LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi.
Những số liệu, kết quả tính toán trong luận văn hoàn toàn xuất phát từ tình
hình thực tế của Công ty cổ phần xây dựng VRO.
Sinh viên thực tập
Nguyễn Thị Huân
1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DTT : Doanh thu thuần.
ĐTTC : Đầu tư tài chính.
ĐVT : Đơn vị tính.
HTK : Hàng tồn kho.
LNST : Lợi nhuận sau thuế.
LNTT : Lợi nhuận trước thuế.
TSCĐ : Tài sản cố định.
TSDH : Tài sản dài hạn
TSLĐ : Tài sản lưu động.
VCĐ : Vốn cố định.
VCSH : Vốn chủ sở hữu.
VKD : Vốn kinh doanh.
VLĐ : Vốn lưu động.
XDCB : Xây dựng cơ bản
2
Danh mục bảng biểu
LỜI CẢM ƠN.
Luận văn tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn, chỉ
bảo rất tận tình của cô giáo TS Nguyễn Thị Hà cùng với sự giúp đỡ về
chuyên môn của cô Nguyễn Thị Cẩm Tú - Trưởng phòng Tài chính – Kế
toán công ty Cổ phần Xây Dựng VRO
Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến cô giáo TS Nguyễn Thị
Hà, cô Nguyễn Thị Cẩm Tú, cùng các cô chú, anh chị trong công ty vì sự
chính và đánh giá thực trạng tài chính của một doanh nghiệp và để hiểu rõ
hơn việc phân tích này, qua thời gian học tập, nghiên cứu tại trường Đại
học Đại Nam và gần 2 tháng thực tập tài Công ty Cổ phần Xây Dựng
VRO , với sự hướng dẫn của cô giáo – TS. Nguyễn Thị Hà và các anh chị
trong phòng Tài chính – Kế toán của công ty, em đã chọn nghiên cứu và
thực hiện Luận văn cuối khóa với đề tài:
“Đánh giá tình hình tài chính và các biện pháp nâng cao hiệu
quả kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây Dựng VRO”
4
Ngoài phần Lời mở đầu và kết luận bài luận văn được chia làm 3 phần
như sau:
Phần 1: Những vấn đề lý luận chung về phân tích tình hình tài chính
của doanh nghiệp.
Phần 2:Thực trạng tình hình tài chính và hiệu quả hoạt động sản
xuất kinh doanh của Công ty Cổ phần Xây dựng VRO
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh tại Công ty Cổ phần Xây Dựng VRO
Để đề tài đảm bảo tính lý luận và thực tế, quá trình nghiên cứu được thực
hiện thông qua:
- Thu thập, tổng hợp lý luận từ lý thuyết.
- Thu thập, chỉnh lý, phân tích qua những thông tin được cung cấp từ
phía doanh nghiệp.
Tuy nhiên, với thời gian tiếp cận thực tế chưa nhiều nên bài luận
không tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được ý kiến chỉ bảo của
thầy cô, các cô chú, anh chị trong công ty để đề tài nghiên cứu của em
được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn…
Hà Nội, ngày 20/05/2013
Sinh viên thực tập
Nguyễn Thị Huân
trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp
6
Các quan hệ kinh tế thuộc phạm vi tài chính doanh nghiệp bao gồm:
- Thứ nhất: quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước. Quan hệ này
được thể hiện chủ yếu ở chỗ doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ tài chính với
Nhà nước như nộp các khoản Thuế, lệ phí vào ngân sách… và Nhà nước đầu tư
vốn ban đầu và vốn bổ sung cho doanh nghiệp bằng những cách thức khác nhau.
