UBND HUYỆN MỸ ĐỨC
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MỸ ĐỨC
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO QUẬN HOÀNG MAI
***************
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
DẠY PHẦN “ CẢM THỤ VĂN HỌC ” CHO HỌC SINH LỚP 5
Môn: TIẾNG VIỆT
NĂM HỌC 2014 – 2015
1
MÃ SKKN:
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. 1.1.Cơ sở lý luận:
Đất nước đang trên đà phát triển, nhịp sống tưng bừng đang hối hả khắp
nơi cả dân tộc đang vươn mình trỗi dậy, đang từng ngày từng giờ thay đổi da
thịt., vươn lên những tầm cao mới, tầm cao của tri thức, của công nghệ thông
tin, của xã hội loài người.
Với tầm nhìn chiến lược, Bộ Giáo dục Đào tạo đã đi đến một quyết định
sáng suốt thay đổi chương trình sách giáo khoa mới cho phù hợp với xu thế phát
triển xã hội, đáp ứng lòng mong mỏi của các thầy cô giáo cũng như các bậc phụ
huynh học sinh. Sách giáo khoa thay đổi thì phương pháp dạy học cũng phải
thay đổi để phù hợp với nội dung chương trình của Sách giáo khoa.
Nghị quyết đại hội Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ II khóa VIII
đã khẳng định: “Giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu”, trong đó nêu rõ mục
tiêu của giáo dục là “ Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có ý
thức, có sức khỏe, thẩm mỹ, nghề nghiệp, trung thành với lỹ tưởng độc lập dân
cho học sinh tiểu học mà cụ thể là cách viết đoạn văn cảm thụ như thế nào cho
đúng, cho hay.
Chính vì thế mà tôi suy nghĩ, tìm tòi, nghiên cứu, cố gắng tìm ra những
biện pháp tích cực giúp giáo viên và học sinh tháo gỡ những khó khăn trên. Tôi
đã đi sâu vào nghiên cứu đề tài: “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng dạy
phần cảm thụ văn học cho học sinh lớp 5”. Với mong muốn giúp thầy và trò
nắm chắc một số kiến thức, kỹ năng, phương pháp dạy và học cần thiết, trực tiếp
khơi nguồn cho dòng chảy văn học của thầy và trò nhà trường tiều học ngày
càng phong phú, đa dạng và không bao giờ cạn kiệt.
3. Mục đích nghiên cứu đề tài.
- Góp phần nâng cao chất lượng dạy và học đối với vấn đề bồi dưỡng phần
cảm thụ văn học trong trường tiểu học.
- Chỉ đạo rèn kỹ năng nói đúng, nói hay, viết hay tiếng mẹ đẻ, giữ gìn sự
trong sáng của tiếng Việt.
- Chỉ đạo việc bồi dưỡng khả năng viết văn của học sinh.
- Giáo dục lòng tự hào, yêu quý và ý thức giữ gìn phát triển tiếng mẹ đẻ.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu.
Học sinh khối lớp 5 trường tiểu học.
3.2.Đối tượng nghiên cứu
Chỉ đạo giáo viên nâng cao chất lượng dạy phần cảm thụ văn học cho học
sinh khối lớp 5 trong trường tiểu học.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
• Tìm hiểu việc dạy cảm thụ văn học của giáo viên trong nhà trường.
• Tìm hiểu việc dạy cảm thụ văn học cho học sinh
• Tìm ra các giải pháp chỉ đạo việc dạy và học cảm thụ văn nhằm nâng
cao chất lượng bài viết của học sinh.
• Tổ chức cho giáo viên dạy thực nghiệm
• Trên cơ sở kết quả đạt được tổ chức hội thảo để rút ra những bài học
kinh nghiệm.
• Học để biết
• Học để làm
• Học để chung sống
• Học để khẳng định mình
4
PHẦN 2: NỘI DUNG
1. Thực trạng ban đầu
1.1.Về phía học sinh:
Trường tiểu học nơi tôi công tác có 60 học sinh khối lớp 5 được biên chế
thành hai lớp.
