Sáng kiến kinh nghiệm:
BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY
CÁC BIỂU TƯỢNG HÌNH HỌC CHO HỌC SINH LỚP 1
I. PHẦN MỞ ĐẦU
I.1 Lí do chọn đề tài
I.1.1.Cơ sở lý luận:
Xuất phát từ vị trí, vai trò của môn toán ở bậc tiểu học. Một trong những bộ
phận cấu thành chương trình toán ở bậc tiểu học là "Những yếu tố hình học". Bộ
môn này được dạy học ở tiểu học mang ý nghĩa chuẩn bị cho việc học môn hình
học ở bậc học phổ thông cơ sở, đồng thời giúp học sinh những hiểu biết cần thiết
khi tiếp xúc với những tình huống toán học trong cuộc sống hàng ngày.
I.1.2. Cơ sở thực tiễn:
Đặc điểm cấu trúc của chương trình toán lớp 1 thì "Các yếu tố hình học" lại
nằm xen kẽ ở các nội dung khác, điều này thể hiện tính thống nhất, tích hợp trong
cấu trúc nội dung nên được coi là một ưu điểm. Tuy nhiên cũng tạo ra một số khó
khăn cho cả giáo viên cũng như học sinh trong quá trình truyền đạt và lĩnh hội tri
thức.
Dạy học các yếu tố hình học được tri giác như một toán thể gắn liền với hình
dạng của chúng, chưa chú ý đến việc phân tích các yếu tố, các đặc điểm của hình
(học sinh nhận diện phân loại hình trong một tập hợp vật thật, hình vẽ khác nhau về
kích thước, màu sắc ).
1
Trong thực tế, việc đổi mới phương pháp dạy học của chương trình thay sách
đã có nhiều phương pháp giúp học sinh học tốt môn toán nói chung, các yếu tố hình
học nói riêng. Xong để phù hợp với đối tượnghọc sinh lớp mình dạy tôi đã tìm tòi
và mạnh dạn áp dụng cách truyền đạt gần nhất để các em hiểu bài. Tuy chưa phải là
tối ưu nhưng cũng là tâm huyết của bản thân góp phần vào việc tháo gỡ khó khăn
khi dạy các yếu tố hình học trong môn toán cho học sinh lớp 1.
Xuất phát từ những lí do trên và cũng là để góp phần nâng cao chất lượng
I.3.3.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu:
Lớp 1C - Trường tiểu học Thị Trấn Tiên Yên.
I.3.3.3. Giới hạn về khách thể khảo sát.
30 học sinh - Lớp 1C - Trường Tiểu học Thị trấn Tiên Yên.
I.4. Đóng góp mới về mặt lý luận, về mặt thực tiễn:
Dựa vào quan sát thực tế học sinh lớp 1C tôi thấy: Trình độ nhận thức của
học sinh trong cùng một độ tuổi bị chênh lệch đa số các em còn mải chơi. Chính vì
vậy, khi giảng dạy về biểu tượng hình học trong toán 1, đòi hỏi người giáo viên
phải biết vận dụng toàn bộ phương pháp dạy học hiện đại. Đồng thời người giáo
viên phải truyền thụ kiến thức cho học sinh một cách trực quan sinh động trong giờ
học, gây sự say mê hứng thú học môn toán.
Chất lượng học tập của các em hiện nayđòi hỏi cao, kết quả học tập rõ rệt
các em có ý thức học tập, luôn học bài, làm bài đầy đủ trước khi đến lớp. Bên cạnh
đó một số em chưa có ý thức trong việc học hành, dành ít thời gian ôn bài, việc tiếp
thu kiến thức còn hạn chế, dẫn đến tình trạng rỗng kiến thức.
3
Mặt khác phương pháp dạy "Lấy học sinh làm nhân vật trung tâm, chủ đạo
trong học tập, còn giáo viên chỉ là người gợi mở, hướng dẫn" chưa áp dụng triệt để
mà hầu như giáo viên vẫn dùng phương pháp diễn giải, phần nào còn áp đặt. Các
em lười động não, chưa chịu tư duy, suy luận. Do vậy, việc vận dụng khắc sâu kiến
thức, niềm say mê tìm tòi sáng tạo ở học sinh chưa khơi dậy được khả năng vận
dụng chất xám ở học sinh.