- Thứ hai: quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế và các
tổ chức xã hội khác. Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế
khác là mối quan hệ rất đa dạng và phong phú được thể hiện trong việc thanh toán,
thưởng phạt vật chất khi doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác cung cấp hàng hóa,
dịch vụ cho nhau (bao hàm cả các loại dịch vụ tài chính). Quan hệ tài chính với các tổ
chức xã hội khác được thể hiện ở chỗ doanh nghiệp thực hiện tài trợ cho các tổ chức
xã hội…
- Thứ ba: quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với người lao động trong
doanh nghiệp. Quan hệ này được thể hiện trong việc doanh nghiệp thanh toán tiền
công, thực hiện thưởng phạt vật chất với người lao động trong quá trình tham gia vào
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
- Thứ tư, quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ sở hữu của doanh
nghiệp. Mối quan hệ này thể hiện trong việc đầu tư, góp vốn hay rút vốn của chủ sở
hữu đối với doanh nghiệp và trong việc phân chia lợi nhuận sau thuế của doanh
nghiệp.
- Thứ năm: quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp. Đây là mối quan hệ
thanh toán giữa các bộ phận nội bộ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh,
trong việc hình thành và sử dụng các quỹ của doanh nghiệp.
Hoạt động tài chính là một mặt hoạt động của doanh nghiệp nhằm đạt tới các mục tiêu
của doanh nghiệp đề ra. Các hoạt động gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sử dụng và
vận động chuyển hóa của quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệp.
1.1.3. Nội dung Tài chính doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp bao hàm các nội dung chủ yếu sau:
huy động vốn thích hợp có thể giảm được chi phí sử dụng vốn góp phần rất lớn tăng
lợi nhuận của doanh nghiệp.Sử dụng đòn bẩy kinh doanh và đặc biệt là sử dụng đòn
bẩy tài chính hợp lý là yếu tố gia tăng đáng kể tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu. Huy
động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể tránh được thiệt hại do ứ
đọng vốn, tăng vòng quay tài sản, giảm được số vốn vay từ đó giảm được tiền trả lãi
vay góp phần rất lớn tăng lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp.
- Thứ ba, tài chính doanh nghiệp là công cụ rất hữu ích để kiểm soát tình hình
8
kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua tình hình thu, chi tiền tệ hàng ngày, tình hình
thực hiện các chỉ tiêu tài chính và đặc biệt là các báo cáo tài chính có thể kiểm soát kịp
thời, tổng quát các mặt hoạt động của doanh nghiệp, từ đó phát hiện nhanh chóng
những tồn tại và những tiềm năng chưa được khai thác để đưa ra các quyết định thích
hợp điều chỉnh các hoạt động nhằm đạt tới mục tiêu đề ra của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, vai trò của tài chính doanh nghiệp ngày càng trở nên
quan trọng hơn đối với hoạt động của doanh nghiệp.
Tài chính doanh nghiệp gồm ba chức năng sau:
Thứ nhất, Chức năng tạo vốn, đảm bảo vốn cho quá trình sản xuất kinh
doanh. Tài chính doanh nghiệp thanh toán nhu cầu vốn, lựa chọn nguồn vốn, tổ
chức huy động và sử dụng đúng đắn nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả
quá trình sản xuất kinh doanh.
Thứ hai, Chức năng phân phối thu nhập bằng tiền. Thu nhập bằng tiền của
doanh nghiệp được doanh nghiệp phân phối như sau: thu nhập đạt được do bán
hàng trước tiên phải bù đắp chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất như hao mòn
máy móc, thiết bị, trả lương, mua nguyên, nhiên liệu, thực hiện nghĩa vụ đối với
nhà nước, phần còn lại hình thành các quỹ của doanh nghiệp, thực hiện bảo toàn
vốn hoặc trả lợi tức cổ phẩn (nếu có).
Thứ ba, Chức năng kiểm tra bằng tiền đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh. Tài chính doanh nghiệp căn cứ vài tình hình thu chi tiền tệ và các chỉ tiêu
phản ánh bằng tiền để kiểm soát tình hình vốn, sản xuất và hiệu quả kinh doanh.
Trên cơ sở đó giúp nhà quản lý phát hiện những khâu mất cân đối, sơ hở trong
- Đối với các nhà đầu tư:
Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với các nhà đầu tư là để đánh giá doanh
nghiệp và ước đoán giá trị cổ phiếu, dựa vào việc nghiên cứu các báo biểu tài chính,
khả năng sinh lời, phân tích rủi ro trong kinh doanh…
- Đối với người cho vay:
Phân tích tài chính doanh nghiệp đối với người cho vay là xác định khả năng
hoàn trả nợ của khách hàng.
