CHUYÊN ĐỂ TỐT NGHIỆP
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, khi nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp diễn ra gay gắt hơn bao giờ hết. Đối với một doanh
nghiệp ngoài quốc doanh có quy mô vừa và nhỏ thì việc duy trì hoạt động và
kinh doanh có lãi là vô cùng khó khăn.
Thực tế cho thấy các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, kém hiệu quả là do
không tìm được đầu ra hay còn hạn chế trong việc tìm kiếm thị trường tiêu
thụ sản phẩm. Yếu kém trong việc tiêu thụ sản phẩm không những ảnh hưởng
tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà còn làm gián đoạn quá trình
lưu thông hàng hóa, ảnh hưởng tới việc sản xuất hàng hóa, kìm hãm sự phát
triển kinh tế đất nước.
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt đó, công ty Cổ phần Fumak liên
doanh Việt Nam – Nhật Bản cũng gặp rất nhiều khó khăn để tồn tại và phát
triển. Tuy hàng năm doanh thu của công ty vẫn tăng với tỷ lệ khá nhưng vẫn
còn một số hạn chế trong việc tiêu thụ sản phẩm. Đây là khâu cuối cùng của
chu kỳ sản xuất kinh doanh và là khâu giúp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của công ty, giúp công ty có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế thị
trường.
Vậy làm thế nào để đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm? Đây là câu hỏi
đặt ra cho các nhà quản trị công ty cũng như sinh viên. Do đó trong thời gian
thực tập tại công ty, em đã chọn đề tài:
“Biện pháp đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm tại công ty Cổ phần
Fumak liên doanh Việt Nam – Nhật Bản” làm đề tài chuyên đề thực tập.
Em hy vọng với đề tài này sẽ đóng góp một phần công sức nhỏ bé vào
việc thúc đẩy công tác tiêu thụ sản phẩm của Công ty và giải đáp thắc mắc
bấy lâu nay của mình.
Sinh viên : Phạm Thị Hải Ngọc
Lớp : TN3T2
1
CHUYÊN ĐỂ TỐT NGHIỆP
chu chuyển vốn trong doanh nghiệp và chu chuyển tiền tệ trong xã hội, đảm
bảo phục vụ cho nhu cầu xã hội.
1.1.2. Vai trò của hoạt động tiêu thụ sản phẩm
1.1.2.1.Đối với doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp, việc tiêu thụ hàng hóa đóng vai trò quan
trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Bởi vì nhờ tiêu thụ
sản phẩm hàng hóa, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mới
Sinh viên : Phạm Thị Hải Ngọc
Lớp : TN3T2
3
CHUYÊN ĐỂ TỐT NGHIỆP
diễn ra thường xuyên liên tục, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa giúp doanh nghiệp
bù đắp được những chi phí, có lợi nhuận, đảm bảo cho quá trình sản xuất và
tái sản xuất mở rộng.
Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là điều kiện để thực hiện các mục tiêu của
doanh nghiệp, đặc biệt tập trung vào mục tiêu giảm chi phí và tăng lợi nhuận.
Bởi khi khối lượng hàng hóa tiêu thụ tăng lên thì chi phí bình quân của một
đơn vị sản phẩm giảm đi, từ đó làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Tiêu thụ hàng hóa làm tăng uy tín của doanh nghiệp cũng như làm tăng
thị phần của doanh nghiệp trên thị trường. Bởi vì khi sản phẩm của doanh
nghiệp được tiêu thụ, tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận để thỏa
mãn một nhu cầu nào đó. Sức tiêu thụ hàng hóa của doanh nghiệp thể hiện
mức bán ra, sự thích ứng với nhu cầu người tiêu dùng và khối lượng hàng hóa
tiêu thụ càng tăng thì thị phần của doanh nghiệp càng cao.
Thông qua tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp sẽ xây dựng được các
kế hoạch kinh doanh phù hợp, đạt hiệu quả cao do họ dự đoán được nhu cầu
xã hội trong thời gian tiếp theo.
