn khổ WTO - Pdf 33

MỞ BÀI
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được thành lập và hoạt động từ
ngày 01/01/1995 với mục tiêu thiết lập và duy trì một nền thương mại toàn
cầu tự do, thuận lợi và minh bạch. Tính đến ngày 01/01/ 2010 tổ chức này có
153 thành viên và Việt Nam là thành viên thứ 150. Trải qua quá trình đàm
phán, đấu tranh ngoại giao trong 11 năm kể từ ngày 1/1/1995 (Việt Nam
nộp đơn xin gia nhập WTO) thì đến ngày 7/11/2006 Việt Nam ta được kết
nạp vào tổ chức Thương mại thế giới và ngày 11-01-2007 WTO nhận được
được quyết định phê chuẩn chính thức của Quốc hội nước CHXHCN Việt
Nam. Kể từ đây, Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO.
Để gia nhập tổ chức thương mại thế giới thì Việt Nam phải đưa ra các
cam kết nhằm phù hợp với mục tiêu hoạt động của tổ chức Thương mại thế
giới. Trong đó những cam kết của Việt Nam về thương mại hàng hóa gồm:
Cam kết chung về mở cửa thị trường hàng hoá; Cam kết mở cửa thị trường
phi nông sản; Cam kết mở cửa thị trường nông sản. Một trong những vấn đề
tất yếu khi gia nhập WTO của Việt Nam nói riêng và các quốc gia khác nói
chung là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm thực hiện các cam kết của
mình. Vì vậy đề tài của nhóm em là tìm hiểu về việc Hoàn thiện hệ thống
pháp luật để thực hiện các cam kết về thương mại hàng hoá của Việt
nam trong khuôn khổ WTO.


NỘI DUNG
• Các cam kết về thương mại hàng hoá của Việt Nam trong khuôn
khổ WTO
• Cam kết chung về mở cửa thị trường hàng hoá
Thương mại hàng hoá (tiếng Anh là Trade in goods) là việc trao đổi,
mua bán, cung ứng, kinh doanh hàng hoá và xúc tiến thương mại nhằm mục
đích sinh lợi. Để dễ hiểu hơn, người ta thường định nghĩa thương mại hàng
hoá bằng việc phân biệt thương mại hàng hoá với thương mại dịch vụ. Nếu
như đối tượng mua bán trong thương mại hàng hoá là hàng hoá - tức là các


tham gia một phần là thiết bị máy bay, hoá chất và thiết bị xây dựng. Thời
gian để thực hiện cam kết giảm thuế là từ 3-5 năm. Trong các Hiệp định
trên, tham gia ITA là quan trọng nhất, theo đó khoảng 330 dòng thuế thuộc
diện công nghệ thông tin sẽ phải có thuế suất 0% sau 3-5 năm, tối đa là sau 7
năm. Việc tham gia Hiệp định dệt may cũng dẫn đến giảm thuế đáng kể đối
với các mặt hàng này: vải từ 40% xuống 12%, quần áo từ 50% xuống 20%,
sợi từ 20% xuống 5%.
Việt Nam chỉ cam kết giảm thuế xuất khẩu với hai mặt hàng là phế liệu
kim loại đen và phế liệu kim loại màu ( theo yêu cầu của một số nước thành
viên như Mỹ, Úc, Canada, EU,…). Cam kết của Việt Nam hiện nay là sẽ
giảm thuế xuất khẩu đối với phế liệu kim loại đen từ 35% xuống 17% trong
5 năm; giảm thuế phế liệu kim loại màu từ 45% xuống 22% trong 5 năm.
Đối với thuế nội địa, Việt Nam cam kết trong vòng 3 năm kể từ ngày gia
nhập WTO, tất cả các loại rượu được chưng cất có nồng độ từ 20 độ cồn trở
lên sẽ chịu một mức thuế tuyệt đối tính theo lít của rượu cồn nguyên chất
hoặc một mức thuế phần trăm. Đối với bia, trong vòng 3 năm kể từ khi gia
nhập WTO sẽ áp dụng một mức thuế suất phần trăm chung đối với bia,
không phân biệt hình thức đóng gói, bao bì.
• Cam kết mở cửa thị trường nông sản
Cam kết WTO về nông nghiệp rất rộng. Ngoài các nguyên tắc chung mà
tất cả các ngành kinh tế phải thực hiện như Quy chế tối huệ quốc (MFN),
Quy chế đối xử quốc gia (NT), Tính minh bạch thì các cam kết trong lĩnh
vực nông nghiệp bao gồm: Mở cửa thị trường hàng hoá (cam kết thuế và loại
bỏ hàng rào phi thuế); Chính sách nông nghiệp (hỗ trợ trong nước và trợ cấp
xuất khẩu); Cam kết trong lĩnh vực kiểm dịch động thực vật và vệ sinh an
toàn thực phẩm (Hiệp định SPS); Bảo hộ giống cây trồng mới.
+ Cam kết về thuế quan: Mức cam kết cắt giảm là 10,6% so với mức
thuế MFN hiện hành (nếu tính theo mức thuế ngoài hạn ngạch của các mặt
hàng áp dụng hạn ngạch thuế quan (TRQ), giảm 20% thuế nông sản so với

