1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay, mối hiểm hoạ mà thuốc lá gây ra cho sức khoẻ con người cũng
như cho nền kinh tế xã hội của mỗi quốc gia là vấn đề thời sự nóng bỏng và có
tính toàn cầu.
Nhiều nghiên cứu cho ta biết rằng thuốc lá gây nghiện chẳng khác rượu
hay ma tuý. Nicotin có trong thuốc lá là chất gây nghiện, có tác dụng dược lý
gây kích thích người hút (ba căn bệnh chính liên quan đến thuốc lá đã được tổ
chức y tế thế giới công nhận là: ung thư phổi, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và
các bệnh tim mạch [33]. Sự nghiện thuốc lá có ảnh hưởng lớn tới tần suất mắc
và tử vong của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, có thể xem bệnh phổi tắc nghẽn
mạn tính là bệnh lý chính của những người nghiện thuốc lá [6], [34].
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) có khoảng 1,1 tỷ người trên thế giới
hút thuốc, chiếm 1/3 dân số lứa tuổi từ 15 tuổi trở lên. Trong đó có 800 triệu
người là ở các nước đang phát triển.
Theo dự đoán của WHO, nếu chiều hướng thuốc lá vẫn diễn ra như hiện
nay thì việc hút thuốc lá sẽ trở thành đại dịch đe doạ sức khoẻ con người trong
thế kỷ XXI. Dự báo trong 20 năm tới sẽ có khoảng 10 triệu người chết hàng năm
(cứ 3 giây có 1 người chết) do thuốc lá, trong đó có 7 triệu người tại các nước
đang phát triển [3]. Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nam giới hút
thuốc lá cao nhất thế giới (65%) theo bảng xếp loại của WHO thì tỷ lệ hút thuốc
lá trong nam giới của Việt Nam ở thứ 21 trong các nước [4].
Theo số liệu điều tra năm 1997 ở Việt Nam tỷ lệ nam giới hút thuốc lá là
60% ước tính có 10% dân số hiện nay (khoảng 7 triệu người) chết sớm do các bệnh
có liên quan đến thuốc lá trong đó 3,7 triệu người sẽ chết ở độ tuổi trung niên.
Để tuyên truyền về tác hại của thuốc lá và tiến đến không hút thuốc lá, tổ
chức y tế thế giới lấy ngày 31 tháng 5 hàng năm làm "Ngày thế giới không hút
thuốc lá" và thông điệp của WHO là: "Đoàn kết vì một thế giới không hút thuốc
lá".
hút thuốc lá ở nhiều nước, tỷ lệ hút thuốc lá giảm ở nhiều nước, đặc biệt ở các
nước phát triển nhất là ở người lớn tuổi. Ở nước ta năm 1995 Bộ y tế đã ra chỉ
thị về việc không hút thuốc lá trong các cơ sở y tế, ngày 1/10/1995 Bộ ngoại
giao cũng ra chỉ thị cấm hút thuốc lá ở nơi làm việc, hội nghị, khi công tác ở
nước ngoài. Chính phủ có nghị quyết số 12/2000/NQ-CP về chính sách quốc gia
phòng chống tác hại của thuốc lá trong giai đoạn 2000 - 2010. Ngoài việc hạn
chế số người hút thuốc lá nghị quyết còn có những điều khoản bảo vệ những
người không hút thuốc lá khỏi tác hại của thuốc lá.
Tuy nhiên, xu hướng chung trên thế giới thì sự tiêu thụ thuốc lá ngày càng
gia tăng đáng chú ý là các nước đang phát triển ở khu vực Châu Á, Phi, Mỹ La
tinh. Tuổi bắt đầu hút thuốc lá ngày càng thấp dần, sau đây là những con số ghi
nhận được [7].
Bảng 1: Tình hình hút thuốc lá trong nước và thế giới
Tên nước, địa phương
Tỷ lệ % số người hút thuốc lá
Nam
Nữ
Thái lan
Srilanka
Nepal
Trung Quốc
Băng La Đét
Quận Hai Bà Trưng Hà Nội
Xã Thuỷ Dương Huế
58
90
85
56
71
59,45
niên gần 70%, cần lưu ý là tình hình hút thuốc lá đã bắt đầu xuất hiện ở các
trường trung học cơ sở.
