Phần thứ nhất: ĐẶT VẤN ĐỀ
Để nâng cao chất lượng dạy học ngữ văn trong nhà trường phổ
thông, góp phần đổi mới phương pháp dạy học, việc sử dụng phương tiện
hỗ trợ dạy học là vô cùng cần thiết.
Môn ngữ văn là một môn học có vai trò quan trọng trong nhà trường
phổ thông. Nó không chỉ quyết định đến việc đánh giá, xếp loại học sinh, là
một môn chính trong các môn thi tốt nghiệp THPT, là một môn trong một
số khối thi của các trường đại học, cao đẳng, trung cấp mà quan trọng hơn,
môn văn có ảnh hưởng lớn tới việc hình thành nhân cách của học sinh.
Vài năm trở lại đây, việc dạy học môn ngữ văn đang trở thành một
vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt cần được xã hội quan tâm. Vì trên thực
tế, đa số học sinh hiện nay rất ít quan tâm đến môn ngữ văn, các môn khối
c, các em đều chọn các môn tự nhiên để làm con đường lập thân của mình,
có nhiều trường để chọn, sau này có nhiều ngành nghề dễ xin việc làm,
lương cao. Thực tế trên đến năm 2011 đã trở nên đến mức báo động vì
nhiều trường đại học không đủ chỉ tiêu thí sinh đăng kí khối c, nhiều trường
THPT tất cả vài trăm học sinh nhưng chỉ có ít học sinh đăng kí thi khối c.
Có nhiều học sinh ( có cả sự định của gia đình), nếu không thi đỗ đại học
thì học trung cấp chứ không thi khối c, nhiều học sinh không có khả năng
học khối a nhưng các bậc phụ huynh cứ ép con em mình học.
Hiện tượng trên khá phổ biến, có lẽ không chỉ ở trường tôi mà trở
thành hiện tượng chung trong nhà trường phổ thông. Nhiều học sinh hầu
như không học văn, nhiều tiết dạy học văn trôi đi trong mệt mỏi, chán nản
cho cả cô và trò. Trong khi đó, môn văn lại có vai trò vô cùng quan trọng
trong việc bồi dưỡng tâm hồn và nhân cách cho con người, việc đổi mới
chương trình ngữ văn THPT lại chú ý đào tạo toàn diện kĩ năng cho con
người.
Đứng trước tình hình đó, đổi mới phương pháp dạy học để nâng cao
chất lượng dạy học đang là một vấn đề được các cấp lãnh đạo, nhà trường
1
và các giáo viên quan tâm. Vấn đề này cũng được triển khai trong các đợt
2.1.1. Cơ sở lí luận.
- Khái niệm về phương tiện dạy học:
Phương tiện dạy học là các phương tiện được sử dụng trong quá trình
dạy học, bao gồm các đồ dùng dạy học, các trang thiết bị kỹ thuật dùng
trong dạy học, các thiết bị hỗ trợ và các điều kiện cơ sở vật chất khác.
Phương tiện dạy học gồm nhiều loại: tranh ảnh, sơ đồ, bảng biểu. Tuy
nhiên, phương tiện dạy học mà bản thân tôi đã sử dụng nhiều và có kết quả
nhất là sơ đồ, bảng biểu. Tôi thấy, phương tiện này rất phù hợp trong một
số nội dung của môn ngữ văn.
- Vai trò của việc sử dụng phương tiện hỗ trợ dạy học trong dạy học
ngữ văn: Sử dụng các phương tiện hỗ trợ dạy học trong các môn học nói
chung và môn ngữ văn nói riêng mang lại rất nhiều hiệu quả to lớn. Không
những làm cho bài học sinh động, thu hút sự chú ý của học sinh, mà còn
củng cố, khắc sâu được kiến thức trọng tâm, góp phần nâng cao chất lượng
dạy học ngữ văn trong nhà trường phổ thông.