là sẽ thực hiện theo đúng quy định của WTO, nghĩa là được tự do áp dụng
các chính sách trong nhóm “Hộp xanh”, “Chương trình phát triển”; Đối với
nhóm “Hộp hổ phách”, sẽ sử dụng ở mức tối thiểu (10% giá trị sản lượng
nông nghiệp), ngoài ra, còn thêm 4.000 tỷ đồng trong tổng mức hỗ trợ tính
gộp (AMS). Đối với chính sách trợ cấp xuất khẩu, nước ta đã cam kết bỏ trợ
cấp xuất khẩu ngay khi gia nhập WTO; Bảo lưu được quyền áp dụng điều
khoản đối xử đặc biệt và khác biệt (S & D) dành cho các nước đang phát
triển trong lĩnh vực này, nghĩa là là được phép áp dụng 2 loại trợ cấp nêu
trên.
+ Hiệp định vệ sinh kiểm dịch động, thực vật (SPS): Nước ta cam kết
sẽ thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của Hiệp định này ngay khi gia nhập. Với
tư cách là nước đang phát triển, ta yêu cầu hỗ trợ kỹ thuật để thực thi Hiệp
định.
+ Hiệp định về trị giá hải quan (CVA): Ta cam kết tuân thủ Hiệp định
CVA của WTO ngay từ khi gia nhập.
+ Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT): Ta
cam kết tuân thủ đầy đủ các quy định của Hiệp định TBT ngay từ khi gia
nhập.
• Cam kết mở cửa thị trường phi nông sản
• Các cam kết chung trong lĩnh vực công nghiệp
+ Cam kết về thuế nhập khẩu: Mức cam kết bình quân vào thời điểm
gia nhập là 16,1% và mức cắt giảm cuối cùng sẽ là 12,6%. So sánh với mức
thuế MFN bình quân của hàng công nghiệp hiện nay là 16,6% thì mức cắt


giảm đi sẽ là 23,9%. Các mức cắt giảm này có thể so sánh tương ứng với các
mức cắt giảm trung bình của các nước đang phát triển và đã phát triển trong
vòng đàm phán Uruguay (1994) như sau: trong lĩnh vực công nghiệp các
nước đang phát triển và đã phát triển cam kết cắt giảm là 24% và 37%;
Trung Quốc trong đàm phán gia nhập của mình cam kết cắt giảm khoảng

điện, điện tử là một trong số các nhóm mặt hàng có cam kết cắt giảm thuế
nhiều nhất trong Biểu cam kết về thuế quan của Việt Nam trong khuôn khổ
WTO.
+ Cam kết thuế quan đối với ngành ôtô: Đối với ô tô thì mức thuế suất
theo cam kết WTO sẽ được giảm dần xuống mức 70%, 52% và 47% trong