Các em hoàn toàn tự học, tự làm bài dưới sự hướng dẫn của cô giáo, tự
viết bài theo cảm hứng. Chính vì vậy mà kết quả đạt được của các em hoàn toàn
phụ thuộc vào các cô giáo và sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường.
1.2. Về phía giáo viên:
Giáo viên tiểu học có một đặc thù riêng là phái dạy tất cả các môn học.
Nhưng trình độ năng lực về môn Toán và Tiếng Việt không đồng đều, có người
lại thiên về Toán. Chính vì vậy khi dạy phần cảm thụ văn học cho học sinh bài
dạy trở nên khô khan, không hấp dẫn, không tạo cho các em niềm say mê văn
học.
1.3. Về phía công tác chỉ đạo:
Nhà trường đã có chú trọng chỉ đạo các chuyên đề bồi dưỡng giáo viên
dạy Toán và Tiếng Việt nhưng còn rất hạn chế. Trong quá trình triển khai chưa
có sự chỉ đạo nhất quán, sát sao, thiếu những định hướng chuẩn để thực thi nên
chưa có biện pháp hiệu quả.
1.4. Thống kê thực trạng học tập của học sinh:
Kết quả khảo sát chất lượng ban đầu như sau:
Lớp Sĩ số Điểm giỏi Điểm khá Điểm TB Điểm Yếu
SL % SL % SL % SL %
5A 29 0 0 6 20.7 17 58.6 6 20.7
5B 31 6 19.4 9 29.0 16 51.6 0 0
ít nhiều xa lạ nhưng lại xuất hiện rất nhiều trong sách giáo khoa Tiếng Việt, tiểu
học như cải danh, quy định , uyển ngữ, hiển ngữ,… để làm chỗ dựa cho việc vận
dụng phân tích thơ văn của học sinh.
2.3. Chỉ đạo giáo viên xây dựng và dạy chuyên đề đổi mới nội dung và hình
thức dạy “cảm thụ văn học” theo quy trình sau:
Sau khi nêu cho học sinh hiểu khái niệm của mỗi hình thức tu từ, giáo
viên sẽ nêu ví dụ minh họa và phân tích sơ lược biện pháp mà tác giả đã sử dụng
trong ví dụ đó để học sinh hiểu sâu bản chất của vấn đề mà giáo viên đưa ra.
Minh họa cụ thể hình thức tổ chức và phương pháp truyền tải nội dung
như sau:
2.3.1. Biện pháp 1:
Cảm thu văn học qua việc khai thác các biện pháp nghệ thuật trong
các bài văn, bài thơ.
Một trong những biên pháp giúp cho các em có năng lực cảm thụ văn học
tốt là giúp cho học sinh nhận biết được các biện pháp nghệ thuật và tác dụng của
nó được tác giả sử dụng trong các tác phẩm văn học.
Các biện pháp nghệ thuật thương gặp trong các bài văn, bài thơ ở bậc Tiểu
học là: (So sánh, nhân hóa, điệp từ và đảo ngữ…)
6
Để Cảm thụ tốt các tác phẩm văn học thông qua việc khai thác các biện
pháp nghệ thuật trong các bài văn, bài thơ. Học sinh cần thực hiện tốt các yêu
cầu sau đây:
- Hiểu được thế nào là biện pháp nghệ thuật : So sánh, nhân hóa, điệp từ và đảo
ngữ , ( thông qua phân môn Luyện từ và câu.)
- Xác định đúng những biện pháp nghệ thuật trong bài văn, bài thơ.
- Xác định đúng những từ, cụm từ, hình ảnh( ngữ liệu) thể hiện biện pháp nghệ
thuật.
- Cảm nhận được giá trị nghệ thuật làm tăng giá trị nội dung, ý nghĩa của bài
văn, bài thơ.
Một số biện pháp nghệ thuật tiêu biểu thường gặp trong các bài tập đọc ở
được gợi tả trong đoạn thơ trên.