2.1.2. Cơ sở thực tiễn.
Trong một vài năm trở lại đây, nhiều đồng chí giáo viên đã thực sự
tâm huyết, nỗ nực tìm tòi, đổi mới phương pháp dạy học để có thể nâng cao
chất lượng dạy học ngữ văn, thu hút các em học sinh đến với môn học.
Cũng như các môn học khác, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học
ngữ văn đang được nhiều đồng chí giáo viên quan tâm vì nó đã đem lại
những hiệu quả đáng kể. Rất nhiều tiết học đã đạt được hiệu quả to lớn vì
phát huy được ưu thế của công nghệ thông tin, sử dụng được hình ảnh, âm
thanh không thể diễn đạt được bằng phương pháp thông thường, sử dụng
được hệ thống bảng biểu, sơ đồ, nhấn mạnh trọng tâm kiến thức bằng kênh
chữ kiểu chữ… Ví dụ các bài “ bản tin”, “ phỏng vấn và trả lời phỏng vấn”,
“ Viết quảng cáo”, “ Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt”…
3
Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm nêu trên, dạy học bằng công nghệ
thông tin còn tồn tại rất nhiều hạn chế. Môn ngữ văn là môn nghệ thuật
Trường tôi là một trường huyện, cơ sở vật chất còn nghèo, cả trường
chỉ có một máy chiếu có thời gian còn bị hỏng, đa số học sinh là con em
dân tộc Mường, nhận thức ở mức trung bình, nhiều em yếu. Vì vậy không
có điều kiện để chuẩn bị nhiều tiết dạy học bằng CNTT, tôi đã cố gắng
chuẩn bị một số phượng tiện hỗ trợ trong quá trình dạy học ngữ văn của
mình để việc dạy học đạt hiệu quả cao hơn. Từ thực tế dạy học của bản
thân, tôi nhận thấy, đó là những phương tiện đơn giản nhưng rất hiệu quả
trong việc củng cố, khắc sâu kiến thức, phù hợp với đặc trưng bộ môn, phù
hợp với cơ sở vật chất của nhà trường và trình độ nhận thức của học sinh.
Trên thực tế, nhiều đồng chí giáo viên đã sử dụng các phương tiện hỗ
trợ như bảng biểu, sơ đồ, tranh ảnh trong dạy học ngữ văn. Tuy nhiên, việc
sử dụng còn tuỳ hứng và áp dụng chưa thường xuyên nên chưa đạt được
hiệu quả tối ưu. Trong phạm vi của sáng kiến, tôi xin trình bày việc sử
dụng bảng biểu, sơ đồ trong một số tiết học hoặc một số nội dung của môn
học mà bản thân đã có điều kiện sử dụng trong quá trình dạy học.
2.2. Việc sử dụng phương tiện hỗ trợ dạy học trong môn ngữ văn .
2.2.1. Mục đích.
Như tôi đã trình bày, trong phạm vi của sáng kiến, tôi xin trình bày
việc sử dụng bảng biểu, sơ đồ trong dạy học ngữ văn. Mục đích của việc sử
dụng các bảng biểu, sơ đồ này là để hệ thống kiến thức của một tác phẩm,
một giai đoạn hoặc một nội dung nào đó của bài học…Giúp cho việc lĩnh
hội kiến thức của các em học sinh dễ dàng hơn, khắc sâu kiến thức hơn và
tạo hứng thú để thu hút các em yêu thích môn học hơn, nhằm nâng cao chất
lượng dạy học.
5
2.2.2. Phương pháp sử dụng phương tiện hỗ trợ dạy học trong dạy
học ngữ văn.