- Đối với người hưởng lương trong doanh nghiệp:
Phân tích tài chính doanh nghiệp giúp họ định hướng việc làm ổn định của
mình, trên cơ sở đó yên tâm dốc sức vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp tùy theo công việc được phân công, đảm nhiệm.
10
Do đó, phân tích tài chính doanh nghiệp là công cụ hữu ích được dùng để xác
định giá trị kinh tế, đánh giá các mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp, tìm ra nguyên
nhân khách quan và chủ quan, giúp từng đối tượng lựa chọn và đưa ra những quyết
định phù hợp với mục đích mà họ quan tâm.
1.2.2. Tài liệu sử dụng trong phân tích.
Để phục vụ cho việc phân tích đạt được hiệu quả như mong muốn người phân tích cần
phải thu thập đầy đủ thông tin và các tài liệu cần thiết. Các thông tin liên quan đến
doanh nghiệp bao gồm: thông tin trên các báo cáo kế toán, các tài khoản kế toán, tài
liệu thống kê, kế hoạch chiến lược, sách lược về phát triển doanh nghiệp, cụ thể là:
- Bảng cân đối kế toán mẫu số B01 - DN.
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh mẫu số B02 - DN.
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ mẫu số B05 - DN.
- Thuyết minh báo cáo tài chính mẫu số B04 - DN.
Phân tích tài chính có mục tiêu đi tới những dự đoán tài chính, dự đoán kết quả tương
lai của doanh nghiệp, trên cơ sở đó mà đưa ra được những quyết định phù hợp. Như
vậy, không thể chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu những báo cáo tài chính mà phải tập hợp
đầy đủ các thông tin liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp, như các thông
tin chung về kinh tế, chính sách tài chính tiền tệ, chính sách thuế, đặc điểm ngành, môi
đối tượng trong từng thời kỳ. Có thể sử dụng phân chia chi tiết theo yếu tố cấu thành
của chỉ tiêu nghiên cứu hoặc theo thời gian phát sinh quá trình và kết quả kinh tế.
- Phương pháp liên hệ đối chiều: Đây là phương pháp phân tích sử dụng để nghiên cứu
xem xét mối liên hệ kinh tế giữa các sự kiện và hiện tượng kinh tế, đồng thời xem xét
tính cân đối của các chỉ tiêu kinh tế trong quá trình thực hiện các hoạt động.
- Phương pháp phân tích nhân tố.
Đây là phương pháp được sử dụng để thiết lập công thức tình toán các chỉ tiêu kinh tế
tài chính trong mối quan hệ với các nhân tố ảnh hưởng, xác định mức độ ảnh hưởng
của từng nhân tố và phân tích tình tính chất ảnh hưởng của các nhân tố đến chỉ tiêu
phân tích
- Phương pháp các định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố: Đây là phương pháp được
sử dụng để xác định mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng nhân tố đến chỉ tiêu nghiên
cứu. Có nhiều phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố,song các
phương pháp thường được sử dụng là: phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp
số chênh lệch, phương pháp cân đối.
- Phương pháp phân tích tính chất của các nhân tố: Sau khi xác định được mức độ ảnh
hưởng của các nhân tố, để có đánh giá và dự đoán hợp lý, trên cơ sở đó đưa ra các
12
quyết định và cách thức thực hiện các quyết định cần tiến hành phân tích tính chất ảnh
hưởng của các nhân tố.
- Phương pháp dự đoán.
Đây là phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp sử dụng để dự báo tài chính
doanh nghiệp. Có nhiều phương pháp khác nhau để dự đoán các chỉ tiêu kinh tế tài
chính trong tương lai, song người ta thường sử dụng các phương pháp: phương pháp
hồi quy có thể dùng hồi quy đơn hoặc hồi quy bội, phương pháp quy hoạch tuyến tình,
phương pháp sử dụng mô mình kinh tế lượng…
Trên đây là một số phương pháp phân tích được sử dụng trong phân tích tài chính
doanh nghiệp. Tùy từng trường hợp cụ thể, có thể sử dụng một trong các phương pháp
hoặc kết hợp các phương pháp phân tích phù hợp với mục tiêu phân tích cũng như tình
hình doanh nghiệp.