+ Học sinh xác định được :
Nghệ thuật được sử dụng : Nghệ thuật nhân hóa
Hình ảnh nhân hóa : ôm lấy núi.
+ Cảm nhận được :
Rừng mơ bao quanh núi được nhân hóa (ôm lấy núi) cho thấy sự gắn bó
gần gũi, thân mật và thắm đượm tình cảm của cảnh thiên nhiên.
Hoa mơ nở trắng như mây trên trời đọng (kết) lại.
Gió chiều đông nhè nhẹ (gờn gợn) đưa hương hoa mơ lan tỏa đi khắp nơi.
Có thể nói, đoạn thơ trên đã vẽ ra bức tranh mang vẻ đẹp của đất trời hòa quyện
trong rừng mơ Hương Sơn.
* Vì vậy, khi sử dụng nghệ thuật nhân hóa hợp lý sẽ tạo cho sự vật trở nên
sinh động, gợi hình ảnh biểu cảm.
3. Nghệ thuật điệp ngữ.
Điệp ngữ là cách diễn đạt một từ, một ngữ được nhắc lại nhiều lần nhằm
mục đích nhấn mạnh ý, khẳng định, gây ấn tượng mạnh hoặc gợi ra những cảm
xúc trong lòng người đọc, người nghe.
Ví dụ : “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công.”
( Hồ Chí Minh)
+ Học sinh xác định được:
Nghệ thuật được sử dung : Điệp ngữ
Từ ngữ được nhắc lại trong hai câu thơ (đoàn kết, thành công.)
8
+ Học sinh cảm nhận được sự mạnh mẽ trong lời khẳng định của Chủ tịch Hồ
Chí Minh về tinh thần đoàn kết sẻ đem đến sự thành công to lớn.
* Vì vậy, sử dụng điệp ngữ có chọn lọc, hợp lý sẻ có tác dụng làm nổi bậc
ý, giúp câu văn, câu thơ mạnh mẽ, nhịp nhàng và tạo nên âm điệu, tính nhạc cho
đoạn thơ, câu văn.
Ghi chú: Khi sử dụng biện pháp nghệ thuật điệp ngữ trong viết văn, tránh nhầm
+ Cho ta thấy được tinh thần học tập
rất chăm chỉ của các bạn học sinh ( làm
cho nắng như đứa trẻ nhỏ đang tung
tăng chạy nhảy cũng muốn dừng lại
ghé vào cửa lớp để xem các bạn học
bài.)
9
Ví dụ 2: Trong bài thơ Tre Việt Nam ( SGK -TV5/1) nhà thơ Nguyễn Duy có
viết
“Mai sau,
Mai sau,
Mai sau,
Đất xanh xanh mãi xanh màu tre xanh.”
Em hãy cho biết : tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì nổi bật ?
Cách sử dụng nghệ thuật đó đã nói lên điều gì? Nhằm khẳng định điều gì ?
Học sinh nêu được .
10
+ Biện pháp nghệ thuật tiêu biểu của
đoạn thơ trên là gì?
+ Các từ ngữ nào thể hiện biện pháp
nghệ thuật ?
+ Nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật
điệp ngữ.
(Gợi ý1 : nhận xét về cách ngắt nhịp,
ngắt dòng và điện ngữ Mai sau )
(Gợi ý2 : Xem xét việc lặp lại từ từ
xanh trong dòng thơ cuối)
+ Biện pháp nghệ thuật : Điệp
ngữ.
+ Từ ngữ được lặp lại là : Mai
+ Những từ ngữ nào thể hiện nghệ
thuật nhân hóa.
+ Nêu tác dụng của các từ ngữ Dang
tay ; gật đầu ?
+ Những từ ngữ nào thể hiện nghệ
thuật so sánh.
+ Nêu tác dụng của các từ ngữ thể hiện
nghệ thuật so sánh.
+ Phép nhân hóa được thể hiện
qua các từ ngữ : Dang tay đón
gió ; gật đầu gọi trăng.
+ Các từ ngữ đó có tác dụng làm
cho các vật vô tri vô giác (là
cây dừa) trở nên có những biểu
hiện tình cảm như con người.