Tiêu thụ sản phẩm hàng hóa là hoạt động thực tiễn sản phẩm được vận
động từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng. Đặc điểm lớn nhất của sản phẩm ở
mỗi doanh nghiệp là nó được sản xuất ra và đem đi bán nhằm thực hiện các
1.1.2.2. Đối với xã hội
Về phương diện xã hội thì tiêu thụ sản phẩm hàng hóa có vai trò quan
trọng trong việc cân đối giữa cung và cầu, vì nền kinh tế là một thể thống nhất
với những cân bằng, những tương quan tỷ lệ nhất định. Sản phẩm hàng hóa
được tiêu thụ tạo điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra bình
thường, trôi chảy, tránh được sự mất cân đối, giữ được bình ổn trong xã hội.
Sinh viên : Phạm Thị Hải Ngọc
Lớp : TN3T2
5
CHUYÊN ĐỂ TỐT NGHIỆP
1.2. Nội dung của công tác tiêu thụ sản phẩm
1.2.1. Nghiên cứu thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thị trường là nơi mà người mua và người bán tác động qua lại lẫn nhau
để xác định giá cả và lượng hàng mua bán. Như vậy, thị trường là tổng thể các
quan hệ về lưu thông tiền tệ, các giao dịch mua bán và dịch vụ.
Để thành công trên thương trường đòi hỏi bất kỳ một doanh nghiệp nào
cũng phải thực hiện công tác nghiên cứu, thăm dò và thâm nhập thị trường
nhằm mục tiêu nhận biết và đánh giá khái quát khả năng thâm nhập vào thị
trường của doanh nghiệp mình để từ đó đưa ra định hướng cụ thể để thâm
nhập thị trường, chiếm lĩnh thị trường nhanh chóng. Việc nghiên cứu thị
trường tạo điều kiện cho các sản phẩm của doanh nghiệp xâm nhập và thích
ứng với thị trường và làm tăng sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường đó
Quá trình nghiên cứu thị trường được thực hiện qua 3 bước:
Bước 1: Thu thập thông tin
Bước 2: Xử lý thông tin
Bước 3: Ra quyết định
1.2.2. Lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
1.2.2.1. Vai trò của việc lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm
Xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là cơ sở đảm bảo cho sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách bình thường, liên tục theo
Kênh 1: Đây là hình thức tiêu thụ trực tiếp, người tiêu dùng mua sản
phẩm trực tiếp thông qua cửa hàng giới thiệu sản phẩm.
Sinh viên : Phạm Thị Hải Ngọc
Lớp : TN3T2
7
CHUYÊN ĐỂ TỐT NGHIỆP
Hệ thống kênh phân phối sản phẩm:
Kênh 2: Quá trình tiêu thụ sản phẩm đi qua một khâu trung gian là
người bán lẻ, trung gian này trực tiếp bán sản phẩm cho người tiêu dùng, đây
chính là bộ phận đóng góp quan trọng cho việc quảng bá sản phẩm, tạo điều
kiện thuận lợi cho hành vi mua của khách hàng và thỏa mãn nhu cầu của
khách hàng một cách nhanh nhất.
Kênh 3: Kênh tiêu thụ này có hai khâu trung gian là người bán buôn và
người bán lẻ
Kênh 4: Kênh này bao gồm 2 khâu trung gian là đại lý và người bán lẻ,
trong cơ chế thị trường hiện nay thì có 2 loại đại lý là đại lý tư nhân và đại lý
quốc doanh.
Kênh 5: Đây là kênh tiêu thụ mà doanh nghiệp khó quản lý và khó theo
dõi nhất. Trong kênh 5, có 3 khâu trung gian là đại lý, người bán buôn và
người bán lẻ.
