BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC
TRƯƠNG TUẤN ANH
NGHIÊN CỨU HÌNH THÁI CHỨC NĂNG THẤT PHẢI VÀ
ÁP LỰC ĐỘNG MẠCH PHỔI BẰNG SIÊU ÂM DOPPLER
TRƯỚC VÀ SAU PHẪU THUẬT ĐÓNG THÔNG LIÊN NHĨ
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học
TS Nguyễn Cửu Long
Huế - 2011
1
đem lại trong lĩnh vực thực hành lâm sàng, đặc biệt trong lĩnh vực chẩn
đoán,chỉ định lựa chọn phương thức điều trị cũng như hồi sức sau phẫu thuật
tim,vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu hình thái chức
năng thất phải và áp lực động mạch phổi bằng siêu âm Doppler trước và
sau phẫu thuật đóng thông liên nhĩ”, nhằm hai mục tiêu sau:
1. Khảo sát sự biến đổi các thông số siêu âm Doppler tim về hình thái,
chức năng thất phải và áp lực động mạch phổi trước và sau phẫu
thuật đóng thông liên nhĩ.
2. Tìm hiểu mối liên hệ giữa các thông số siêu âm Doppler về hình thái
và chức năng thất phải với kích thước lỗ thông liên nhĩ và áp lực
động mạch phổi trước phẫu thuật.
3
CHƯƠNG 1
phải(bệnh lý kênh nhĩ thất) [5].
1.1.1.3. Thông liên nhĩ vùng xoang tĩnh mạch (sinus venosus)
Thật sự là tổn thương thông liên nhĩ do khuyết tật nằm ở lỗ đổ vào nhĩ
phải của tĩnh mạch chủ trên hoặc dưới vào nhĩ phải gây thông giữa hai tâm
nhĩ [5].
1.1.1.4. Thông liên nhĩ vùng xoang vành (coronary sinus)
Tổn thương khuyết vùng nóc xoang vành gây một thông liên nhĩ giữa
nhĩ trái và xoang vành mà luồng thông sẽ quang trọng hơn nếu có sự hiện
diện bất thường của tĩnh mạch chủ trên trái (là cấu trúc hay đổ vào xoang
vành) [5].
1.1.2. Sinh lý bệnh của thông liên nhĩ
Hướng và lưu lượng dòng máu qua lỗ thông liên nhĩ phụ thuộc vào kích
thước lỗ thông và độ đàn hồi của các buồng tim bên dưới (thất phải và thất
trái) vào thì tâm trương. Bình thường thất phải đàn hồi hơn thất trái dẫn đến
áp lực nhĩ phải tương đối thấp hơn áp lực nhĩ trái. Cho dù sự thay đổi áp lực
nhĩ phải trong chu kỳ hô hấp có thể dẫn đến luồng thông hai chiều tuy nhiên
luồng thông trái phải là ưu thế. Bệnh nhân thông liên nhĩ không tắc nghẽn lưu
lượng máu phổi có thể gấp 2-4 lần lưu lượng hệ thống dẫn đến sự gia tăng độ
bảo hòa oxy trong động mạch phổi. Độ đàn hồi cao của mạch máu phổi có thể
dung nạp tốt trong thời gian đầu với sự gia tăng lưu lượng này mà không có
sự gia tăng rõ rệt áp lực động mạch phổi. Sức cản mạch máu phổi ở trẻ em có
thông liên nhĩ là bình thường hoặc giảm.Sự dày lên và biến đổi cấu trúc có thể
phát triển sớm trong đời sống, những biến đổi nặng nề và không hồi phục gây
tăng áp lực động mạch phổi có thể không xảy ra cho đến 40 hoặc 50
tuổi.Tầng suất gia tăng áp lực động mạch phổi theo tuổi được mô tả bởi
nghiên cứu chỉ ra rằng áp lực động mạch phổi tâm thu lớn hơn 50%mmHg lần
5
lược là 7%,26%,32% và 25% ở các lứa tuổi tương ứng 30, 40, 50 và hơn 50
tuổi [11]. Cung lượng tim có thể được duy trì lúc nghỉ ngơi hoặc hoạt động
Luồng thông liên nhĩ trái phải gây nên 3 hậu quả huyết động sau:
1.1.4.1. Qúa tải thể tích các buồng tim phải dẫn đến giãn các buồng tim
gây tăng áp lực nhĩ phải và tăng áp lực thất phải cuối tâm thu. Một trong
những cơ chế đáp ứng của sự dãn thất phải là phì đại thành tâm thất phải, do
đó giảm độ đàn hồi càng gây nên tăng áp lực thất phải cuối tâm trương và
gián tiếp làm tăng cao hơn áp lực nhĩ trái và tĩnh mạch phổi.