Dừa cùng biết mở rộng vòng
tay để đón gió, cũng gật đầu
mời gọi trăng lên.
+ Phép so sánh được thể hiện
qua các từ ngữ : Quả dừa
(giống như) đàn lợn con ; tàu
dừa (giống như) chiếc lược.
+ Cách so sánh ở đây được chọn
những sự vật thật là gần gũi,
thể hiện sự liên tưởng rất
phong phú của tác giả.
* Qua cách so sánh này làm cho
cảnh vật trong thơ trở nên sinh
động, có đường nét, hình khối
và có sức gợi tả, gợi cảm cao.
không khí vui tươi, nhôn nhịp, thanh bình và ấm no nơi làng quê Việt Nam vào
những ngày mùa .
5. Kết luận
Trong quá trình bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh giỏi
lớp 4,5, theo hướng khai thác các biện pháp nghệ thuật trong các bài văn, bài
thơ.Giáo viên cần phải :
+ Trang bị đầy đủ kiến thức về luyện từ và câu cho học sinh (đặc biệt là kiến
thức về ngữ pháp như : từ vựng và các kiến thức về các biện pháp tu từ…)
+ Giúp học sinh phát hiện ra được các biện pháp nghệ thuật được tác giả được
sử dụng trong tác phẩm và các ngữ liệu thể hiện biện pháp nghệ thuật . Qua đó
giúp các em cảm nhận nội dung, ý nghĩa của nghệ thuật làm tô đẹp giá trị của
tác phẩm.
+ Trong giảng dạy phân môn tập đọc, giáo viên cần thực hiện tốt việc đọc diễn
cảm và luyện đọc diễn cảm cho học sinh.
2.3.2. Biện pháp 2 :
Cảm thụ văn học thông qua việc tìm hiểu nội dung, ý nghĩa.
13
Mỗi bài văn, bài thơ hay đoạn, câu văn, thơ đều mang một nội dung, ý nghĩa.
Việc khai thác nội dung của nó giúp học sinh cảm nhận được nét tinh tế, và giá
trị nghệ thuật mà tác giả đã nhắn gửi vào.
1. Một số ví dụ minh họa
Ví dụ 1: Trong bài thơ Dừa ơi (SGK- TV5/2) nhà thơ Lê Anh Xuân có viết :
“Dừa vẫn đứng hiên ngang cao vút
Lá vẫn xanh rất mực dịu dàng.
Rễ dừa bám sâu vào lòng đất
Như dân làng bám chặt quê hương.”
Em hãy cho biết : hình ảnh cây dừa trong đoạn thơ trên nói lên những điều gì
đẹp đẽ về người dân miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ.
Học sinh phải trả lời được các câu hỏi.
- Từ ngữ hình ảnh nào miêu tả cây dừa
cao vút có ý ca ngợi phẩm chất
kiên cường, anh dũng, hiên ngang,
tự hào trong chiến đấu.
+ Câu Lá vẫn xanh rất mực dịu dàng
Ca ngợi phẩm chất trong sáng,
thủy chung, dịu dàng, đẹp đẽ trong
cuộc sống.
+ Câu Rễ dừa bám sâu vào lòng đất
-Như dân làng bám chặt quê
hương.
+ Ý nói phẩm chất kiên cường bám
trụ giữ đất, giữ làng, gắn bó chặt
chẽ với mảnh đất quê hương miền
Nam.
*Cảm nhận được :
+Cây dừa là hình tượng của con người miền Nam.
+Rể, thân ,lá, dáng vóc của dừa qua ngòi bút miêu tả của tác giả trở thành phẩm
chất cao đẹp của con người miền Nam.
Ví dụ 2 : Trong bài Vàm Cỏ Đông (SGK-TV3/1) nhà thơ Hoài Vũ có viết :
« Đây con sông như dòng sữa mẹ
Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây
Và ăm ắp như lòng người mẹ
Chở tình thương trang trải đêm ngày. »
15
Đọc đoạn thơ trên, em cảm nhận được vẻ đẹp đáng quý của dòng sông quê
hương như thế nào ?