Sinh viên : Phạm Thị Hải Ngọc
Lớp : TN3T2
Người
tiêu
dùng
Kênh 1
Kênh 2
Kênh 3
Kênh 4
Kênh 5
Yêu cầu tên cơ sở phải rõ ràng, đẹp, viết bằng chữ lớn đảm bảo cho
người qua đường bằng phương tiện cơ giới có thể nhìn thấy được và đặt chính
giữa lối vào cửa chính cơ quan.
b. Tủ kính quảng cáo
Sinh viên : Phạm Thị Hải Ngọc
Lớp : TN3T2
9
CHUYÊN ĐỂ TỐT NGHIỆP
Là hình thức quảng cáo chính và phổ biến của hệ thống cửa hàng giới
thiệu sản phẩm. Tủ kính có nhiều loại: tủ kính cửa sổ, tủ kính giữa gian… mỗi
loại phù hợp với một vị trí và có tác dụng riêng.
c. Bày hàng ở nơi bán hàng
Là hình thức quảng cáo phổ biến trong mọi loại hình thương nghiệp có
quy mô cơ cấu mặt hàng và địa điểm doanh nghiệp khác nhau. Nó thích hợp
cho cả mạng lưới thương nghiệp bán buôn và bán lẻ.
d. Quảng cáo thông qua người bán hàng
Thông báo cho khách hàng bằng miệng và bằng chữ về hàng hóa, nội
quy bán hàng, phương thức bán và phương thức thanh toán… Người bán hàng
phải có kiến thức về hàng hóa, biết nghệ thuật chào hàng, biết trình bày sản
phẩm và những kiến thức cần thiết khác về thị trường hàng hóa.
1.2.5.3. Các hoạt động hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm khác
a. Tổ chức hội nghị khách hàng, hội thảo chuyên đề, mời ăn, tặng quà
với mục đích xây dựng mối quan hệ cộng đồng, mối quan hệ thân thiện giữa
doanh nghiệp và khách hàng, gây lòng tin cho khách hàng đối với doanh
nghiệp.
b. Chiêu hàng
c. Chào hàng
d. Hội chợ triển lãm nhằm giới thiệu sản phẩm hàng hóa của doanh
nghiệp với khách hàng và công chúng
e. Xúc tiến bán hàng: là tập hợp các biện pháp có thể làm tăng lượng
phải đặt mình vào vị trí của người đối thoại để tìm hiểu nhu cầu khách hàng.
Sau khi đã nắm bắt nhu cầu của người mua, người bán bằng những luận
chứng của mình, phải làm cho khách hàng tin và thấy có lợi khi quyết định
mua hàng.
Sinh viên : Phạm Thị Hải Ngọc
Lớp : TN3T2
11
CHUYÊN ĐỂ TỐT NGHIỆP
Để bán được hàng, trong khoảnh khắc, người bán hàng phải căn cứ vào
kinh nghiệm của bản thân để phá tan hoài nghi của khách hàng. Cách kết thúc
bán hàng là “thắng – thắng”, trên nguyên tắc là phải làm vui lòng khách hàng
đến, vừa lòng khách hàng đi, tạo những ấn tượng tốt cho những lần sau.
Bán hàng sẽ kết thúc bằng hành vi tiền trao cháo múc, nếu nó là bán lẻ
ở cửa hàng hay siêu thị hoặc một bản hợp đồng.
Quản lý việc bán hàng là việc người bán hàng đi đến xử lý đơn đặt hàng
qua các bộ phận của doanh nghiệp.
Giai đoạn cuối cùng của bán hàng là giao hàng cho khách hàng, người
bán hàng phải đảm bảo tuân thủ thời gian giao hàng và kiểm tra nghiệp vụ về
sự hoàn tất hàng hóa được giao.
Nghiệp vụ giao hàng phải thực hiện song song với nghiệp vụ thanh toán
thông thường. Nên giao cho người bán hàng theo dõi việc thanh toán của
người mua.
Các dịch vụ sau bán có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, tạo chữ tiến bền
vững cho doanh nghiệp. Người bán hàng cần phải đảm bảo cho người mua
hưởng đầy đủ quyền lợi của họ. Đối với những mặt hàng sử dụng lâu bền yêu
cầu kỹ thuật cao cần có những dịch vụ như: giao hàng tận nơi, lắp đặt, vận
hành chạy thử, bảo dưỡng định kỳ và bảo hành trong thời gian nhất định.