1.1.4.2. Tăng lưu lượng máu lên phổi phối hợp với tăng áp lực tĩnh
mạch phổi là nguyên nhân gây tăng áp lực mao mạch phổi và thoát dịch ra
khoang kẻ của phổi. Điều này làm giảm độ đàn hồi nhu mô phổi và giảm trao
đổi khí. Trong những trường hợp nặng hơn, sự gia tăng thoát dịch vào khoang
kẻ có thể gây nên phù phổi.
1.1.4.3. Giảm lưu lượng hệ thống: sự lưu thông của tuần hoàn phổi tùy
thuộc vào lưu lượng máu hệ thống. Các cơ chế bù trừ cho phép duy trì huyết
áp đủ để tưới máu các cơ quan ngoại vi. Sự gia tăng các catecholamin trong
máu tuần hoàn và sự hoạt hóa hệ thần kinh giao cảm càng làm gia tăng sức
cản mạch máu hệ thống. Giảm lưu lượng tưới máu thận là nguyên nhân gây ứ
muối nước do hoạt hóa hệ thống renin – angiotensin. Sự ứ đọng muối nước
càng làm gia tăng phù phổi kẻ hoặc thậm chí phù ngoại vi trong những trường
hợp tiến triển nặng.
1.1.5. Chẩn đoán thông liên nhĩ
1.1.5.1. Triệu chứng lâm sàng
Thông liên nhĩ lỗ thứ phát thường được phát hiện ở trẻ không có triệu
chứng sau khi phát hiện tiếng thổi qua thăm khám sức khỏe định kỳ.
Bệnh nhân có luồng thông lớn thường kém phát triển về chiều cao và
cân nặng. Thất phải đập dọc phần thấp của xương ức bên trái. Tiếng thổi tâm
thu do sự gia tăng dòng máu qua van động mạch phổi, thường ở mức độ 2-
3/6, có thể nghe ở gian sườn 2-3 bờ trái xương ức [5].
7
1.1.5.2. Điện tâm đồ
dùng mặt cắt cạnh ức phải để phát hiện lỗ thông.
Mục tiêu: tìm được lỗ thông cũng như tìm sự trở về bất thường một phần
của tĩnh mạch phổi. Đánh giá hậu quả của bệnh lên hình thái huyết động tim.
Trên siêu âm 2D: lỗ thông thứ phát hoặc tiên phát có thể thấy dễ dàng
qua thành ngực,khuyết vách biểu hiện bằng khoảng trống siêu âm ở phần giứa
hay là phần đáy của vách liên nhĩ, kích thước lỗ thông đo ở đầu kỳ tâm thu là
lúc nó có kích thước lớn nhất.Đối với thông liên nhĩ dạng xoan tĩnh mạch thì
khó hơn do phải cắt đồng thời thấy cả vách liên nhĩ và chổ đổ vào tĩnh mạch
chủ trên trong nhĩ phải. Dấu hiệu gián tiếp quá tải thể tích tim phải biểu hiện
8
bằng giãn các buồng tim phải và thân động mạch phổi, di động nghịch thường
vách liên thất. Tuy nhiên nếu không có các dấu hiệu này thì chỉ cho phép loại
trừ luồng thông trái – phải lớn chứ không cho phép loại trừ thông liên nhĩ.
Các nghiên cứu cho thấy độ nhạy và độ đặc hiệu của siêu âm 2D thua Doppler
xung.