Mỗi năm nước ta tiêu thụ khoảng 1,7 tỉ bao thuốc lá, trung bình mỗi
người hút từ 70 - 80 gói thuốc lá, ở thành phố Huế qua một cuộc điều tra ở
phường Vĩnh Ninh cho thấy 74,3% nam giới trưởng thành hút thuốc lá. Ở phụ
nữ là 2,8% đặc biệt là thanh thiếu niên từ 16-20 tuổi hút thuốc lá chiếm tỷ lệ là
69,73% tại bệnh viện Trung ương Huế tỷ lệ nam giới hút thuốc lá là 18,50% .
1.1.2. Độc tính của thuốc lá
Hút thuốc lá thực sự là đại dịch, gây tử vong 60.000 sinh mạng mỗi năm
tại Pháp tác hại của thuốc lá còn đáng sợ hơn cả ma tuý. AIDS hay tai nạn giao
thông gộp lại. Điều đáng lo ngại là hút thuốc lá rất khó bỏ hút vì khi ngưng
thuốc lá thì bị hội chứng cai xuất hiện với các biểu hiện mất ngủ, khó tập trung
tư tưởng, trầm cảm các triệu chứng này tồn tại trong thời gian khá dài mới giảm,
trong khi đó người cai thuốc lá chịu sự cám dỗ của môi trường và xã hội rất dễ
tái sinh trở lại. Người hút thuốc lá có nguy cơ tử vong cao hơn người không hút
5
thuốc lá là 70% và 1/2 số người hút thuốc lá cuối cùng sẽ chết bởi các bệnh do
thuốc lá gây ra. Nhiều dự đoán chỉ ra rằng đến năm 2025 sẽ có đến 165.000 ca
tử vong ở phụ nữ do nhiễm độc nicotin xấp xỉ con số từ 5.000 đến 55.000 ca mỗi
năm. Ở Mỹ thuốc lá là nguy cơ cho sức khoẻ con người lớn nhất: có khoảng
43.000 người tử vong/năm. Mọi công trình nghiên cứu tại Pháp cho thấy rằng
hàng năm có chung 40.000 trường hợp bị ung thư phổi có nguyên nhân liên
quan đến thuốc lá. Đối với phụ nữ trong thời kỳ mang thai người mẹ hút thuốc lá
thì sinh con thường nhẹ cân, sẩy thai, sinh non và có tỷ lệ chết cao hơn trẻ khác
trong thời kỳ hậu sản.
1.1.3. Đặc điểm hoá sinh của thuốc lá
Khói thuốc lá là hỗn hợp khí chứa nhiều chất khí đốt cháy đã tạo ra nhiều
chất khác nhau do quá trình nhiệt phân và nhiệt trùng hợp. Thành phần của khói
thuốc lá rất phức tạp, cho đến nay vẫn chưa nhận biết được, các nhà khoa học
tăng nhịp thở, nhịp tim, tăng huyết áp, chóng mặt, phụ nữ có thai nghiện thuốc lá
sẽ sinh con nhẹ cân, tăng nguy cơ sẩy thai, đẻ non, chết chu sinh.
- Methynle Ethylceton: Kích thích gây kích thích mũi, họng, mắt với liều
vừa phải.
- Hydrogen cyanide là chất gây một số triệu chứng đau đầu, lú lẫn, ù tai,
nôn mửa.
- Carbon monoxid: [26]
Có tác dụng làm giảm khả năng lao động, tăng nguy cơ bệnh mạch vành
hay viêm động mạch, hậu quả cuối cùng là không đủ oxy để nuôi các tế bào và
tổ chức.
1.1.4.2. Tác nhân gây ung thư
Người ta biết 43 chất gây ung thư có trong khói thuốc lá tiêu biểu nhất là:
Aminonaphralen, Aminobiphenyl, Butadien, Acrylonitrile, Formal dehyde (cũng
là tác nhân gây ra ho khạc đàm), Nitrosauin.