khoảng thời gian từ 7 đến 12 năm và nhà nước có thể chủ động điều hành
trong phạm vi cho phép. Đối với thiết bị vận tải từ mức thuế suất trung bình
giảm từ 46,9% tại thời điểm gia nhập xuống còn 37,4% vào thời điểm kết
thúc việc thực hiện các cam kết này.
+ Cam kết về thuế quan trong ngành thép: Việt Nam đã đồng ý cam kết
cắt giảm và ràng buộc ở mức thuế suất hiện hành của hơn 700 dòng thuế liên
quan đến mặt hàng sắt thép và các sản phẩm từ sắt thép nhập khẩu từ tất cả
các nước thành viên WTO. Mức cắt giảm về thuế nhập khẩu đối với ngành
thép trong khuôn khổ WTO về cơ bản ngang bằng với mức cắt giảm bình
quân chung của toàn bộ Biểu thuế. Mức thuế suất trần cho thép xây dựng và
phôi thép theo các cam kết trong WTO đều ở mức cao hơn mức thuế suất
thực tế đang áp dụng.
• Hoàn thiện hệ thống pháp luật để thực hiện các cam kết về
thương mại hàng hoá của Việt Nam trong khuôn khổ WTO
• Hoàn thiện Luật thương mại Việt Nam 2005
Luật thương mại 2005 ra đời đã có nhiều quy định mới và sửa đổi để đáp
ứng được yêu cầu gia nhập WTO của Việt Nam, tuy nhiên vẫn còn những
điểm vướng mắc cần phải được hoàn thiện để thực hiện các cam kết về
thương mại hàng hoá của Việt Nam trong khuôn khổ WTO.
Thứ nhất, sự khác biệt giữa các quy định có tính công pháp của Luật
Thương mại Việt Nam với các chế định của WTO nói chung và chế định
thương mại hàng hoá nói riêng tập trung chủ yếu ở chương I (Những quy
định chung). Điểm thiếu sót lớn của Luật thương mại 2005 là chưa thể hiện

bên nhận gia công – bên đặt gia công để phù hợp với biểu cam kết WTO của
Việt Nam.
Hoặc là vấn đề về dịch vụ cấm kinh doanh, dịch vụ hạn chế kinh doanh
và dịch vụ kinh doanh có điều kiện được quy định tại Điều 76 Luật thương
mại 2005 và được quy định hướng dẫn cụ thể trong Nghị định 59/2006/NĐCP ngày 12/6/2006, được sửa đổi bởi nghị định 43/2009/NĐ-CP ngày 7/5/
2009. Liên quan đến vấn đề quyền nhập khẩu thuốc của thương nhân nước
ngoài có thể dẫn đến vi phạm các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO,
tồn tại nhiều quy định hạn chế việc tiếp cận thị trường của doanh nghiệp
kinh doanh bảo hiểm nước ngoài có thể dẫn đến vi phạm các quy định của
GATS liên quan đến nguyên tắc đối xử quốc gia...Do đó cần quy định chi
tiết và thống nhất các yêu cầu và ràng buộc đối với thương nhân nước ngoài,
đặc biệt tôn trọng tuyệt đối các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO
trong vấn đề về dịch vụ cấm kinh doanh, dịch vụ hạn chế kinh doanh và dịch
vụ kinh doanh có điều kiện của pháp luật thương mại.
• Hoàn thiện quy định về đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia
• Về Đối xử Tối huệ quốc (MFN): Theo quy định trong Điều I – Hiệp
định GATT 1994 của WTO, Nguyên tắc đối xử Đãi ngộ Tối huệ quốc yêu
cầu các bên ký kết phải dành ngay lập tức và vô điều kiện mọi sự đãi ngộ đối
với các khoản thuế, phương thức thanh toán, mọi luật lệ, thủ tục, mọi lợi thế,
biệt đãi, đặc quyền hay quyền miễn trừ dành cho sản phẩn có xuất xứ hay
đươc giao tới bất kỳ một nước nào khác sẽ phải dành cho sản phẩm tương tự
có xuất xứ hoặc giao tới mọi bên ký kết khác. Tại Việt Nam, nguyên tắc Đãi
ngộ Tối huệ quốc được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành như:
Luật Thương mại 2005; Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005; Luật
Hải quan 2001; Pháp lệnh MFN và NT 2002; và một số văn bản khác.
• Về Đối xử quốc gia (NT): Điều III GATT 1994 của WTO quy định
dành cho hàng nhập khẩu từ lãnh thổ của một bên sự đãi ngộ không kém