Doppler xung phát hiện luồng thông qua vách liên nhĩ có độ nhạy cao
hơn siêu âm 2D và tương đương siêu âm cản quang (nhạy 93%, đặc hiệu
94%). Vị trí đàu dò ở dưới sườn hay cạnh ức thấp lúc đó chùm tia siêu âm
vuông góc với vách liên nhĩ. Tốc độ dòng chảy thấp < 1m/s và độ chênh áp
dưới 5mmHg. Phổ tâm thu tâm trương khởi đầu ở đầu tâm thu với một đỉnh
và đỉnh thứ hai tương ứng với nhĩ bóp và phổ này dương tính khi đầu dò ở
các vị trí trên. Có thể thấy dòng chảy yếu âm tính đầu tâm thu là biểu hiện
của luồng thông phải trái. Luồng thông phải trái này lớn nếu có phối hợp với
bệnh tim khác như teo van ba lá hay là ở giai đoạn tăng áp lực phổi nặng làm
đão luồng thông. Siêu âm cản quang nếu là luồng thông trái phải cho thấy
vùng rữa trong nhĩ phải, nếu đã đão luồng thông thì thấy chất cản quang qua
vách liên nhĩ qua nhĩ trái. Siêu âm màu cho thấy luồng thông một cách
nhanh chóng tuy nhiên đòi hỏi kinh nghiệm để tránh tình trạng dương tính
giả nhầm với dòng máu đổ về nhĩ phải từ tĩnh mạch chủ. Ngoài ra còn có thể
+ Chẩn đoán xác định TLN chủ yếu dựa vào siêu âm tim (siêu âm 2D,
Doppler, siêu âm cản âm, siêu âm qua thực quản). Thông tim có thể giúp ích
cho việc đánh giá mức độ shunt, ngoài ra còn xác định chính xác áp lực động
10
mạch phổi, đo cung lượng động mạch phổi, cung lượng động mạch chủ
+ Ở Việt Nam do có rất nhiều các trường hợp đến muộn nên việc thông
tim xác định chính xác mức độ shunt, áp lực ĐMP, tỷ lệ cung lượng Q
P
/Q
S
và
đặc biệt là sức cản mạch phổi có vai trò quyết định xem bệnh nhân có còn chỉ
định phẫu thuật hay không. Với các biện pháp thở ôxy, thuốc giãn ĐMP làm
giảm áp ĐMP sẽ là những nghiệm pháp cuối cùng quyết định chẩn đoán bệnh
nhân có tăng áp lực động mạch phổi cố định (hội chứng Eisenmenger) hay
không ? Nếu sức cản mạch máu phổi dưois 6 đon vị Wood đóng thông liên
nhĩ thường an toàn [11].
+ Ngoài ra trong những năm gần đây, thông tim còn nhằm mục đích để
đóng lỗ TLN bằng dụng cụ qua da (Amplatzer, CardioSeal ).
1.1.5.6. Chụp buồng tim
a. Nếu lỗ thông thấy rõ trên siêu âm, có thể không cần thực hiện chụp
buồng tim.
b. Khi có dấu hiệu của TM phổi đổ lạc chỗ, có thể chụp ĐMP để cho
hình ảnh rõ ràng và xác định luồng thông (ở thì thuốc ''chậm'' khi máu về TM
phổi). Lỗ thông liên nhĩ sẽ thấy rõ ở góc chụp nghiêng trái 20 đến 45
0
nghiêng
đầu 25
0
(Amplatzer, CardioSeal ) thì nên thực hiện ngay khi có thể ở các lỗ thông
loại này.
Với các lỗ thông lớn: tiếng T
1
mạnh, rung tâm trương do tăng lưu lư-
ợng, tỷ lệ đường kính thất phải/thất trái lớn hơn: nếu có tăng áp ĐMP cần
đóng lỗ thông này càng sớm càng tốt. Nếu không tăng áp ĐMP, đóng lỗ thông
đó một cách hệ thống lúc trẻ độ 5 tuổi.
TLN nghi ngờ đã có tăng áp ĐMP cố định: cần làm thông tim chẩn
đoán. Chỉ phẫu thuật khi chưa có tăng áp ĐMP cố định, lưu lượng mạch phổi
vẫn tăng hơn lưu lượng đại tuần hoàn (vẫn còn shunt trái - phải là chủ yếu) và
sức cản mạch phổi vẫn còn trong giới hạn cho phép (chưa trở thành phức hợp
Eisenmenger).
Chẩn đoán tăng áp phổi theo WHO (1973 ) khi PAP > 25 mm Hg khi
nghỉ ngơi hoặc > 30 mmHg khi hoạt động và Pcp < 12 mmHg.
Tiêu chuẩn vàng ( ESC guidelines 2004 ) :
+ PAPm > 25 khi nghỉ ngơi hoặc PAPm > 30 khi hoạt động.
+ Pcp < 15 mmHg.
+ RVP ( [PAPm – Pcp]/DC > 3 Wood units.