Chúng có tác dụng tại chỗ ở đường hô hấp và tác dụng toàn thân khi được
hấp thụ qua phổi điều này giải thích cho sự phát triển các khối u ở xa như ung
thư bàng quang
7
1.1.5. Các nguy cơ gây bệnh của thuốc lá
Vai trò gây bệnh của hút thuốc lá đã được chứng minh qua nhiều nghiên
cứu trên thế giới cũng như ở nước ta. Hút 01 điếu thuốc tức là đã tự mình làm
mất đi 5,5 phút cuộc sống. Tuổi thọ trung bình của người hút thuốc lá ngắn hơn
so với người không hút thuốc lá từ 05 đến 08 năm. Hút thuốc làm tăng tỷ lệ tử
vong từ 30 đến 80%, chủ yếu là do các bệnh ung thư (ung thư phổi), bệnh phổi
tắc nghẽn mạn tính, các bệnh tim mạch.
1.1.5.1. Hút thuốc lá và các bệnh ung thư
* Ung thư phổi
Cách đây gần 50 năm, Doll và hill đã chỉ ra rằng hút thuốc là gây ung thư
phổi và tỷ lệ tử vong do ung thư phổi tăng theo số lượng thuốc hút. Trên thế giới
10 lần người không hút thuốc. Những nguy cơ này sẽ bị tăng thêm 25 tới 50
phần trăm nếu người hút thuốc sử dụng nhiều rượu.
* Ung thư thanh quản:
Hút thuốc gây nên 80% trong tổng số ung thư thanh quản. Người hút
thuốc chịu nguy cơ mắc bệnh ung thư thanh quản lớn hơn 12 lần so với người
không hút thuốc.
* Ung thư miệng
Hút thuốc là nguyên nhân chủ yếu của các bệnh ung thư lưỡi, tuyến nước
bọt, miệng và vòm họng. Những người nam giới hút thuốc có nguy cơ lớn gấp
27 lần phát triển các bệnh về ung thư miệng hơn những nam giới không hút
thuốc
Ung thư mũi: Về lâu dài người hút thuốc sẽ có nguy cơ cao gấp hai lần
hơn người không hút thuốc trong phát bệnh ung thư mũi.
* Ung thư thận và bàng quang
Người hút thuốc có nguy cơ mắc ung thư cả thận và bàng quang. Trong
tổng số ca tử vong do ung thư bàng quang, thì ước tính khoảng 40 đến 70% là vì
sử dụng thuốc lá.
9
* Ung thư tuyến tụy
Tuyến tụy là tuyến dễ bị ung thư vì khói thuốc vào cơ thế tới tuyến tụy
qua máu và túi mật. Ước tính rằng thuốc lá là nguyên nhân của 30% của tổng số
ung thư tuyến tụy.
* Ung thư bộ phận sinh dục
- Ung thư âm hộ: Ung thư âm hộ, là một phần của bộ phận sinh dục nữ
thông thường hiếm gặp. Tuy nhiên phụ nữ mà hút thuốc có nguy cơ gấp đôi mắc
ung thư âm hộ.
- Ung thư tử cung: Sự liên quan giữa hút thuốc và ung thư tử cung chỉ mới
mắc bệnh này. Mối liên quan chặt chẽ giữa hút thuốc lá và bệnh tim mạch không
chỉ thấy ở cả 2 giới trong lớp trẻ và người già mà còn thấy ở tất cả các chủng tộc.
Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ mắc bệnh lên gấp 2-3 lần và nó còn tương tác với
các yếu tố khác làm tăng nguy cơ lên gấp nhiều lần. Những bệnh mà người hút
thuốc có nguy cơ mắc cao là xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành, đột quỵ, rối
loạn nhịp tim, đột tử, nhồi máu cơ tim, phình động mạch chủ. Trong số đó bệnh
mạch vành là quan trọng nhất, ước tính chiếm khoảng hơn một nữa trường hợp
tử vong vì bệnh tim do hút thuốc.