Phần 2: Tình hình thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước.
Phần 3: Thuế GTGT được khấu trừ, được hoàn lại, được miễn giảm.
Số liệu trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được sử dụng để tính toán các chỉ
tiêu về khả năng sinh lời, tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước về các khoản phải
nộp. Cùng với số liệu trên BCĐKT, số liệu trên BCKQHĐKD đƣợc sử dụng để tính
toán hiệu quả sử dụng vốn, các chỉ tiêu về tỷ suất lợi nhuận…
1.2.4.2. Phân tích các hệ số đặc trưng.
Việc phân tích khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua BCĐKT và
BCKQHĐKD chưa phản ánh hết thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Để biết rõ hơn
về tình hình tài chính doanh nghiệp, về các mối quan hệ tài chính trong doanh nghiệp,
các nhà phân tích còn sử dụng các hệ số tài chính. Các hệ số tài chính là những biểu
hiện đặc trưng nhất về tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kì nhất
định.
1.2.4.4. Phân tích mô hình tài trợ.
Để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của công ty được tiến hành
thường xuyên, liên tục thì tương ứng với một quy mô kinh doanh nhất định,
thường xuyên phải có một lượng TSLĐ nhất định nằm trong các giai đoạn luân
chuyển nhƣ các tài sản dự trữ về nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, bán
thành phẩm, và nợ phải thu của khách hàng. Những tài sản này gọi là TSLĐ thường
xuyên, nó là một bộ phận của tài sản thường xuyên.
Nguồn vốn lưu động thường xuyên tạo ra mức độ an toàn cho doanh nghiệp
14
trong kinh doanh, về cơ bản, nguồn vốn lưu động thường xuyên đảm bảo cho vốn lưu
động thường xuyên còn nguồn vốn lưu động tạm thời sẽ đảm bảo cho nhu cầu vốn lưu
động tạm thời, song không nhất thiết phải hoàn toàn như vậy, để tạo điều kiện cho việc
sử dụng linh hoạt nguồn tài chính, ta sẽ xem xét một số mô hình tài trợ vốn sau:
a) Mô hình tài trợ thứ nhất.
Toàn bộ TSCĐ và TSLĐ thường xuyên được đảm bảo bằng nguồn vốn
thường xuyên, toàn bộ TSLĐ tạm thời đƣợc đảm bảo bằng nguồn vốn tạm thời.
Lợi ích của áp dụng mô hình này:
TSCĐ
TSLĐ tạm thời
Nguồn vốn tạm thời
TSLĐ thường xuyên
Nguồn vốn thường xuyên
TSCĐ
16
1.2.4.2.1. Các hệ số về khả năng thanh toán.
Sức mạnh tài chính của doanh nghiệp thể hiện ở khả năng chi trả các khoản
cần phải thanh toán, các đối tượng có liên quan trực tiếp và gián tiếp luôn đặt câu hỏi :
liệu doanh nghiệp có khả năng thanh toán các khoản nợ tới hạn hay không? Mối quan
hệ giữa kết quả kinh doanh với khả năng chi trả nhưthế nào? Tình hình thanh toán của
doanh nghiệp ra sao? Để trả lời cho các câu hỏi này, người ta thường sử dụng một số
chỉ tiêu sau:
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát.
Tổng tài sản
Hệ số khả năng thanh toán =
tổng quát Tổng nợ phải trả
Hệ số này thể hiện mối quan hệ giữa tổng tài sản với tổng số nợ phải trả của
doanh nghiệp, đo lường khả năng thanh toán một cách tổng quát các khoản nợ nần của
doanh nghiệp.
Hệ số này lớn hơn 1 chứng tỏ tổng giá trị tài sản hiện có của doanh nghiệp
thừa để thanh toán hết các khoản nợ hiện tại. Ngược lại, nếu hệ số này nhỏ hơn 1
thì có thể tình hình tài chính của doanh nghiệp đang gặp nguy hiểm. Tuy nhiên
không phải tài sản nào hiện có của doanh nghiệp cũng sẵn sàng đƣợc dùng để trảnợ và
không phải khoản nợ nào cũng phải trả ngay.