Song song với quá trình xem xét thực tế, tôi thấy việc "nâng cao chất lượng
dạy về các biểu tượng hình học cho học sinh lớp 1" cũng như việc sử dụng phương
pháp "Lấy học sinh làm nhân vật trung tâm". Để giảng dạy đựơc áp dụng hoàn toàn
lấy hoạt động học tập của học sinh là hoạt động chủ đạo dưới sự tổ chức hướng dẫn
của giáo viên. Giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh sau đó hướng dẫn cách làm,
làm mẫu cho học sinh thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy trình. Nếu cần giáo
viên giao thêm bài tập cho học sinh làm bài ở nhà. Chính vì vậy mà học sinh ở đây
Biện pháp là: Cách sử liệu đối với việc nâng cao chất lượng dạy học các
biểu tượng hình học cho học sinh lớp 1.
Nâng cao chất lượng là: Đưa chất lượng dạy học các biểu tượng hình học
lên mức cao.
Biểu tượng hình học là: Hình ảnh biểu hiện các hình học.
Kết luận chương 1: Trong quá trình nghiên cứu lịch sử vấn đề và các cơ sở lí luận
vấn đề "Biện pháp nâng cao chất lượng dạy học các biểu tượng hình học cho học
sinh lớp 1". Tôi nhận thấy rõ hơn về vai trò của môn toán đặc biệt "Các yếu tố hình
học" giúp các em nhận biết Thế giới xung quanh và học tốt các môn học khác.
5
II.2. Chương 2: NỘI DUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
II.2.1. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nhiệm vụ về lý luận: Một số vấn đề về hoạt động học của học sinh và biện
pháp nâng cao chất lượng dạy các biểu tượng hình học cho học sinh lớp 1.
- Nhiệm vụ thực tiễn: Tìm hiểu thực trạng biện pháp nâng cao chất lượngdạy
các biểu tượng hình học cho học sinh lớp 1.
II.2.2. Các nội dung cụ thể trong đề tài:
1, Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 1.
Trong công tác giáo dục người giáo viên phải chú ý đến đặc điểm lứa tuổi
học sinh. Đối với lứa tuổi lớp 1 vừa qua trường mầm non bước sang bậc Tiểu học
mọi sự vật bên ngoài của các em còn nhiều bỡ ngỡ, có những điều mới lạ. Bậc học
Tiểu học các giờ học nhiều hơn, kiến thức được nâng cao hơn, hoạt động vui chơi
không phát triển, xuống hàng thứ yếu sau hoạt động học tập. Điều đó ảnh hưởng
đến hệ thần kinh của các em.
Đặc điểm tâm lý còn biểu hiện đặc trưng nhân cách của học sinh Tiểu học
nhất là lớp 1, các em vẫn còn hồn nhiên ngây thơ nhiều khả năng phát triển. Với
các em cấp 1 mang nặng màu sắc cảm tính, cùng quá trình phát triển tâm lý, tình
cảm đó được phát triển trên cơ sở nhận thức ngày càng đúng đắn. Lứa tuổi các em
dễ tin, tin vào thầy cô mình, tin vào sách, tin những điều nhà trường, gia đình dạy
điểm, hình vuông, hình tròn, hình tam giác ); Về bài toán có lời văn
- Hình thành và rèn luyện các kỹ năngthực hành; Đọc, viết, đếm, so sánh các
số trong phạm vi 100; Cộng và trừ không nhớ trong phạm vi 100; Đo và ước lượng
7
độ dài đoạn thẳng (Với các số đo là số tự nhiên trong phạm vi 20cm, nhận biết hình
vuông, hình trònh, hình tam giác, đoạn thẳng, điểm; Vẽ đoạn thẳng có độ dài đến
10cm; Giải một số bài toán đơn giản về cộng, trừ. Bước đầu biết diễn đạt bằng lời,
bằng ký hiệu một số nội dung đơn giản của bài học và bài thực hành tập dượt so
sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi của những
nội dung có nhiều quan hệ với đời sống thực tế của học sinh.
- Giúp học sinh chăm chỉ, tự tin, cẩn thận, ham hiểu biết và hứng thú học tập
toán.