1.1.6. Ảnh hưởng cho những người xung quanh
Hút thuốc lá không những có tác hại cho người hút mà còn tác hại cho
những người xung quanh gọi là hút thuốc lá thụ động. Khói thuốc lá thải vào
môi trường chứa rất nhiều chất độc, nó chứa đầy đủ các thành phần của thuốc lá
không hề có sự biến đổi nào vì nó không đi qua điếu thuốc. Theo tác giả Alain
Jehan thì một số người không hút thuốc lá nhưng ở trong môi trường dày đặc
khói thuốc trong vòng hai giờ thì được xem như hút 2-3 điếu.
1.1.7. Bỏ thuốc lá
Muốn bỏ thuốc lá đòi hỏi người hút phải thực sự quyết tâm làm chủ bản
thân mới kháng nổi cơn nghiện của thuốc lá, đồng thời có sự hỗ trợ của bạn bè
thì mới đem lại kết quả được. Có nhiều người bỏ được thuốc lá một thời gian rồi
hút lại vì không vượt qua được tình trạng cai thuốc. Nên áp dụng một biện pháp
11
cũng không đủ mà phải sử dụng nhiều biện pháp với sự hỗ trợ của những người
xung quanh và sự quyết tâm của mỗi cá nhân mới mong đem lại kết quả như
mong muốn.
Bỏ thuốc lá đem lại sức khoẻ cho bản thân và cộng đồng, giảm các bệnh
về phế quản, phổi, bệnh tim mạch, bệnh ung thư, ngừng hút thuốc lá làm hoạt
động chức năng của bộ máy hô hấp được gia tăng, các nguy cơ mắc bệnh phế
quản mạn tính giảm 50% sau 20 năm. Để có một sức khoẻ tốt ngoài việc không
bao giờ hút thuốc lá ta cần phải tránh không bao giờ hít phải khói thuốc lá, cho
nghẽn phế quản với độ nặng của sự bất thường tế bào học của đường dẫn khí và
cũng chỉ ra mối liên quan giữa sự hẹp tiểu phế quản với FEV1.
Ở người hút thuốc lá tổn thương khí phế thủng chịu trách nhiệm sự tắc
nghẽn phế quản chủ yếu do quá trình viêm của nhu mô phổi và sự mất thăng bằng
giữa enzym nội sinh phân hủy protein (protease) và enzym chống phân hủy protein
của phổi (antiprotease). Thiếu hụt bẩm sinh enzym anpha 1-antitrypsin trong khí
phế thủng đa thùy là một kiểu của mất thăng bằng hệ thống này [27], [28].
- Khói thuốc lá làm tăng lên hoạt tính của protease qua trung gian của
enzym Elastase đến từ đại thực bào và bạch cầu đa nhân trung tính.
Hơn nữa khói thuốc lá làm giảm hoạt tính của enzym antiprotease. Hậu
quả là gây hội chứng phế quản và khí phế thủng [28], [31]. Nghiên cứu mới đây
ở những bệnh nhân BPTNMT độ nặng sẽ thay đổi nếu họ ngưng hút thuốc. Tác
dụng có lợi này chỉ xuất hiện sau khi ngưng hút thuốc lá hơn 5 năm. 13
Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là người dân nam giới từ 18 tuổi trở lên thuộc xã
Thuỷ Biều - thành phố Huế.
2.1.1. Sơ lược về đặc điểm xã Thuỷ Biều, Thành phố Huế
+ Về địa lý
Thuỷ Biều là một xã vùng ven, cách trung tâm thành phố Huế 7km về
phía Tây, với tổng diện tích tự nhiên 657,3 ha.
Ví trí: Phía bắc và phía Tây giáp Sông Hương, phía Đông giáp xã Thuỷ Xuân
và phường Phường Đúc, phía Nam giáp xã Thuỷ Bằng, huyện Hương Thuỷ.
+ Về dân số
Toàn xã có tổng số 2031 hộ với 10216 nhân khẩu. Được phân bố trong 6 thôn.
Trong đó: - n: là cỡ mẫu
- Z là hệ số tin cậy (1,96)
- P là tỷ lệ ước đoán sử dụng thuốc lá trước của nghiên cứu là
50% = 0,50.