1.2.7. Phân tích và đánh giá kết quả tiêu thụ
Phân tích và đánh giá kết quả tiêu thụ sản phẩm là xem xét, đánh giá sự
biến động về khối lượng sản phẩm tiêu thụ xét ở toàn bộ doanh nghiệp và
Tóm lại, các nguyên nhân thuộc về Nhà nước luôn thay đổi và không
ổn định, do việc Nhà nước áp dụng các chính sách một cách linh hoạt để đảm
bảo thích ứng với các tình hình thay đổi diễn ra trên thị trường, do vậy, các
Sinh viên : Phạm Thị Hải Ngọc
Lớp : TN3T2
13
CHUYÊN ĐỂ TỐT NGHIỆP
chính sách này thường xuyên ảnh hưởng tới các doanh nghiệp. Chính vì vậy,
các doanh nghiệp phải luôn nắm bắt một cách nhanh chóng các chủ trương,
chính sách của Nhà nước để từ đó có những chính sách thích hợp cho sản
phẩm của mình.
1.3.1.2. Nhóm nhân tố thuộc về kỹ thuật công nghệ
Kỹ thuật công nghệ là yếu tố rất năng động và có ảnh hưởng rất lớn tới
việc tiêu thụ sản phẩm. Sự gia tăng trong nghiên cứu, ứng dụng công nghệ
khoa học vào thực tiễn sản xuất tác động nhanh chóng và sâu sắc đến hai yếu
tố cơ bản tạo nên khả năng cạnh tranh là chất lượng và giá thành của sản
phẩm hàng hóa. Mặt khác ngày càng xuất hiện nhanh chóng công nghệ mới,
nguyên liệu mới, sản phẩm mới đã tác động đến chu kỳ sống của sản phẩm,
chu kỳ kinh doanh, sản phẩm ngày càng được cải tiến về công dụng, chất
lượng, mẫu mã, các sản phẩm thay thế ngày càng nhiều, do đó, các doanh
nghiệp cần quan tâm, phân tích kỹ lưỡng tác động này để ứng dụng ngày càng
tốt hơn.
1.3.1.3. Nhóm nhân tố môi trường ngành
Môi trường ngành bao gồm các yếu tố trong ngành và các yếu tố ngoại
cảnh có tác động quyết định đến tính chất và mức độ cạnh tranh trong ngành.
Môi trường ngành bao gồm:
a. Khách hàng
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khách hàng là nhân tố có ảnh
hưởng quyết định đến tình hình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa. Họ có thể lựa
chọn bất kỳ sản phẩm nào mà họ thích, họ không bị phụ thuộc vào sự hạn chế
15
CHUYÊN ĐỂ TỐT NGHIỆP
nhà cung ứng các yếu tố đầu vào nói trên có ảnh hưởng đến khả năng lựa
chọn tối ưu đầu vào của doanh nghiệp khi xác định và lựa chọn các phương
án kinh doanh. Từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí kinh doanh cũng như
chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ bán hàng cuối cùng.
Khi có sự thay đổi chính sách bán hàng của nhà cung cấp sẽ có sự thay đổi
trong kế hoạch và tiêu thụ của doanh nghiệp. Ví dụ khi giá điện tăng làm giá
thành sản xuất giấy, luyện kim tăng khiến các doanh nghiệp sản xuất các mặt
hàng này gặp nhiều khó khăn trong công tác tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, để
quá trình sản xuất kinh doanh tiến hành thường xuyên liên tục và ổn định,
doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ nhà cung cấp trong mối quan hệ với các yếu
tố khác, hạn chế tới mức thấp nhất sức ép từ các nhà cung cấp, có quan hệ
thường xuyên với các nhà cung cấp chủ yếu, tạo sự cạnh tranh giữa họ, tạo lợi
ích riêng cho doanh nghiệp mình.