12
Phân độ tăng áp lực động mạch phổi :
-Độ I : 25mmHg < PAPs < 45 mmHg
-Độ II : 45 mmHg < PAPs < 65 mmHg
-Độ III : PAPs ≥ 65 mmHg
+ Tiến triển của TLN thường dung nạp tốt vì vậy đôi khi phát hiện
bệnh rất muộn ở tuổi trưởng thành. Tăng áp ĐMP cố định (không còn chỉ
định phẫu thuật) có thể gặp ở tuổi 20 đến 30. Suy tim và rối loạn nhịp tim
có thể bắt đầu xảy ra ở tuổi 30 đến 40. Nếu lỗ thông liên nhĩ được đóng kín
(bằng phẫu thuật hay bằng dụng cụ qua da) thì có thể coi như bệnh nhân
thống hoặc còn đáp ứng với các liệu pháp giãn mạch máu phổi.
Class III ( Lợi ích > Nguy cơ ) : bệnh nhân ASD với tăng áp lực động
mạch phổi không hồi phục và không có bằng chứng còn luồng thông trai –
phải.
Trước (A) và sau (E) đóng lỗ TLN bằng Amplatzer.
+ Đóng lỗ TLN qua da bằng dụng cụ là thủ thuật ngày càng được áp
dụng ở nhiều nước trên thế giới. Tại Việt Nam phương pháp này hiện nay đã
được tiến hành thường quy tại Viện Tim mạch Việt Nam. Tất cả các trường
hợp TLN lỗ thứ hai có kích thước không quá lớn và gờ xung quanh lỗ đủ lớn
(hơn 5mm) đều có khả năng đóng bằng dụng cụ qua da dưới màn tăng sáng.
Phương pháp này ngày càng chứng minh được tính hiệu quả như thời gian
nằm viện ngắn, ít đau, không có sẹo mổ, ít biến chứng ngay cả ở nhóm bệnh
nhân có nguy cơ cao [4].
1.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ HÌNH
14
THÁI, CHỨC NĂNG THẤT PHẢI VÀ ÁP LỰC ĐỘNG MẠCH PHỔI
1.2.1. Cộng hưởng từ
Chụp mạch bằng cộng hưởng từ cho hình ảnh tâm thất rõ ở kỳ tâm thu
và tâm trương nhưng khó tìm thấy bất thường vận động thành tim khu trú.
Phương tiện này không cho biết các thông tin về áp lực cũng như không cho
phép đánh giá chức năng tim. Mặc dù đây là thăm dò xâm nhập và có thể lặp
lại, trên thực tế nó không được thực hiện thường quy do giá thành đắt và không phải
mọi nơi đều có. Mặt khác người ta không đánh giá được chức năng tâm trương
cũng như khó thực hiện biện pháp kích thích tăng co bóp tim.
1.2.2. Chụp cắt lớp vi tính
Theo Harrison 16, nghiên cứu chức năng tim qua chụp cắt lớp vi tính
siêu nhanh có thể thăm dò chức năng toàn bộ và từng vùng của thất trái (thể
tích và độ dày của thành thất), chức năng chung của thất phải, sự phân bố của
của tim và của hồng cầu. Barber FE (1974) đã nghiên cứu sử dụng phối hợp
Doppler với hình ảnh siêu âm hai bình diện gọi là kiểu Duplex. Brandestini
MA (1978) đã tạo ra dụng cụ cho phép nhìn thấy hình ảnh Doppler màu ở
chế độ thời gian thực.
- Ngày nay siêu âm M-mode, 2D, Doppler xung, liên tục, màu và Doppler mô
tim được hợp nhất trong một cấu hình máy siêu âm chẩn đoán là một phương
pháp thăm dò huyết động và hình ảnh học không xâm lấn.
Nguyên lý và kỹ thuật siêu âm Doppler
- Hiệu ứng Doppler
Hiệu ứng Doppler được tìm ra vào năm 1842, do nhà toán học người
Áo Christian Johan Doppler, lúc đó ông dùng nó để giải thích hiện tượng lệch
màu sắc của các ngôi sao đang chuyển động [24].
Hiệu ứng Doppler được phát biểu như sau: Nếu sóng phát ra từ nguồn
phát cố định đến một đầu thu cố định thì tần số thu bằng tần số phát. Nếu
khoảng cách giữa 2 đầu thu và phát thay đổi trong khoảng thời gian thu sóng
thì bước sóng λ sẽ dài ra (nếu đầu thu và phát xa nhau) hoặc ngắn lại (nếu
chúng lại gần nhau). Hiệu ứng Doppler đúng với tất cả các loại sóng và do đó
đúng với cả sóng siêu âm.