- c là độ chính xác mong muốn
Thay vào công thức trên ta có:
384
50,0
50,050,096,1
2
2
n
Vậy cỡ mẫu nghiên cứu là n = 384. Thực tế chúng tôi nghiên cứu 395 người.
- Chọn mẫu: Chúng tôi chọn ngẫu nhiên 395 người nam giới từ 18 tuổi trở
lên, sinh sống trên địa bàn xã Thuỷ Biều thành phố Huế. Theo từng nhóm
nghiên cứu mỗi nhóm là 1 thôn của xã Thuỷ Biều.
Chúng tôi phân làm 6 nhóm để tiến hành điều tra dựa trên sự phân bố dân
cư 6 thôn.
- Nhóm 1 (Thôn Trường Đá) bốc thăm ngẫu nhiên: 70 người
- Nhóm 2 (Thôn Đông Phước 1) bốc thăm ngẫu nhiên: 65 người
- Nhóm 3 (Thôn Đông Phước 2) bốc thăm ngẫu nhiên: 65 người
- Nhóm 4 (Thôn Long Thọ) bốc thăm ngẫu nhiên: 65 người
- Nhóm 5 (Thôn Lương Quán) bốc thăm ngẫu nhiên: 65 người
- Nhóm 6 (Thôn Trung Thượng) bốc thăm ngẫu nhiên: 65 người
16
- Động cơ hút thuốc lá
- Các loại thuốc lá sử dụng
- Thời gian hút và số gói năm
- Nơi hút thuốc lá
- Số người bỏ thuốc lá, tái hút trở lại
- Những biểu hiện khi cai thuốc
- Ảnh hưởng của thuốc lá cho người xung quanh
- Bỏ hút thuốc lá có liên quan
- Sự hiểu biết tác hại của thuốc lá
- Số người hút thuốc lá mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
2.3. TIÊU CHUẨN ĐỂ XÁC ĐỊNH NGƯỜI HÚT THUỐC LÁ
Dựa theo xếp loại của WHO [29] trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) và
tổ chức nâng cao sức khoẻ của Bang Victoria-Úc (VIC Health).
- Người được xác định hút thuốc lá khi đã hút 1 hoặc nhiều điếu thuốc lá
trong vòng 30 ngày qua (so với thời điểm điều tra).
- Người được xác định là nghiện thuốc lá khi
- Người đã hút một hoặc nhiều điếu thuốc lá mỗi ngày trong 30 ngày qua
(so với thời điểm điều tra).
- Hoặc đã hút 15 điếu hay hơn trong 30 ngày qua (so với thời điểm điều tra).
2.4. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
THEO DỊCH TỄ HỌC
- Tiền sử tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ quan trọng nhất là hút thuốc lá.
- Ho khạc đàm trong thời gian 2 tháng trong vòng 2 năm liên tục kèm khó
thở ngày càng gia tăng.
2.5. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Thời gian tiến hành nghiên cứu: Tháng 6 năm 2008 đến tháng 4 năm 2009.
- Địa điểm nghiên cứu: 06 thôn trên địa bàn xã Thuỷ Biều, thành phố Huế
18
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chúng tôi đã tiến hành điều tra 395 người nam giới tuổi từ 18 trở lên đang
sinh sống trên địa bàn xã Thuỷ Biều, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Chúng tôi xin đưa ra kết quả như sau:
3.1. TÌNH HÌNH HÚT THUỐC LÁ
3.1.1. Tỷ lệ hút thuốc lá chung
68,4%
31,6%
Có hút thuốc lá (n=270) Không hút thuốc lá (n=125)
Biểu đồ 3.1. Tỷ lệ hút thuốc lá
Trong 395 người được phỏng vấn có 270 người hút thuốc lá chiếm 68,4%.
Không hút thuốc lá chiếm 31,6%.