thuận lợi hơn so với hàng hóa tương tự trong nước liên quan đến các khoản

trong nội bộ ngành Hải quan. Tuy nhiên, việc xây dựng ngân hàng dữ liệu về
giá của hàng hoá nhập khẩu của ngành Hải Quan chưa đáp ứng yêu cầu đặt
ra, dữ liệu về giá còn sơ sài, chưa cập nhật kịp thời nên gây trở ngại cho
công tác tham vấn về giá. Do đó, trong thời gian tới chúng ta phải xây dựng
và hoàn thiện ngân hàng giữ liệu về giá của ngành hải quan.
Ngoài ra, mặc dù trong cam kết không yêu cầu về thuế xuất khẩu, tuy
nhiên chúng ta vẫn cần quan tâm đến thuế này để đảm bảo sự phát triển và
cạnh tranh của hàng hóa trong nước. Thuế xuất khẩu chỉ nên áp dụng đối với
những sản phẩm thô, tài nguyên khoáng sản phục vụ chế biến sản phẩm


công nghiệp trong nước nhằm hạn chế xuất khẩu sản phẩm thô, làm cạn kiệt
nguồn tài nguyên quốc gia.
• Về danh mục biểu thuế:
+ Bước sang năm 2012, Bộ Tài chính cũng đã ban hành các Biểu thuế
xuất nhập khẩu ưu đãi và ưu đãi đặc biệt theo phiên bản HS 2012 và Danh
mục thuế quan hài hoà ASEAN 2012 (AHTN) để thực hiện theo các cam kết
đã tham gia và lộ trình cắt giảm thuế theo cam kết WTO và chi tiết ở cấp 8
chữ số. Tuy nhiên biểu thuế nhập khẩu hiện hành đã không theo kịp sự đa
dạng về hang hoá trong hoạt động xuất nhập khẩu, mã số giữa biểu thuế
nhập khẩu so với mã số theo danh mục HS ngày càng bộc lộ nhiều điểm
chưa thống nhất. Chỉ một sản phẩm nhưng có thể các cơ quan chức năng lại
xác định khác nhau. Để hạn chế tình trạng cùng một loại hang hoá nhập
khẩu nhưng lại có nhiều cách áp mã khác nhau thì biểu thuế nhập khẩu cần
được cập nhật bổ sung chi tiết, cụ thể phù hợp với danh mục HS trong điều
kiện hàng hoá nhập khẩu ngày càng nhiều.
• Về kê khai nộp thuế: Theo quy định hiện hành, để khuyển khích
nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu… phục vụ cho sản xuất xuất
khẩu thì quy định hiện hành cho phép một số trường hợp đơn vị nhập khẩu
được nợ thuế nhập khẩu từ 30 đến 275 ngày. Tuy nhiên, một số doanh

con người và an ninh quốc gia theo Điều XX.(a) và Điều XXI – GATT
1994); Pháo các loại (Lý dó bảo vệ sức khoẻ con người theo Điều XX.(b) –
GATT 1994); Phương tiện vận tải tay lái bên phải ( lý do bảo vệ sức khoẻ
con người theo Điều XX.(b) – GATT 1994). Theo cam kết gia nhập WTO,
Việt Nam đã cho nhập khẩu thuốc lá điếu; cho nhập khẩu xe máy trên 175cc
(sau 31/5/2007) nhưng bảo lưu quyền áp dụng các biện pháp hành chính như
độ tuổi người sử dụng và chế độ cấp bằng lái đặc biệt....Việt Nam cũng đã
cho nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng trong thời gian dưới 5 năm nhưng bảo
lưu quyền áp dụng thuế nhập khẩu ở mức cao, chỉ cho làm thủ tục tại 4 cảng
biển, hải quan Việt Nam được xác định lại giá nhập khẩu và với những yêu
cầu khắt khe về an toàn và khí thải.
Ngoài những mặt hàng trên thì những mặt hàng còn lại theo quy định
của Nghị định 12/2006/NĐ-CP, và gần đây là thông tư số 04/2012/TT-BXD
của Bộ xây dựng hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản làm vật liệu xây dựng
đều vi phạm các nguyên tắc của WTO. Ví dụ: các mặt hàng gỗ tròn, gỗ xẻ từ
gỗ rừng tự nhiên trong nước; Động vật, thực vật, thuỷ sản quý hiếm và giống
vật nuôi, cây trồng quý hiếm; Các loại máy móc chuyên dụng và các chương
trình phần mềm mật mã sử dụng trong phạm vi bảo vệ bí mật Nhà nước; 8
loại khoáng sản bị cấm xuất khẩu theo thông tư 04/2012/TT-BXD; hàng tiêu
dùng, vật liệu đã qua sử dụng,...
Có thể Việt Nam sẽ lập luận cấm nhập, xuất khẩu các mặt hàng này để
bảo hộ cho nền kinh tế còn non trẻ trong nước, tiết kiệm ngoại tệ nhưng
cũng cần nhìn nhận khách quan những hạn chế sau đây: Việc Việt Nam cấm
xuất khẩu các hoá chất độc hại có thể làm giảm lợi nhuận của các nhà sản
xuất hoá chất độc và vô hình chung hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước
sử dụng các loại hoá chất này; Cấm xuất khẩu các mặt hàng gỗ có thể
khuyến khích buôn lậu, làm suy giảm nghiêm trọng nguồn thu ngân sách;
Mặc dù Việt Nam có quy định là hàng hoá cấm nhập khẩu, nhưng lại cho
tạm nhập tái xuất và lưu lại trên lãnh thổ Việt Nam 195 ngày nên rất khó
quản lý lượng hàng hóa bị cấm nhập khẩu này, dẫn đến hiện tượng buôn lậu