3, Nội dung chương trình sách giáo khoa toán 1
- Chương trình toán lớp 1 là một bộ phận của chương trình môn toán ở tiểu
học, chương trình này kế thừa và phát triển những thành tựu về dạy học toán lớp 1
ở nước ta; Khắc phục một số tồn tại của dạy học toán lớp 1 trong giai đoạn vừa
qua; Thực hiện những đổi mới về giáo dục toán học ở lớp 1 nói riêng, ở tiểu học
nói chung để đáp ứng những yêu cầu của Giáo dục và đào tạo trong giai đoạn công
nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước đầu thế kỉ XXI.
- Nội dung môn toán lớp 1 nêu trong chương trình tiểu học do Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành ngày 9 tháng 11 năm 2001 như sau:
* Số học:
- Các số đến 10. Phép cộng và phép trừ trong phạm vi 10.
- Các số đến 100. Phép cộng và phép trừ trong phạm vi 100.
* Đại lượng và đo đại lượng.
- Giới thiệu đơn vị đo độ dài xăng ti mét.
- Giới thiệu đơn vị đo thời gian
* Yếu tố hình học:
- Nhận dạng bước đầu về hình vuông, hình tròn, hình tam giác.
L
O
H
K
G
Đa số học sinh có đáp án (4 đoạn thẳng).
Các em không nhận ra được HO và KO cũng là đoạn thẳng.
Ví dụ 2: Tô màu các hình vuông dưới đây:
a b c
Đa số các em chỉ tô màu hình a; b mà không tô màu hình c.
Giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh thấy được hình c cũng là hình vuông, hình
này chỉ khác hình a; b là vị trí của hình nằm nghiêng.
Trong cùng một lớp có hai đối tượng khá và yếu, các đối tượng này tiếp thu
một lượng kiến thức đặt ra theo mục tiêu đào tạo. Mà vấn đề đặt ra là làm sao để
các đối tượng tiếp thu kiến thức không bị chênh lệch nhau. Giáo viên cần quan tâm
chú ý đến trẻ nắm kiến thức chậm hơn. Giao bài tập cần phù hợp với đối tượng học
sinh.
Kết luận chương II: Qua quá trình nghiên cứu nhiệm vụ và một số nội dung
của đề tài, tôi cũng nhận thấy rõ hơn vai trò của môn toán đối với học sinh lớp 1
nói riêng, học sinh tiểu học nói chung. Góp phần phát triển tư duy cho học sinh.
10
II.3. Chương III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU, KẾT QUẢ NGHIÊN
CỨU
II.3.1. Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình thực hiện đề tài này tôi đã sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
nguyên nhân: Sự phát triển nhận thức của học sinh cùng lứa tuổi không đồng đều,
hoạt động tư duy có những nét riêng với từng em, việc lĩnh hội kiến thức trước đó
không đầy đủ, thiếu vững chắc, thái độ học tập còn nhiều thiếu sót, sức khoẻ chưa
tốt và đời sồng vật chất còn nhiều khó khăn, học tập ở nhà không được chú ý
Về phía giáo viên: Nhịp độ giảng dạy quá nhanh, phương pháp giảng dạy chưa hợp
lý, tinh thần trách nhiệm của giáo viên với việc học tập của học sinh chưa đầy đủ
Những nguyên nhân trên tác động tổng hợp làm cho hứng thú học kém, học
sinh thiếu tự tin, không cố gắng vươn lên, kết quả học tập không ổn định.
Biết được các nguyên nhân đó trước thực trạng đặt ra đòi hỏi người giáo
viên phải tự xem xét qúa trình giảng dạy của mình cũng như thường xuyên theo dõi
học sinh. Muốn vậy người giáo viên phải tự đặt câu hỏi cho chính bản thân mình,
phải tìm hiểu nguyên nhân đó là do đâu.
Đây là việc làm vô cùng khó khăn, khó khăn hơn nữa là việc tìm hiểu xem
nên áp dụng biện pháp sao cho phù hợp nhất ( Do đó cần áp dụng hài hoà các
phương pháp giảng dạy và giáo dục).