Hệ số khả năng thanh toán hiện thời (khả năng thanh toán ngắn hạn).
Tài sản ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán =
gồm tất cả tài sản lưu động trừ hàng tồn kho.
Hệ số càng cao càng tốt nhƣng nếu quá cao thì phải xem xét lại, nếu như do
có các khoản phải thu quá lớn sẽ bất lợi cho doanh nghiệp. Xem xét hệ số này
phải đặt trong sự so sánh với hệ số trung bình của ngành để có cái nhìn khách quan
hơn.
Hệ số khả năng thanh toán tức thời (Hệ số vốn bằng tiền).
Tiền và các khoản tương đương tiền
Hệ số khả năng thanh = ______________________________
toán tức thời Nợ ngắn hạn
Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng số tiền
hiện có và tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền trong doanh nghiệp.
18
Trong đó, Tiền bao gồm: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn khác có thể dễ dàng
chuyển đổi thành tiền trong thời gian 3 tháng như chứng khoán ngắn hạn, thương
phiếu, nợ phải thu ngắn hạn và các khoản đầu tư ngắn hạn khác… Đây là các tài
sản có tính thanh khoản cao, độ rủi ro thấp.
Đây là chỉ tiêu được các chủ nợ ngắn hạn quan tâm để đánh giá tại thời điểm
phân tích doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn hay
không. Tuy nhiên cần lưu ý rằng nếu hệ số này quá cao cho thấy doanh nghiệp
đang có một lượng lớn bằng tiền nhàn rỗi, gây lãng phí, ứ đọng vốn, giảm vòng
quay của vốn và cũng không phải khoản nợ ngắn hạn nào cũng cần thanh toán
ngay tại thời điểm phân tích. Nhưng nếu có những khoản nợ đến hạn và quá hạn thì
cần xem tại sao doanh nghiệp để phát sinh những khoản nợ quá hạn nhất là khi
doanh nghiệp thừa khả năng thanh toán nhanh.
Hệ số thanh toán lãi vay.
Lợi nhuận trước lãi vay và thuế
Hệ số khả năng thanh toán = ____________________________
lãi vay Lãi vay phải trả trong kỳ
Hệ số này cho biết khả năng thanh toán các khoản lãi vay trong kỳ cbawngf
bẩy tài chính và rủi ro tài chính có thể gặp phải của công ty từ đó giúp các nhà
quản lý doanh nghiệp có sự điều chỉnh về chính sách tài chính phù hợp, các nhà
chủ nợ và các nhà đầu tư đưa ra các quyết định cho vay và các quyết định đầu tƣ.
+ Hệ số vốn chủ sở hữu.
Vốn chủ sở hữu
Hệ số vốn chủ sở hữu =
Tổng nguồn vốn
Hoặc Hệ số vốn chủ sở hữu = 1 – Hệ số nợ
Hệ số này phản ánh vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng
nguồn vốn của doanh nghiệp. Hệ số này phản ánh mức độ tự tài trợ của doanh
nghiệp đối với nguồn vốn kinh doanh của mình.
Hệ số này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn chủ sở hữu, mức độ
độc lập tự chủ về mặt tài chính cao, ít bị ràng buộc, chịu sức ép của các khoản vay.
Mặt khác, tỷ suất tự tài trợ càng cao thì càng đảm bảo cho các khoản nợ được thanh
toán đúng hạn, làm cho uy tín của chủ doanh nghiệp được nâng cao, việc huy động
vốn vay nhờ vậy cũng dễ dàng hơn. Tuy nhiên, nếu sử dụng quá nhiều vốn tự có thì
20
khó có thể khuếch đại được tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu để gia tăng lợi nhuận của
chủ sở hữu doanh nghiệp
+Tỷ suất đảm bảo nợ
Vốn chủ sở hữu
Tỷ suất đảm bảo nợ =
Nợ phải trả
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn vay đƣợc đảm bảo bởi bao nhiêu đồng
vốn chủ sở hữu.Thông qua hệ số này cho phép nhà quản lý đánh giá đƣợc mức độ
rủi ro tài chính của doanh nghiệp từ đó định hƣớng chính sách tài chính cho kỳ
tiếp theo. Đối với các chủ nợ thì thông qua chỉ tiêu này đánh giá mức độ an toàn
của các khoản vốn cho vay và mức độ rủi ro của các khoản vay từ đó ra quyết định
thích hợp.
b) Hệ số cơ cấu tài sản.
Phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản phải thu. Vòng quay các
khoản phải thu càng lớn thì kỳ thu tiền trung bình càng nhỏ và ngược lại.
Vòng quay vốn lưu động :
Doanh thu thuần
Vòng quay vốn lưu động =
Vốn lưu động bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh số lần luân chuyển hay số vòng quay của vốn lưu động thực
hiện đƣợc trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm). Chỉ tiêu này cũng cho thấy
hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong kỳ của doanh nghiệp, một đồng vốn lưu động
bình quân trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Chỉ tiêu này càng lớn thì
hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại.
Số ngày một vòng quay vốn lưu động ( kỳ luân chuyển VLĐ ) :
Số ngày trong kỳ (360 ngày)
Kỳ luân chuyển vốn lưu =
động Vòng quay vốn lưu động
Chỉ tiêu này phản ánh trung bình một vòng quay vốn lưu động hết bao nhiêu
ngày, là chỉ tiêu nghịch đảo của chỉ tiêu vòng quay vốn lưu động.
Kỳ luân chuyển vốn lưu động càng nhỏ thì thể hiện vốn lưu động không bị ứ
đọng.
Hàm lượng vốn lưu động (Mức đảm nhiệm vốn lưu động)
22
Vốn lưu động bình quân
Mức đảm nhiệm vốn lưu = _______________________
động Doanh thu thuần trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh để có một đồng doanh thu thuần về bán hàng cần bao
nhiêu vốn lưu động. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng
cao và ngược lại.
Mức tiết kiệm vốn lưu động
Mức tiết kiệm vốn lưu động là số vốn lưu động mà doanh nghiệp tiết kiệm được
trong kỳ kinh doanh. Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm được do
Hiệu suất sử dụng = __________________________________
TSCĐ Nguyên giá TSCĐ bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá tài sản cố định trong kỳ tham gia
tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần. Thông qua chỉ tiêu này cũng cho phép đánh
giá trình độ sử dụng vốn cố định của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này đƣợc sử dụng kết hợp
với chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn cố định trong quá trình đánh giá hiệu quả sử dụng
vốn cố định để cho những kết luận đầy đủ, toàn diện.
Vòng quay tài sản hay toàn bộ vốn :
Doanh thu thuần
Vòng quay toàn bộ vốn =
Vốn kinh doanh bình quân
VKD đầu kỳ + VKD cuối kỳ
Vốn kinh doanh bình =
Quân 2
Chỉ tiêu này phản ánh tổng quát nhất về hiệu suất sử dụng tài sản hay toàn
bộ vốn hiện có của doanh nghiệp. Hệ số này chịu sự ảnh hưởng của đặc điểm kinh
doanh, chiến lược và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp. Việc tăng vòng quay
24
toàn bộ vốn là yếu tố quan trọng làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, đồng thời làm
tăng khả năng cạnh tranh cũng như uy tín của doanh nghiệp trên thị trường
1.2.4.2.4. Các chỉ tiêu về khả năng sinh lời.
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu (ROS)
Trong quá trình tiến hành những hoạt động kinh tế, doanh nghiệp mong muốn
lấy thu bù chi và có lãi, bằng cách so sánh kết quả với doanh thu thuần, ta sẽ thấy khả
năng sinh lời từ hoạt động của doanh nghiệp. Một cách chung nhất khả năng sinh lời
từ hoạt động được tính bằng tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu thuần.
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu =
DT trong kỳ
Phản ánh trong 1 đồng doanh thu mà doanh nghiệp thực hiện được trong kỳ có