Môn văn nhìn chung là kiến thức dài, cô giáo phải nói nhiều, có
nhiều phần kiến thức trong một bài học mà học sinh ít em có khả năng nhớ
trẻ”- Thạch Lam; “ Vợ chồng A Phủ”- Tô Hoài; “ Vợ nhặt”- Kim Lân, “
Chiếc thuyền ngoài xa”- Nguyễn Minh Châu. Tôi đã hướng dẫn học sinh
lập sơ đồ từ biểu hiện chung của giá trị nhân đạo trong tác phẩm văn học
nắm được biểu hiện giá trị nhân đạo trong từng tác phẩm và nhìn vào sơ đồ
có thể thấy khám phá riêng của mỗi nhà văn cùng thời hoặc khác thời. Như
vậy là có thể khắc sâu kiến thức cho các em. Hoặc đề phân tích nhân vật,
có thể làm sơ đồ triển khai các ý cơ bản khi phân tích nhân vật, và từ các ý
đó phân tích các nhân vật hay ra đề thi tốt nghiệp và đại học và cao đẳng.
Triển khai các ý đó vào bài viết sẽ không bị thiếu ý, trình bày lại đảm bảo
tính khoa học, lôgic. Đặc biệt, ở các nhân vật hay ra đề thi so sánh với nhau
thì nhìn vào sơ đồ sẽ thấy điểm chung, riêng rất rõ ràng.
2.3. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
2.3.1. Kết quả định lượng.
Sáng kiến là những băn khoăn trăn trở của tôi trong quá trình dạy học của
bản thân. Tôi đã có điều kiện để áp dụng sáng kiến của mình trong quá trình
dạy học và thấy rõ được ưu điểm của nó. Những phương tiện dạy học đơn
giản nhưng lại có hiệu quả đối với giờ dạy. Đặc biệt, tôi thấy rõ sự phù hợp
của những phương tiện đó đối với cơ sở vật chất của nhà trường, chưa có
điều kiện để có thể áp dụng nhiều tiết dạy học bằng công nghệ thông tin.
Tôi đã dùng bảng biểu, sơ đồ trong phần tóm tắt cốt truyện, hoặc thể hiện
một nội dung nào đó như tình huống truyện, giá trị tư tưởng, của một số tác
phẩm văn xuôi trong trường học như “ Chí Phèo”- Nam Cao ( Xem phụ lục
1), “ Chiếc thuyền ngoài xa”- Nguyễn Minh Châu ( Xem phụ lục 2); “ Vợ
nhặt”- Kim Lân ( Xem phụ lục 3); “ Chữ người tử tù”- Nguyễn Tuân ( Xem
phụ lục 4), chân lí thời đại trong “ Rừng xà nu”- Nguyễn Trung Thành
( Xem phụ lục 5). Tiết học không có đồng nghiệp dự giờ để được nghe
những ý kiến đóng góp khách quan hơn nhưng tôi nhận thấy hiệu quả rõ rệt
7
qua thái độ tiếp thu bài học của học sinh và mức độ nắm kiến thức của các
em. Có thể so sánh với tiết dạy tương tự của đồng nghiệp bằng công nghệ
thể ra đề so sánh và cách làm bài, tôi dùng bảng so sánh hai nhân vật Tnú
trong “ Rừng xà nu”- Nguyễn trung Thành và nhân vật Việt trong “ Những
đứa con trong gia đình” để hướng dẫn các em cách tìm ý.( Xem phụ lục 10)
Tôi kiểm tra kiến thức của các em qua bài viết thì thấy cách trình bày ý
đã tiến bộ rõ rệt. Nhiều bài viết thể hiện ý khá mạch lạc, rõ ràng không còn
gượng ép nữa. Ngay cả những học sinh trung bình cũng nhớ và thể hiện
được hệ thống ý trong bài viết. Từ hiệu quả đạt được đó, tôi có lòng tin vào
sáng kiến của mình và suy nghĩ để có thể áp dụng nhiều hơn vào quá trình
dạy học của bản thân và của nhiều đồng nghiệp.