Từ khi triển khai chương trình thay sách, trường chúng tôi luôn tổ chức các
buổi sinh hoạt chuyên môn , dự giờ thăm lớp, đánh giá chất lượng tất cả các môn
để xây dựng các tiết mẫu. Sau đó nhận xét bổ xung rút kinh nghiệm về các phần đã
làm được và phần nào còn hạn chế để rút ra cách dạy tốt nhất giúp học sinh học
tốt môn toán.
12
II.3.2.3. Đề xuất biện pháp:
Ở tiểu học các yếu tố hình học là một bộ phận gắn bó mật thiết với các kiến
thức số học, các yếu tố đại số, đo lường và giải toán, tạo thành môn toán thống
nhất. Việc dạy các yếu tố hình học hỗ trợ đắc lực cho các môn học khác, mục đích
nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết cần thiết về hình học của các vật trong
không gian khi tiếp xúc với những "Tình huống toán học" trong cuộc sống thường
ngày.
Xuất phát từ nội dung, yêu cầu, chương trình cũng như thực tế dạy và học
học hình học mà còn là cách rèn luyện thao tác tư duy một cách tích cực nhất.
Bên cạnh việc tổ chức cho học sinh tiến hành các hoạt động phổ biến như:
Quan sát, đo đạc, vẽ hình, cắt ghép hình, trò chơi hình học chúng ta có thể tổ chức
các hoạt động có tính chất thực hành ở trong và ngoài lớp học ngay trong giờ lên
lớp. Chẳng hạn chúng ta có thể tổ chức cho học sinh đo kích thước của các đồ vật
trong lớp học
* Đề xuất thứ ba:
Để thực hiện tốt hai đề xuất trên thì giáo viên và học sinh cần thực hiện các
bước sau:
+ Đối với học sinh:
- Chuẩn bị đọc kỹ bài trước khi đến lớp.
- Lắng nghe giáo viên giảng bài, mạnh dạn hỏi bài khi chưa hiểu để giáo
viên giải thích ngay.
- Thực hện tốt việc học trên lớp cũng như ở nhà một cách tự giác.
- Tích cực tham gia xây dựng bài trên lớp.
- Theo dõi và nhận xét ý kiến của bạn.
- Giúp đỡ lẫn nhau trong học tập trên lớp cũng như ở nhà.
14
+ Đối với giáo viên:
- Phân loại đối tượng học sinh để có kể hoạch giảng dạy cho phù hợp với
trình độ các em.
- Linh hoạt trong việc vận dụng phương pháp, hình thức tổ chức dạy học sao
cho trong mỗi bài dạy có sáng tạo riêng, xong phải lấy mục đích hiểu bài của học
sinh làm trọng tâm.
- Ngôn ngữ của giáo viên phải ngắn gọn, dễ hiểu, giúp học sinh tiếp thu kiến
thức một cách dễ dàng.
- Chú ý tổ chức trò chơi toán học để củng cố kiến thức mới cũng như sau
phần luyện tập.
- Kiểm tra bài cũ một cách toàn diện bằng cách giao bài tập về nhà, trên lớp.
- Học sinh có ý thức tham gia tích cực các hoạt động học tập.
II. Đồ dùng:
- Giáo viên: 2 băng giấy xanh - đỏ dài ngắn khác nhau, 2 bút chì.
- Học sinh: Bút màu xanh - đỏ ( để chơi trò chơi), VBT.
III. Các hoạt động dạy – học:
TL Nội dung P
2
- Hình thức Đồ dùng
5
'
A. Kiểm tra bài cũ:
- Giáo viên vẽ 4 điểm lên bảng
- Gọi hai học sinh lên bảng vẽ hai đoạn thẳng
lên bảng (AB,CD)
D
C
B
A
- Lớp nhận xét, giáo viên nhận xét chung đánh
giá.
Luyện tập 2 băng
giấy xanh
đỏ
16
1
'
12
'
Quan sát
2 que tính
2 bút chì
SGK
17
Giáo viên : Người ta có thể so sánh độ dài
đoạn thẳng với độ dài gang tay.
Hỏi: Đoạn thẳng đã cho dài mấy gang tay?
(3 gang tay)
- HS quan sát hình cón lại trong sách , tự rút ra
kết luận: Đoạn trên dài 1 ô li, đoạn dưới dài 3 ô
li (Đoạn trên ngắn hơn đoạn dưới - Ngược lại)
⇒
Giáo viên chốt: Có thể so sánh độ dài 2
đoạn thẳng bằng cách tính số khoảng (hay ô li)
có trong mỗi đoạn.