Hiệu ứng Doppler sử dụng trong phương pháp siêu âm Doppler xảy ra khi
sóng siêu âm được phản hồi từ các vật thể chuyển động như các tế bào hồng
17
cầu, thành mạch, cơ co. Khi đó tần số sóng phản hồi sẽ khác với tần số sóng tới
và hiệu của hai tần số gọi là độ lệch Doppler hay tần số Doppler [24], [32].
- Thông số của sóng siêu âm và kích thước hình học của tổ chức
Vì sóng siêu âm phản xạ trên mặt phân cách do đó năng lượng phản xạ
còn phụ thuộc vào kích thước của mặt phân cách và độ dài bước sóng của
chùm tia. Nếu ta đặt một vật rắn vào trong môi trường chất lỏng thì năng
lượng phản xạ từ vật đó phụ thuộc vào kích thước của vật so với độ dài bước
sóng siêu âm. Vật đó phải có dài ít nhất lớn hơn λ/4 thì mới có khả năng phản
tâm thu và tâm trương của tâm thất. Tốc độ vận động của mô thấp hơn nhiều
so với tốc độ vận động của dòng máu chảy (5-20cm/s). Trong kiểu Doppler
qui ước, người ta đặt bộ lọc sao cho ghi được những tín hiệu có vận tốc cao từ
dòng máu, còn những tín hiệu có vận tốc thấp từ cấu trúc đặc của cơ tim
chẳng hạn như thành tim bị giảm thiểu. Nếu như người ta đặt bộ lọc theo
chiều ngược lại thì sẽ ghi được vận tốc các cấu trúc đặc của cơ tim thông qua
Doppler xung hoặc màu. Doppler mô là kỹ thuật tốt đánh giá khả năng giãn
của cơ tim, nó ít chịu ảnh hưởng của tiền gánh hoặc hậu gánh. Một số ứng
dụng hiện nay: Nhận diện mẫu Doppler giả bình thường của giảm chức năng
tâm trương thất, phân biệt viêm màng ngoài tim co thắt với bệnh cơ tim hạn
chế, chẩn đoán sự mất đồng vận của thất
1.2.4.2. Siêu âm Doppler tim đánh giá chức năng thât trái
- Đây là kỹ thuật chính yếu cho phép đem lại các thông số huyết động. Siêu
âm Doppler được chấp nhận như là một thăm dò tin cậy có thể làm nhiều lần để
chẩn đoán cũng như theo dõi bệnh nhân có rối loạn chức năng tim. - Việc đánh giá
chức năng tâm thu thất trái bao gồm đo thể tích tống máu, cung lượng tim, chỉ số
tim và các khoảng thời gian như co đồng thể tích, thời gian tống máu, thời gian
tăng tốc và giảm tốc.
+ Thể tích tống máu (SV): SV = A × VTI
Ao19
Trong đó A là diện tích dòng chảy và VTI
Ao
là tích phân vận tốc thời gian phổ
Doppler dòng chảy qua van động mạch chủ. A và VTI
Ao
phải được đo ở cùng vị trí.
+ Cung lượng tim (CO): CO = SV× TST
E
) lệ thuộc vào tốc
độ tăng áp lực thất trái đầu tâm trương sau khi nó tiến tới giá trị đáy, đây là số
đo sức căng có hiệu quả của thất trái.
Sóng A biểu hiện quá trình đổ đầy thất muộn là giai đoạn nhĩ co. Vận tốc
đỉnh của sóng A (V
A
) tùy thuộc vào sức căng buồng thất trái cũng như thể tích
và sự co bóp nhĩ.
IRT: thời gian giãn đồng thể tích tính từ lúc van động mạch chủ đóng cho
đến khi van 2 lá mở.
ICT: thời gian co đồng thể tích thất trái, được đo từ đỉnh sóng R (lúc kết
thúc phổ Doppler van 2 lá) cho đến bắt đầu của phổ Doppler đường ra thất trái.