- Học sinh phải trả lời được các câu hỏi.
- Biện pháp nghệ thuật của đoạn thơ
là gì ?
Ví dụ 3 : Trong bài Nghe Thầy đọc thơ (sách TV4/1) nhà thơ Trần Đăng Khoa
có viết :
« Em nghe thầy đọc bao ngày
Tiếng thơ đỏ nắng xanh cây quanh nhà
Mái chèo nghe vọng sông xa
Êm êm nghe tiếng của bà năm xưa
Nghe trăng thở động tàu dừa… »
Theo em, cuộc sống xung quanh đã gợi lên như thế nào trong tâm trí của cậu học
sinh khi nghe thầy đọc thơ.
Học sinh trả lời được các ý sau :
+ Biên pháp nghệ thuât được sử
dụng trong đoạn thơ trên là gì ?
+ Các từ nào thể hiện nghệ thuật ?
+ Tìm hình ảnh, âm thanh trong
cuộc sống xung quanh đã gợi lên
trong tâm trí câu học trò ?
+ Nghệ thuật nhân hóa và cách gieo
vần.
+ Nhân hóa : thở Cách gieo vần :
ngày-cây ; nhà-xa ; xa-bà ; xưa-
dừa.
+ Các hình ảnh : nắng chói chang,
cây cối xanh tươi (Tiếng thơ đỏ
nắng xanh cây quanh nhà)
+ Các âm thanh. Tiếng mái chèo
quẫy nước, khua nước vọng lại từ
dòng sông hiện về trong kí ức.
Tiếng ru ạ ơ của người bà ru cháu
trong những năm tháng cậu học trò
còn thơ bé.Tiếng tàu dừa trở mình
trong học tập
+ Kết quả của sự chăm chỉ học tập của
ngày hôm qua như( điểm giỏi, những
lời khen của thầy cô…) được thể hiện
rõ trên trang vở hồng đẹp đẽ của tuổi
thơ ; nó sẽ được lưu giữ lại mãi mãi
cùng với thời gian.Vì vậy có thể nói
ngày hôm qua cũng không thể nào bị
mất đi.
Cảm nhận được :
+ Sự liên kết giữa : Ngày hôm qua là thì quá khứ, ngày mai là thì tương lai.
+ Hiểu được ý nghĩa : Khuyên mỗi một học sinh cần phải cố gắng chăm chỉ học
hành để ngày mai, tương lai của các em càng thêm tươi sáng và đẹp đẽ hơn.
2. Chỉ đạo giáo viên giúp học sinh cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học
thông qua các bài tập đọc trong chương trình sách giáo khoa tiểu học.
Qua thực trạng khảo sát chất lượng đầu năm, tôi nhận thấy một số vấn đề
cơ bản là học sinh viết bài văn cảm thụ không đạt yêu cầu. Nguyên nhân là vì
khi phân tích bình giá thơ văn, học sinh ít chú ý khai thác phương diện ngôn ngữ
của bài văn, bài thơ… Cụ thể là ít chú ý phân tích các biện pháp tu từ về ngữ
âm, từ ngữ, cú pháp được tác giả sử dụng trong bài văn, bài thơ. Vì vậy việc
phân tích bình giá thường nặng nề về cảm nhận, chủ quan, thiếu cơ sở khoa học.
Với biện pháp này, tôi đã dành một số tiết để đi sâu vào phân tích cụ thể một số
bài thơ,bài văn trong sách giáo khoa, tạo hứng thú và khơi nguồn cảm xúc cho
các em khi học phần cảm thụ văn học.
18
Minh họa cụ thể bằng một ví dụ: (Giáo viên phân tích).
Ví dụ:
“Phân tích bài Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy
Phân tích: Bài “Tre Việt Nam” của Nguyễn Duy được sang tác trong
thời kỳ đế quốc Mỹ đang tiến hành cuộc chiến tranh hủy diệt đất nước ta.