* Trò chơi giữa giờ:
- Giáo viên tổ chức cho học sinh chơi trò chơi:
Phổ biến luật chơi: Có 2 đội mỗi đội 2 em. Có
2 bút xanh và 2 bút đỏ - Tô màu xanh vào hai
băng giấy, băng giấy ngắn tô màu đỏ, băng
giấy dài tô màu xanh. Từng em tô một.
- HS tiến hành chơi: Gv treo 2 bảng dán sẵn
băng giấy. Dứt hiệu lệnh 2 bên lên tô.
- Đội nào tô nhanh ngắn, gọn sẽ thắng.
- Giáo viên nhận xét tuyên dương đội thắng.
* HĐ3: Thực hành.
Bài 1.
- Giáo viên làm mẫu phần a.
đoạn thẳng nào ngắn?
- Dặn học sinh về nhà tập so sánh độ dài các
cạnh của quyển sách, vở, bàn
Cá nhân
Cá nhân
Cá nhân
VBT
VBT
VBT
Trên đây là một số giáo án theo các ý kiến đề xuất cải tiến dạy các yếu tố hình học
ở lớp 1C. Dạy theo phương pháp thông thường giáo viên vẫn dạy ở lớp 1B.
ĐỀ KIỂM TRA (PHIẾU)
Yêu cầu: Học sinh làm loại toán các yếu tố hình học
Bài 1: Đúng ghi (đ), sai ghi (s) vào ô trống:
1
19
2
3
4
1- Đoạn 1 ngắn nhất
2- Đoạn 4 dài hơn đoạn 1
3- Đoạn 4 ngằn hơn đoạn 3
4- Đoạn 3 dài hơn đoạn 2
5- Đoạn 3 dài bằng đoạn 2
6- Đoạn 4 dài nhất
Bài 2: Dùng bút và thước để nối:
1) Thành đoạn thẳng
C
B
D
O
C
A
C
D
B
A
Bài 3: 4 điểm (Mỗi ý đúng 1 điểm)
- Đoạn thẳng AB có 4 gang tay.
- Đoạn thẳng CD có 2 gang tay.
- Cả 2 đoạn thẳng AB và CD có 6 gang tay.
- Đoạn thẳng AB dài hơn đoạn thẳng CD 2 gang tay.
KẾT QUẢ KIỂM TRA
LỚP 1B 1C
Phương pháp dạy Phương pháp thông thường Giáo án đề xuất
Khá - giỏi 12 (40%) 18 (60%)
Trung bình 12 (40%) 11 (37%)
Yếu - kém 6 (20%) 1 (3%)
21
Qua kết quả điều tra cho thấy tỉ lệ đạt loại giỏi của lớp 1C cao hơn lớp 1B,
loại yếu kém lớp 1C thấp hơn nhiều so với lớp 1B.
Như vậy, sự chênh lệch về kết quả giữa hai lớp chứng tỏ sự thành công khởi
đầu của phương án tôi đã đề ra.
III. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
III.1. Kết luận:
Vấn đề khắc phục khó khăn trong học toán với học sinh lớp 1 không phải là
việc đơn giản, có thể đổi mới ngay trong thời gian ngắn. Đứng về phía giáo viên,
NƠI XUẤT BẢN
1 Vũ Quốc Chung Phương pháp
dạy các yếu tố
hình học ở tiểu
học
Nhà xuất bản
Giáo dục
2 Đỗ Đình Hoan Sách giáo khoa
toán 1
Nhà xuất bản
Giáo dục
3 Đỗ Đình Hoan Sách giáo viên
toán 1
Nhà xuất bản
Giáo dục
4 Đỗ Đình Hoan Vở bài tập toán 1 Nhà xuất bản
Giáo dục
5 Đỗ Đình Hoan Một số vấn đề về
môn toán bậc
tiểu học
Nhà xuất bản
Giáo dục
6 Trần Trọng
Thuỷ
Tâm lí học Nhà xuất bản
Giáo dục
V. NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG, PHÒNG
GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO:
1. Hội đồng khoa học cấp trường:
23