1.3.2. Nhóm nhân tố chủ quan
Nhân tố chủ quan là những nhân tố nội tại trong doanh nghiệp có thể
kiểm soát được, bao gồm:
1.3.2.1.Đặc tính sản phẩm mà doanh nghiệp đang sản xuất kinh
doanh
Ngành nghề kinh doanh và đặc tính sản phẩm mà doanh nghiệp kinh
doanh có ảnh hưởng rất lớn tới công tác tiêu thụ sản phẩm. Đặc tính của sản
phẩm quyết định phương thức bảo quản, vận chuyển, cách thức tổ chức kênh
phân phối và liên quan đến đặc tính cầu về sản phẩm. Từ đó quyết định tốc độ
và khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Khi nghiên cứu công tác
tiêu thụ, các yếu tố về đặc tính và ngành nghề kinh doanh cần nghiên cứu là:
Sinh viên : Phạm Thị Hải Ngọc
Lớp : TN3T2
16
CHUYÊN ĐỂ TỐT NGHIỆP
Sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của những khách hàng thường xuyên sử
dụng nước nóng như những người bị bệnh không thể dùng được nước lạnh,
đặc biệt đối với những nhà hàng, khách sạn phục vụ đông người, sản phẩm
máy nước nóng năng lượng mặt trời sẽ là sự lựa chọn tốt nhất giúp hạn chế tối
đa chi phí hoạt động.
1.3.2.2. Các nguồn lực của doanh nghiệp
Những nhân tố thuộc về nguồn lực của doanh nghiệp có ảnh hưởng đến
công tác tiêu thụ bao gồm:
a. Bộ máy lãnh đạo: cơ cấu tổ chức, trình độ, khả năng lãnh đạo…
b. Lao động: trình độ tay nghề của công nhân sản xuất trực tiếp, sự phù
hợp của cơ cấu lao động theo nghề, theo trình độ nghiệp vụ kinh doanh, trình
độ chuyên môn và các kinh nghiệm làm việc.
c. Tài chính: đảm bảo cho chiến lược kinh doanh có tính khả thi
Sinh viên : Phạm Thị Hải Ngọc
Lớp : TN3T2
18
CHUYÊN ĐỂ TỐT NGHIỆP
Các yếu tố trên ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và giá thành sản
phẩm, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, từ đó, giá thành tác động
không nhỏ tới tiêu thụ sản phẩm.
1.3.2.3. Các nhân tố thuộc khâu tổ chức tiêu thụ
Sau khi đáp ứng đầy đủ nhu cầu khách hàng về số lượng và chất lượng,
doanh nghiệp nên chú trọng khâu tổ chức tiêu thụ bởi nó đóng vai trò đẩy
mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm.
Công tác tiêu thụ sản phẩm bao gồm nhiều khâu và nhiều công đoạn
khác nhau từ điều tra, nghiên cứu thị trường, quảng cáo, chào hàng, giới thiệu
sản phẩm đến việc tổ chức mạng lưới tiêu thụ, ký kết các hợp đồng tiêu thụ…
Sinh viên : Phạm Thị Hải Ngọc
Lớp : TN3T2
19
phát triển theo hướng con người là then chốt để phát triển. Từ đó, công ty tạo
ra các sản phẩm có chất lượng ngang tầm thế giới, xây dựng đội ngũ nhân
viên nhiệt tình, chuyên nghiệp để có một dịch vụ đem đến cho khách hàng tốt
nhất.
2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của công ty
2.1.2.1. Chức năng
Công ty Cổ phần Fumak liên doanh Việt Nam – Nhật Bản có các chức
năng sau:
- Chuyên sản xuất các sản phẩm máy nước nóng năng lượng mặt trời,
máy lọc nước RO, thiết bị vệ sinh và các sản phẩm thuộc ngành năng lượng
tái tạo.
- Trực tiếp tiêu thụ sản phẩm theo hình thức phân phối qua các đại lý.
2.1.2.2. Nhiệm vụ
- Kinh doanh đúng nghề đã đăng ký.
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty.
- Thực hiện phân phối lao động một cách hợp lý và theo đúng luật của
Nhà nước ban hành.
- Bảo tồn và phát triển nguồn vốn.
- Phát triển kinh doanh, mở rộng thị trường và đa dạng hóa các chủng
loại sản phẩm.
- Bảo vệ môi trường, giữ vững an ninh, trật tự xã hội, nâng cao đời sống
cho CBCNV.
- Tổ chức mua nguyên liệu đảm bảo chất lượng, tạo ra sản phẩm có chất
lượng tốt, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Sinh viên : Phạm Thị Hải Ngọc
Lớp : TN3T2
21
CHUYÊN ĐỂ TỐT NGHIỆP
- Báo cáo trung thực, đúng thời hạn quy định.