3/3 ( có gì đâu/có gì đâu. Mỡ màu ít/chất dồn lâu/hóa nhiều)
Nhịp điệu có vẻ như gấp gáp này cùng với việc lặp lại “ Có gì đâu/ có gì
đâu” biểu hiện phần nào đức tính khiêm nhường và tự tin của tre. Không có gì lạ
lùng cả, không có gì là khó hiểu cả. Chỉ cần có sự siêng năng, chăm chỉ. Hình
thức so sánh “ Tre bao nhiêu rễ bấy nhiêu cần cù” cho thấy tre cần cù, siêng
năng lắm. Người ta không thể biết tre có bao nhiêu rễ thì cũng không biết được
sự cần cù của tre cao đến mức nào. Không chỉ có tre được nhân hóa mà cả rễ -
một bộ phận của tre – cũng được nhân hóa “ Rễ siêng không ngại đất nghèo”.
Hai câu cuối cùng của khổ thơ là một hình ảnh đẹp, khái quát lại một phẩm chất
19
của tre, cũng là của con người Việt Nam vượt mọi gian khổ, luôn luôn lạc quan,
cố gắng phấn đấu vươn lên:
Vươn mình trong gió tre đu
Cây kham khổ vẫn hát ru lá cành
Tre phải chống chọi lại những cơn gió lớn, thân cây có thể oằn lại, nghiến
ken két nhưng tre vẫn sẵn sang chịu đựng để cho lá cành phấp phới bay trong
gió. Nghĩa là trong sự chịu đựng này, tre có một ý thức giáo dục con cháu của
mình, trong một đất nước ở vùng nhiệt đới nắng nhiều, tre còn là biểu tượng của
sức sống hiên ngang thần kỳ.
Yêu nhiều nắng nỏ trời xanh
Tre xanh không đứng khuất mình bóng râm.
Đây là một khổ thơ chỉ gồm có hai câu đứng tách riêng ra. Hình thức của
khổ thơ rất phù hợp với biểu tượng nói trên.
Khổ thơ tiếp theo là khổ dài nhất, gồm 14 câu nói đến những phẩm cách
còn quý giá hơn của tre.
Tre biết thương nhau, đùm bọc lấy nhau, tre biết truyền cho con cháu
“Cái gốc” để con cháu noi theo, tre biết chịu đựng mọi gian khổ, dám hy sinh tất
cả cho con cái. Kết quả là lớp măng non đã tiếp thu được truyền thống bất khuất
của ông cha, những phẩm cách này của tre cũng chính là của con người Việt
Nam. Tre tiếp tục được nhân hóa sâu sắc hơn theo những quan hệ gia đình, cộng
Tre già măng mọc có gì lạ đâu!
Khổ thơ cuối cùng bài thơ, cách ngắt nhịp, ngắt dòng thật đặc biệt:
Mai sau
Mai sau
Mai sau
Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh
Vơi biện pháp sử dụng điệp ngữ “ Mai sau”, góp phần gợi cảm xúc về
thời gian và không gian như mở ra vô tận, tạo cho ý thơ âm ca vang bay bổng và
đem đến cho người đọc những liên tưởng phong phú. Ngày xưa đã có bờ tre
xanh, hôm nay rồi cả mai sau, mai sau nữa, vẫn có bờ tre xanh, mãi mãi có bờ
tre xanh.
Dòng thơ cuối cùng với ba từ “xanh” trong những kết hợp cú pháp đặc
sắc, gợi một màu sắc trường tồn của tre Việt Nam, của con người Việt Nam, một
truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam.
Đất xanh – tre mãi – xanh màu – tre xanh.
3. Hướng dẫn học sinh cách viết một bài văn cảm thụ:
Gồm ba bước:
Bước 1: Sơ lược về tác giả tác phẩm
Bước 2: Chỉ ra những biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ, đoạn
văn như: những từ ngữ có giá trị gợi tả, gợi cảm, những hình ảnh đẹp, những từ
láy, từ tượng thanh, tượng hình, cách gieo vần và một số biện pháp tu từ thường
gặp.