2.3.2. Kết quả định tính.
Sau khi áp dụng sáng kiến trong quá trình dạy học, tôi nhận thấy sáng
kiến đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Thu hút và tạo hứng thú cho học sinh đối với
môn học, để giờ học văn với các em không còn quá nặng nề trong việc lĩnh
hội kiến thức. Sáng kiến cũng đã đem lại hiệu quả trong việc nâng cao chất
lượng dạy học. Kết quả cụ thể như sau:
Tổng số học
sinh
Điểm giỏi Điểm khá
Điểm trung
bình
Điểm yếu
Điểm
kém
74 04 15 21 30 04
*Kết quả kiểm tra đầu năm hai lớp 12B, 12E.* Kết quả kiểm tra cuối năm lớp 12B, 12E
Tổng số học
sinh
dạy học đơn giản nhưng rất hiệu quả trong việc khắc sâu trọng tâm kiến
thức cho học sinh, tạo hứng thú cho các em trong giờ học văn, để giờ
học văn vừa tạo điều kiện cho cá em tư duy, thể hiện khả năng sáng tạo
của mình nhưng cũng không căng thẳng, mệt mỏi.
3.2. Ý kiến đề xuất.
- Để áp dụng thường xuyên hơn nữa, có hiệu quả hơn nữa sáng kiến
trong quá trình dạy học ngữ văn, tôi xin đề nghị ban giám hiệu nhà
trường sẽ tạo điều kiện giúp đỡ về cơ sở vật chất để tôi có thể làm các
phương tiện dạy học nói trên bằng vải bạt, in trên khổ giấy A0 để có thể
sử dụng được lâu dài, sử dụng rộng rãi ở nhiều lớp học để phát huy hơn
nữa hiệu quả của nó.
- Tôi cũng kính mong các đồng chí giáo viên trong tổ chuyên môn,
các đồng nghiệp, các giáo viên tâm huyết có cùng ý tưởng sẽ đóng góp
ý kiến để sáng kiến của tôi hoàn thiện hơn. Đặc biệt là các đồng chí giáo
viên trong nhóm sẽ cùng trao đổi để có thể thiết kế được một bộ đồ
dùng dạy học của bộ môn khoa học, lôgic phục vụ tốt nhất cho công
11
việc giảng dạy. Bởi vì, những bảng biểu, sơ đồ trên chỉ là ý kiến của
riêng cá nhân tôi không tránh khỏi những thiếu xót, chưa hợp lí.
- Đối với học sinh, trong quá trình áp dụng sáng kiến, tôi rất mong
nhận được sự hợp tác tực giác, tích cực của học sinh để có thể phát huy
hiệu quả tốt nhất, nhằm nâng cao chất lượng dạy học ngữ văn trong nhà
trường phổ thông.
PHẦN PHỤ LỤC
12
Phụ lục 1: Sơ đồ thể hiện quá tình tha hoá và quá trình thức tình của
nhân vật Chí Phèo tong tác phẩm “ Chí Phèo” của Nam Cao.
Phụ lục 2 : Sơ đồ thể hiện tình huống nhận thức tong tác phẩm
“ chiếc thuyền ngoài xa” cảu Nguyễn Minh Châu.
Phụ lục 3 : Sơ đồ thể hiện giá trị tư tưởng của truyện ngắn “ vợ Nhặt”-
Chiếc thuyền ngoài xa
Vẻ đẹp toàn thiện toàn
bích
Thái độ:Rung
cảm thực sự
Cảnh người đàn ông đánh vợ tàn
bạo
Lão đàn ông đánh vợ dã
man
Người vợ cam chịu nhẫn
nhục
Thái độ: kinh ngạc,
sững sờ
15
Người nghệ sỹ cần
có tấm lòng trăn
trở về con người và
cuộc đời.
Câu chuyện của người đàn bà ở toà án huyện. Phát
hiện vẻ đẹp tâm hồn của người đàn bà
-Đẩu nhận thức được
nghịch lý cảu đời
sống.Muốn giúp con
người: thoát khỏi tối
tăm, tàn bạo cần có
giải pháp thiết thực:
thoát nghèo.
-Phùng thấy mình đã
đơn giản khi nhìn
nhận mọi việc.
“VỢ NHẶT”- KIM LÂN.