2.1.3. Một số hoạt động kinh doanh của công ty
của công ty và chịu trách nhiệm trước hội đồng thành viên về việc thực hiện
các quyền và nghĩa vụ của mình.
- Bộ phận kinh doanh: có trách nhiệm xây dựng các chiến lược bán
hàng hiệu quả trình giám đốc duyệt, thực hiện các đơn hàng, tìm kiếm nguồn
khách hàng cho công ty…
- Bộ phận kế toán: Có nhiệm vụ giúp giám đốc quản lý công tác tài
chính kế toán của công ty. Tổ chức công tác kế toán, hạch toán của công ty
một cách đầy đủ, kịp thời, xác đáng, đúng với chế độ hiện hành. Theo dõi thu,
chi, hạch toán, luân chuyển và bảo quản chứng từ, thực hiện báo cáo tài chính
tháng, quý, năm.
- Bộ phận sản xuất: Chịu trách nhiệm điều hành sản xuất, kiểm tra chất
lượng sản phẩm.
- Bộ phận nhân sự kiêm văn thư: Soạn thảo các hợp đồng lao động,
quản ký hồ sơ nhân sự… quản lý con dấu, thực hiện nhiệm vụ văn thư, đánh
máy.
2.1.3.2. Đặc điểm về sản xuất kinh doanh
a. Đặc điểm về sản phẩm
Cấu tạo máy năng lượng mặt trời FM02:
1. Bộ phận thu nhiệt - ống hấp thụ nhiệt chân không
- Ống hấp thụ nhiệt được cấu tạo 5 lớp, có khả năng chịu va đập
cao, ngay cả khi có mưa đá.
- Hệ số hấp thụ nhiệt đạt > 95%, độ bền lên đến 13 năm.
2. Bình bảo ôn:
Sinh viên : Phạm Thị Hải Ngọc
Lớp : TN3T2
23
CHUYÊN ĐỂ TỐT NGHIỆP
- Ruột bình: chế tạo bằng INOX SUS 304 2B, có độ dày > 0.4mm,
cao cấp, siêu bền, dùng trong công nghệ thực phẩm, an toàn cho sức khỏe.
- Lớp bảo ôn: được làm từ hợp chất Polyrethane bọt PU cách ly 55
thụ nhiệt tốt nhất trên mọi địa hình. Độ bền lên tới 10 năm.
Sinh viên : Phạm Thị Hải Ngọc
Lớp : TN3T2
24
CHUYÊN ĐỂ TỐT NGHIỆP
Nguyên lý hoạt động:
Hệ thống hoạt động theo nguyên lý đối lưu nhiệt tự nhiên và hiện tượng
hiệu ứng lồng kính, giúp biến đổi quang năng thành nhiệt năng và bẫy nhiệt
để thu giữ nhiệt lượng. Năng lượng mặt trời được hấp thụ tại bề mặt thiết bị
sẽ đun nóng nước, do quá trình đối lưu nhiệt, nước nóng đi lên, nước lạnh đi
xuống. Quá trình này diễn ra liên tục cho đến khi nhiệt độ nước trong bình
bảo ôn đạt nhiệt độ tối đa.
Việc tạo ra nước nóng không phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường
bên ngoài mà phụ thuộc vào lượng bức xạ mặt trời.
Tiện ích sử dụng máy năng lượng mặt trời Fumak:
1. Tiết kiệm chi phí
- Sử dụng máy năng lượng mặt trời Fumk tiết kiệm hiệu quả chi phí
điện, gas, than, dầu, thời gian chờ đợi là rất nhỏ. Đầu tư một lần sử dụng lâu
dài.
2. Thân thiện với môi trường
- Máy năng lượng mặt trời Fumak sử dụng hoàn toàn bằng nguồn ánh
nắng mặt trời tự nhiên, không phát sinh ra chất thải, không gây ra tiếng ồn và
không làm ô nhiễm môi trường.
Sinh viên : Phạm Thị Hải Ngọc
Lớp : TN3T2
25