Do đó, về hạn ngạch nhập khẩu, có thể cải cách theo hướng: Chỉ sử dụng
trong các trường hợp ngoại lệ cho phép (ví dụ: mất mùa do hạn hán, lũ lụt,
dịch bệnh, hoặc cán cân thanh toán có sự đe doạ…); Công bố công khai mức
hạn ngạch và mức tăng trưởng. Đây là một tín hiệu rõ ràng để các doanh
nghiệp có thể chủ động hơn trong việc đưa ra các quyết định đầu tư cũng
như tạo ra áp lực cạnh tranh tăng dần với họ. Mặt khác, đây cũng là cách
thông tin mang tính minh bạch, rõ ràng thông báo cho các quốc gia có quan
hệ buôn bán với Việt Nam, tạo ra khả năng cạnh tranh công bằng.
• Hạn ngạch thuế quan: Đối với các sản phẩm nông nghiệp (Phụ lục
I, Hiệp định Nông nghiệp) có thể áp dụng một hình thức hạn ngạch đặc biệt
gọi là hạn ngạch thuế quan (TRQ). Hạn ngạch thuế quan có thể coi là một
biện pháp phi thuế quan khá hiện đại, bởi nó phù hợp với những quy định
của các tổ chức thương mại quốc tế, đồng thời lại bảo hộ một cách tích cực
nền kinh tế. Thông qua hạn ngạch thuế quan có thể hạn chế số lượng hàng


hóa nhập khẩu song vẫn đảm bảo cung cầu của thị trường trong nước. Tuy
nhiên không thể áp dụng biện pháp này với nhiều mặt hàng do phải đàm
phán với các nước thành viên khác để đạt được các thoả thuận về mức hạn
ngạch ban đầu, mức thuế trong và ngoài hạn ngạch... Việt Nam đã cắt giảm
thực hiện hạn ngạch thuế quan từ 7 mặt hàng xuống còn 4 mặt hàng. Hiện
Việt Nam vẫn được bảo lưu duy trì hạn ngạch thuế quan đối với 4 sản phẩm:
đường, trứng gia cầm, thuốc lá nguyên liệu, muối. Việt Nam chỉ nên duy trì
hạn ngạch thuế quan trong chừng mực này, để có thể làm vừa lòng được các
đối tác khi Việt Nam hội nhập WTO.
• Về cấp phép nhập khẩu
Theo Điều 1 khoản 1 Hiệp định về thủ tục cấp phép nhập khẩu (hiệp
định ILP) thì cấp phép nhập khẩu là các thủ tục hành chính được sử dụng để
thực hiện chế độ cấp phép nhập khẩu, đòi hỏi đệ trình đơn hay các tài liệu
khác (không liên quan tới mục đích hải quan) tới các cơ quan hành chính