16
NẠN ĐÓI
1945
Giá trị hiện thực Giá trị nhân đạo
Tình huống độc đáo: “Nhặt Vợ”
Bức tranh
cảnh đói
khát
Con
người
năm đói
Tố cáo chính
sách cai trị
của TDPK
phát xít
Ca ngợi con
người: yêu
thương, đùm
bọc nhau,tin
Kết thúc vào buổi sáng đầy ánh
nắng, không khí gia đình hoà thuận
Bà cụ Tứ:
nuôi gà
Người vợ nhặt: Ở Bắc
Giang,Thái Nguyên
không đóng thuế, đi
cướp kho thóc của Nhật
chia cho người nghèo.
Tràng: Hình
1945 đến 1975.
- Chế độ phong kiến - Thực dân Pháp - 1945 Cách mạng
18
Chặng 1: Kẻ thù
cầm súng, Xôman
chưa cầm giáo mác
CUỘC ĐẤU TRANH GIỮA DÂN LÀNG XÔMAN VÀ MĨ
NGUỴ
Chặng 2: Kẻ thù
cầm súng, Xôman
cầm giáo mác
Hình ảnh đôi bàn
tay của Tnú
Kẻ thù
thẳng
tay đàn
áp,
khủng
bố tàn
bao
Xôman
đau
thương:
anh Xút
bị treo
cổ, bà
Nhan bị
chặt
đầu, mẹ
con Mai
Khi
mang
thương
tích,
cầm vũ
khí: đi
lực
lượng,
tiêu diệt
kẻ thù
Hoàn cảnh
lịch sử, xã
hội
hình thành và phát
triển. Dần dần xuất
hiện mâu thuẫn,
khủng hoảng và sụp
đổ.
- Thực dân Pháp
xâm lược, nước ta
chuyển dần sang
chế độ thực dân nửa
phong kiến
tiến hành khai thác
thuộc địa, xã hội
Việt Nam có
những biến đổi
sâu sắc, đô thị
mọc lên, nhiều
tầng lớp mới xuất
- Nội dung: + Yêu
nước. + Nhân đạo.
+ Cảm hứng thế sự.
- Nghệ thuật:
+ Tính quy phạm và
việc phá vỡ tính quy
phạm.
+ Khuynh hướng
trang nhã và xu
hướng bình dị.
+ Tiếp thu và dân
tọc hoá tinh hoa văn
hoá nước ngoài.
+ Văn học đổi mới
theo hướng hiện
đại hoá.
+ Văn học hình
thành hai bộ phận
và phân hoá thành
nhiều xu hướng
phức tạp.
+ Văn học phát
triển với một tốc
độ hết sức mau lẹ.
+ Nền văn học
chủ yếu vận động
theo hướng cách
mạng hoá, gắn bó
sâu sắc với vận
mệnh chung của
DẠNG
NGHỊ
LUẬN
CÁCH LÀM BÀI
Đặt
vấn đề
Giải quyết vấn đề Kết thúc
vấn đề
Bước 1 Bước 2 Bước 3 Bước 4
19
Nghị
luận về
một tư
tưởng
đạo lí
Giới
thiệu
vấn đề
nghị
luận,
trích
dẫn
câu
nói…
Giải
thích rõ
nội dung
tư tưởng,
đạo lí
(Từ ngữ,
đời sống
Giới
thiệu
hiện
tượng
cần
nghị
luận
Nêu rõ
hiện
tượng
Phân
tích mặt
đúng
sai, lợi
hại của
vấn
đề( Thự
c trạng)
Chỉ
nguyên
nhân,
giải
pháp
Bày tỏ
thái độ,
ý kiến
của bản
thân về
hiện
tác
phẩm
Làm rõ
vấn đề
xã hội
được đề
cập
trong tác
phẩm
văn học
Làm rõ
vấn đề
trong
thực tế
xã hội:
+ Giải
thích
khái
niệm, rút
ra vấn đề
nghị
luận.
+ Phân
tích,
chứng
minh,
bình
luận, làm
rõ tính
đúng sai.