Các chỉ số Doppler bình thường không có sự khác biệt nhiều giữa các tác
giả, nhưng nó có sự thay đổi theo tuổi. Bình thường V
E
/V
A
> 1, DT
E
> 150ms,
IRT = 74 ± 26ms,
Hình dạng phổ và tỷ lệ phân suất giữa đổ đầy tâm trương kỳ đầu (sóng E)
và kỳ sau (sóng A) là kết quả của sự tác động qua lại giữa quá trình bệnh lý
tim, các yếu tố đặc tính tâm trương của tim và tình trạng tải, sự giảm sức chứa
buồng tim do một trong hai yếu tố đó sẽ làm áp lực làm đầy thất trái cũng như
áp lực trung bình nhĩ trái và đưa đến rối loạn chức năng tâm trương.
Sự giảm chức năng tâm trương thất trái tiến triển qua nhiều giai đoạn.
Trong giai đoạn sớm thì trội lên hiện tượng suy sụp giãn nở cơ tim thất và làm
giảm vận tốc đầy máu đầu tâm trương nên trên Doppler van 2 lá thấy giảm
/V
A
<0,8 ; DT
E
> 200 ms ; IRT ≥ 100 ms ; V
E
/V
Em
≤8
3. Rối loạn chức năng thất trái độ 2 (giả bình thường):
0,8≤ V
E
/V
A
≤ 1,5 ; 160 ≤ DT
E
≤ 200 ms,IRT <60 ms ; 9≤V
E
/V
Em
≤12
4. Rối loạn chức năng thất trái độ 3 (hạn chế)
V
E
/V
A
≥2 ; DT
E
<160 ms ; IRT <60 ms ; V
E
2
)/ET
Ao
= 0,39 ± 0,05
ET
Ao
: thời gian tống máu thất trái đo tại van động mạch chủ
ICT
2
: thời gian co đồng thể tích thất trái đo tại van 2 lá
IRT
2
: thời gian giãn đồng thể tích thất trái đo tại van 2 lá
+ Ý nghĩa của chỉ số Tei
Rối loạn chức năng tâm thu và tâm trương đồng tồn tại trong suy tim.
Phân suất tống máu, thể tích tâm thất là những thông số rất tốt đánh giá chức
năng tâm thu thất trái. Các thông số Doppler được chấp nhận như một phương
pháp không xâm nhập đánh giá chức năng tâm trương thất trái. Tuy nhiên để
đánh giá chức năng tim toàn bộ cả tâm thu lẫn tâm trương, chỉ số Tei được
các tác giả nước ngoài đánh giá cao trong thực hành lâm sàng tim mạch và đã
được chứng minh có liên quan đến khả năng mắc bệnh, tỷ lệ tử vong giữa các
bệnh như : nhiễm bột tim, bệnh cơ tim giãn, nhồi máu cơ tim, THA các
23
khoảng thời gian tâm thu và tâm trương trên siêu âm Doppler tim liên quan
chặt chẽ với CO, CI, EF, FS, mẫu Doppler dòng đổ đầy sớm và muộn tâm
trương. Co bóp và thư giãn cơ tim là quá trình phụ thuộc năng lượng, khi có
rối loạn chức năng thất trái sẽ làm kéo dài các khoảng thời gian đồng thể tích,
đặc biệt khi thất trái càng suy thì thời gian tống máu càng ngắn, như vậy công
thức (ICT+IRT)/ET càng cao.
- Nghiên cứu bằng siêu âm Doppler tim đặc biệt là siêu âm Doppler
xung, qua sự nghiên cứu nhiều thông số siêu âm Doppler xung của dòng chảy
đổ đầy tâm trương qua van 3 lá và nhiều thông số siêu âm Doppler xung khác.
- Dòng chảy này có thể nhận được ở cửa sổ cạnh ức trái trục nhỏ thấp,
mỏm, trong mỏm và dưới sườn, trong đó các đường mỏm, trong mỏm và dưới
sườn thường nhận được dòng chảy với chất lượng tốt, cửa sổ Doppler xung được
đặt ở giữa vòng van (bờ tự do các lá van). Bình thường dòng đổ đầy thất phải tâm
trương bao gồm 2 hợp phần tâm trương là sóng E đổ đầy thất phải và sóng A của
nhĩ co. Tốc độ đỉnh của V
E
thường cao hơn tốc độ đỉnh của V
A
và V
E
/V
A
> 1, khi
tuổi càng cao thì V
E
có xu hướng giảm trong khi V
A
tăng dẫn đến V
E
/V
A
giảm.
- V
E
/V
A