thuật của các cơ quan chính quyền Trung ương, ghi nhận nguyên tắc đối xử
quốc gia về mặt tiêu chuẩn như sau “Đối với các quy định về kỹ thuật, các
sản phẩm nhập khẩu từ lãnh thổ của bất cứ thành viên nào đều được đối xử
không kém phần ưu đãi hơn so với hàng hoá tương tự được sản xuất trong
nước của nước thành viên đó và hàng hoá tương tự có xuất xứ từ bất cứ
nước nào khác”. Điều 2 Hiệp định TBT còn quy định về việc áp dụng một
phần hoặc toàn bộ các tiêu chuẩn quốc tế đã tồn tại hoặc sắp được ban hành
làm cơ sở cho việc ban hành các quy định kỹ thuật của quốc gia trừ trường
hợp các tiêu chuẩn này không hiệu quả hoặc không phù hợp (như về địa lý
hay công nghệ chẳng hạn).
Hiện nay, Việt Nam đã ban hành Luật chất lượng sản phẩm hàng hoá
2007, pháp lệnh MFN và NT trong thương mại quốc tế 2002 đảm bảo cơ bản
các yêu cầu của Hiệp định TBT. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam vẫn còn
chưa có quy định tương ứng với một số quy định của Điều 2 Hiệp định TBT.
Đồng thời, các nội dung khác trong Hiệp định TBT, Việt Nam hầu như chưa
có các văn bản điều chỉnh tương ứng hoặc có quy định trong Luật chất lượng
sản phẩm hàng hoá 2007 nhưng nội dung còn chưa đầy đủ. Do đó, Việt Nam
cần đưa các nội dung còn thiếu vào nghị định hướng dẫn thi hành Luật chất
lượng sản phẩm hàng hoá 2007.
• Về các biện pháp kiểm dịch động thực vật
Theo Điều 2 Hiệp định về áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực
vật (Hiệp định SPS) quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản thì bất kỳ biện pháp
kiểm dịch động thực vật và vệ sinh an toàn thực phẩm bào cũng chỉ được áp
dụng ở mức độ cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ con người, động
vật và thực vật và dựa trên các nguyên tắc Tối huệ quốc và tuân thủ các điều
khoản liên quan của Hiệp định này và quy định của Điều XX (b) GATT
1994. Theo đó, Việt Nam sẽ lấy các tiêu chuẩn, hưởng dẫn và khuyến nghị
quốc tế, nếu có, làm cơ sở cho các biện pháp kiểm dịch động thực vật và vệ
sinh an toàn thực phẩm.
Hiện nay, Việt Nam mới chỉ ban hành pháp lệnh thú y, pháp lệnh Bảo vệ


PHỤ LỤC 1
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thương mại hàng hoá của Việt
Nam trong một số lĩnh vực cụ thể khác
• Về định giá hải quan
Về mặt hình thức và thủ tục, Việt Nam mới chỉ áp dụng Nghị định
60/2002/NĐ-CP về việc xác định trị giá hải quan (CVA) của WTO đối với
hàng hoá nhập khẩu theo nguyên tắc của Hiệp định trị giá hải quan (CVA)
của WTO. Có thể thấy những hạn chế cần sửa đổi nghị định 60/2002/NĐ-CP
như sau:
- Thứ nhất: Nghị định hạn chế việc áp dụng là chỉ với hàng hóa thuộc
chương trình CEPT. Do đó, cần huỷ bỏ quy định này và cho phép áp dụng
Nghị định đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từ các nước có cam kết
thực hiện
- Thứ hai: bãi bỏ việc chỉ áp dụng nghị định 60/2002/NĐ- CP đối với
điều kiện là hàng nhập khẩu theo hợp đồng thương mại vì Hiệp định CVA
của WTO không có quy định này và các quy định hợp đồng của Việt Nam
cũng gây phức tạp và khó khăn cho việc áp dụng nghị định
- Thứ ba: Sửa đổi khoản 4 Điều 7 cho phù hợp với điều 5.2 Hiệp định
CVA của WTO ở 2 điểm: sửa đổi để quy định việc áp dụng trị giá đối với
hàng nhập khẩu sau khi đã qua gia công hay chế biến nếu đáp ứng được 2
điều kiện là khi không có hàng hóa nhập khẩu giống hệt hoặc tương tự được
bán tại Việt Nam và khi người nhập khẩu yêu cầu; sửa đổi để có thể áp dụng
chú thích cho điều 5.2 Hiệp định CVA.
Ngoài ra, Việt Nam cũng nên áp dụng không chỉ mình phương pháp tính
thuế theo giá mà còn nên áp dụng thêm cả cách tính thuế theo lượng nhập
khẩu hoặc hỗn hợp cả hai đối với mặt hàng nhập khẩu thích hợp nhằm ổn
định thu cho ngân sách mà vẫn thỏa mãn quy định của WTO.
• Về giám định trước khi gửi hàng
Hoạt động giám đinh hàng hóa được quy định trong Luật Hải quan năm