Minh Châu
Lòng
thương,
cảm
thông sâu
sắc với số
phận bất
hạnh của
nhân vật
Cảm thông
sâu sắc với
số phận
bất hạnh
của Chí
Phèo, Thị
Nở
Cuộc sống
tù túng,
quẩn
quanh, lặp
đi lặp lại
của người
dân ở phố
huyện
nghèo:
Liên,
An…
Cuộc sống
khổ cực
của người
chài)
Tố cáo
các thế
lực trà
đạp lên
hạnh
phúc của
con
người.
Tố cáo chế
độ phong
kiến bất
công, định
kiến xã
hội hẹp
hòi.( Bá
Kiến, bà
cô)
Xã hội
ngột ngạt,
tăm tối
Ách áp
bức tàn
bạo của
thực dân,
phong
kiến( cha
con thống
lí Pá tra)
Chính sách
khát khao
hạnh phúc
của Mị, A
Phủ
Những con
người dù
cận kề cái
chết vẫn yêu
thương, cưu
mang nhau,
hy vọng vào
tương lai
tươi sáng.
Người đàn
bà với bao
phẩm chất
tốt đẹp:
nhân hậu,
bao dung,
chịu đựng vì
con cái, chắt
chiu hạnh
phúc bình dị
Nêu khát
vọng chân
chính.
Khát vọng
sống
lương
thiện
một ngôi nhà dúm dó,
xiêu vẹo
Cô gái miền núi,
nhà nghèo, sống
cùng cha và các
em, mẹ đã mất
- Vốn sinh ra trong
một gia đình khá giả
nhưng xấu xí không
ai lấy, chị đành lấy
người trai hàng chài,
sau chuyển xuống
thuyền sinh sống
luôn.
Ngoại hình Xấu xí, thô kệch Xinh đẹp, có
nhiều người yêu
Xấu xí, thân hình
cao lớn với những
đường nét thô kệch,
nửa thân dưới ướt
sũng, khuôn mặt mệt
mỏi vì thức kéo lưới
suốt đêm
Tính cách,
phẩm
chất( diễn
biến tâm
trạng)
- Tấm lòng nhân hậu:
yêu quý lũ trẻ. Cưu
Phân tích nhân
- Sau vẻ ngoài xấu
xí thô kệch là bao vẻ
đẹp tâm hồn khiến
nhiều người ngạc
nhiên:
+ Cam chịu nhẫn
nhịn.
+ Giàu lòng tự
trọng.
+ Hy sinh vì các
con. Thấu hiểu lẽ
đời.
+ Cảm thông với
chồng.
+ Chắt chiu hạnh
phúc bình dị, đời
thường.
trong tác phẩm tự sự
22
ĐIỂM CHUNG
TNÚ ( RỪNG XÀ NU-
NGUYỄN TRUNG
THÀNH)
VIỆT ( NHỮNG ĐỨA
CON TRONG GIA ĐÌNH-
NGUYỄN THI)
Đều là những
người con sinh ra
từ truyền thống bất
ngón tay bằng giẻ tẩm nhựa
xà nu.
- Việt chứng kiến cái chết
của ba má. Bản thân bị
thương, lạc đồng đội, toàn
thân đau nhức, mắt không
nhìn thấy gì…
Đều có tình cảm
yêu thương, gắn bó
với gia đình, quê
hương.
- Yêu làng Xôman bằng
tình cảm ruột thịt, xa thì
nhớ, chỉ được nghỉ một
ngày cũng lặn lội về thăm.
- Yêu vợ con chân thành,
thắm thiết. Không có vũ khí
cũng xông ra cứu vợ con.
- Yêu thương, gắn bó với
gia đình: kỉ niệm về má,
chú Năm
- Thương yêu và sống gắn
bó, hoà thuận với chị
Chiến:
+ Thấy chị giống má.
+ Thương bước chân bịch
bịch của chị.
+ Giấu chị không cho ai
biết.
Đều mang phẩm
Hội đồng khoa học nhà trường Hội đồng khoa học
Sở GD & ĐT Hoà Bình
24