Bước 3: Chỉ rõ nội dung cơ bản của đoạn thơ.
Dựa trên ba bước cơ bản nêu trên, học sinh sẽ chắp bút viết thành
một đoạn văn cảm thụ có “ mở đoạn”, “ phân tích nội dung” và “ kết đoạn” để
gói lại nội dung cảm thụ. Trong quá trình phân tích học sinh có thể sử dụng theo
ba cách sau đây:
Cách 1: Từ biện pháp nghệ thuật bật ra nội dung.
Cách 2 : Trên cơ sở cảm nhận nội dung đoạn văn, đoạn thơ chỉ ra được
những giá trị nghệ thuật.
Hình ảnh đẹp: Con sông xanh biếc,Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Bước 3: Nội dung cơ bản ( Giá trị nội dung)
* Hình ảnh đẹp:
Hình ảnh con sông xanh biếc có nước trong như mặt gương để hàng tre hàng
ngày soi bóng
Hình ảnh lòng sông lấp loáng phản chiếu ánh nắng trưa hè.
Cảm nhận:
Con sông quê hương có vẻ đẹp thật quyến rũ lòng người.
Tình yêu quê hương tha thiết của tác giả.
* Hướng dẫn học sinh “ Chắp bút “ viết bài văn cảm thụ:
Mỗi người đều có một quê hương để nhớ để thương. Bởi vì quê hương
là nơi chứa đựng bao kỉ niệm thời thơ ấu.
6. Chỉ đạo dự giờ, kiểm tra, đánh giá kết quả:
Trong quá trình thực nghiệm đề tài, tôi đã thường xuyên dự giờ, kiểm tra
kết quả hoạt động của thầy và trò, theo dõi sát sao cụ thể việc đổi mới nội dung
và phương pháp dạy học của giáo viên. Cách tiếp cận và lĩnh hội kiến thức của
học sinh để kịp thời sửa chữa, uốn nắn khắc phục. Giúp giáo viên có giờ dạy đạt
hiệu quả cao. Giúp học sinh nắm chắc được cách thức viết bài văn cảm thụ đạt
kết quả tốt.
7. Kết quả sau thực nghiệm:
Sau khi áp dụng một số giải pháp chỉ đạo cho giáo viên và học sinh, chất
lượng học văn cụ thể là phần “ Cảm thụ văn học” được nâng cao. Việc đổi mới
phương pháp dạy học gây được hứng thú học tập, tư duy, sáng tạo được phát
triển, các em được rèn luyện, được tự học, tự khám phá trong kho tàng văn học
Việt Nam.
Kết quả:
Sau thời gian thực nghiệm, kết quả đạt được của học sinh khối lớp 5
Trường tiểu học Đốc Tín tiến bộ rõ rệt, số học sinh đạt điểm giỏi và điểm khá
tăng lên so với kết quả đầu năm học như sau:
Lớp
Khuyến khích giáo viên viết sách tham khảo về bồi dưỡng học sinh học
môn Tiếng Việt, đặc biệt là phần “Cảm thụ văn học” để giáo viên có nhiều điều
kiện trao đổi học hỏi.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
24
MỤC LỤC
UBND HUYỆN MỸ ĐỨC 1
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MỸ ĐỨC 1
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO QUẬN HOÀNG MAI 1
1
*************** 1
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 2
1.Lý do chọn đề tài 2
2.1.1.Cơ sở lý luận: 2
1.2. Cơ sở thực tiễn 2
3.Mục đích nghiên cứu đề tài 3
4.Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
3.1. Khách thể nghiên cứu 3
3.2.Đối tượng nghiên cứu 3
5.Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6.Giới hạn của đề tài 3
7.Các phương pháp nghiên cứu 4
8.Cơ sở lý luận 4
PHẦN 2: NỘI DUNG 5
1. Thực trạng ban đầu 5
1.1.Về phía học sinh: 5
1.2. Về phía giáo viên: 5
1.3. Về phía công tác chỉ đạo: 5
1.5.Nguyên nhân của thực trạng 5
1.Các giải pháp thực hiện 6