tư của Việt Nam.
Trong Luật Đầu tư 2005 đã quy định Việt Nam xóa bỏ các rào cản
thương mại liên quan đến đầu tư, mà nội dung hầu hết liên quan đến các nội
dung trong Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại
(TRIMS) của WTO. Theo quy định này, các yêu cầu về xuất khẩu, tỷ lệ nội
địa hóa, chuyển giao công nghệ, yêu cầu về tỷ lệ vốn, cân đối ngoại tệ, cân
đối xuất nhập khẩu... đã bị loại bỏ. Cũng do gia nhập WTO nên các quy định
liên quan đến các trợ cấp, phân biệt các vùng miền xuất xứ của đầu tư cũng
đã được bãi bỏ. Các hạn chế đối với đầu tư nước ngoài (chẳng hạn như tỷ lệ
góp vốn, hình thức đầu tư) cũng chỉ áp dụng đối với một số lĩnh vực. Mặt
khác, để gia nhập WTO, Luật cũng đưa thêm vào các cơ chế giải quyết tranh
chấp để bảo đảm cho hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp, nhất
là các biện pháp mà các nước hiện nay đang áp dụng (phần lớn là áp dụng
cho các sản phẩm của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam).
Tuy nhiên, bên cạnh các điểm tích cực thì từ thực tế thực hiện TRIMs ở
các nước đang phát triển, Việt Nam cần phải rút ra cho mình những bài học
quý giá. Trước hết chúng ta cần tạo lập một môi trường đầu tư đồng bộ và
tốt hơn, tích cực xây dựng năng lực, từ nguồn nhân lực đến cơ sở vật chất và
tài chính, nhằm đảm bảo năng lực đàm phán và thực thi hiệu quả những cam


kết kinh tế đa phương. Đồng thời, Việt Nam cũng cần tranh thủ tối đa những
lợi thế và cơ hội trong vai trò là thành viên chính thức của WTO, cũng như
đặt ra một lộ trình để thực hiện thành công những biện pháp cần thiết nhằm
tạo dựng cho mình một nội lực mạnh về kinh tế, đảm bảo đủ khả năng thực
hiện TRIMs một cách thành công.
• Các biện pháp chống bán phá giá
Pháp lệnh về thuế chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu 2004 đã ra đời
và đi vào thực tiễn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề được đặt ra như: nhiều
chi tiết để bỏ ngỏ chờ hướng dẫn bởi các thông tư, nghị định, và do đó là cơ

• Các văn bản pháp luật liên quan
• http://trungtamwto.vn/wto/cam-ket-vn-wto/cam-ket-wto-hang-hoa
• http://trungtamwto.vn/wto/cam-ket-gia-nhap-wto-cua-viet-namtrong-linh-vuc-thuong-mai-hang-hoa/gioi-thieu-chung-ve-cam-ke-0
• http://trungtamwto.vn/wto/cam-ket-gia-nhap-wto-cua-viet-namtrong-linh-vuc-thuong-mai-hang-hoa/gioi-thieu-chung-ve-cam-k-1
• ThS. Nguyễn Thành Hưng, “Cần hoàn thiện chính sách thuế xuất
nhập khẩu”, nguồn http://www.taichinhdientu.vn
• Báo cáo nghiên cứu Dự án VIE/01/004 “Những khác biệt giữa Luật
thương mại Việt Nam với Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ và các
chế định của WTO” – TS. Hoàng Phước Hiệp (trưởng nhóm), Quyền vụ
trưởng Vụ pháp luật quốc tế và Hợp tác quốc tế, Bộ Tư pháp.
• Khoá luận tốt nghiệp đề tài “Hoàn thiện pháp luật về thương mại
hàng hoá của Việt Nam trước yêu cầu gia nhập tổ chức thương mại thế giới
(WTO)”, Sinh viên Hoàng Anh Tuấn, lớp Anh9-K38C-KTNT, tháng
12/2003.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status