3.1.2. Tỷ lệ hút thuốc lá theo tuổi
Bảng 3.1. Tỷ lệ hút thuốc lá theo tuổi
Nhóm tuổi
18-30
31-40
41-50
51-60
>60
Chung
n
39
71
56
142
50
14
270
Tỷ lệ %
3,0
20,7
52,6
18,5
5,2
100
p
< 0,01
Trong 270 người hút thuốc lá, trình độ THCS chiếm tỷ lệ cao nhất
(52,6%), mù chữ chiếm (3,0%).
3.1.4. Tỷ lệ hút thuốc lá theo tình trạng hôn nhân
Bảng 3.3. Tỷ lệ hút thuốc lá theo tình trạng hôn nhân
Tình trạng hôn nhân
Độc thân
Có gia đình
Tổng
n
40
230
270
Tỷ lệ %
14,8
85,2
Biểu đồ 3.2. Tuổi bắt đầu hút thuốc lá
Tuổi bắt đầu HTL : 15-20 tuổi có 221 người chiếm tỷ lệ cao nhất (81,9%),
< 14 tuổi chỉ có 13 người chiếm 4,8%.
3.2.2. Động cơ hút thuốc lá lần đầu
Bảng 3.5. Động cơ hút thuốc lá lần đầu
Động cơ hút thuốc lá lần đầu
n
Tỷ lệ %
Bạn bè mời
67
24,8
Bắt chước người khác
118
43,7
Hút thử vì tò mò
80
29,6
Nguyên nhân khác
5
1,9
Tổng
270
100,0
24,8%
0
0,0%
3
5,4%
20
14,1%
30
60,0%
14
100,0%
Bắt chước người khác
4
50,0%
35
62,5%
69
48,6%
10
20,0%
0
0,0%
Hút thử vì tò mò
4
50,0%
13
23,2%
53
37,3%
10
20,0%
206
76,3
Thuốc điếu không đầu lọc
36
13,3
Thuốc cẩm lệ
28
10,4
Tổng
270
100,0
Loại thuốc lá được nhiều người hút là loại thuốc có đầu lọc chiếm 76,3%,
tỷ lệ người hút thuốc điếu không đầu lọc và thuốc cẩm lệ tương đương nhau
(10,4%-13,3%) 22
3.2.5. Số lượng hút thuốc lá
Bảng 3.8. Số lượng hút thuốc lá ( gói/ năm)
Số lượng hút thuốc lá
( gói/ năm)
n
Tỷ lệ %
< 10
85
31,48
10-20
115
42,59
Biểu đồ 3.4. Số lượng hút thuốc lá (gói/ năm)
Có 115 người hút thuốc từ 10-20 gói/năm chiếm tỷ lệ cao nhất 42,59%, tỷ
lệ các người hút > 20 gói/năm chiếm 25,93%. 23
3.2.6. Liên quan giữa tuổi với số điếu thuốc hút trong ngày
Bảng 3.9. Liên quan giữa tuổi với số điếu thuốc lá hút trong ngày
Tuổi
Số điếu hút
18-30
31-40
41-50
51-60
>60
< 10 điếu / ngày
6
15,4%
8
11,3%
4
6,0%
5
12,2%
10
Các đối tượng HTL hút 10-20 điếu/ngày chiếm tỷ lệ cao và phân bố đều
với các nhóm tuổi; trong đó nhóm 41-50 tuổi có tỷ lệ cao nhất (91,0%)
3.2.7. Yếu tố ảnh hưởng đến số điếu thuốc hút
Bảng 3.10. Các yếu tố ảnh hưởng đến số điếu thuốc hút
Yếu tố ảnh hưởng đến số
điếu thuốc hút
n
Tỷ lệ %
Vui
124
45,93
Buồn
28
10,4
Bạn bè mời
109
40,37
Không rõ
9
3,3
Tổng
270
100,0
Vui và bạn bè mời là hai yếu tố làm tăng số điếu thuốc trong ngày, trong
đó vui chiếm 45,93%, bạn bè mời chiếm 40,37%.
100.00
Có 211 người hút thuốc lá cả điếu (78,15%) , hút nửa điếu có 59 người
(21,85%).
3.2.10. Sự hiểu biết về tác hại của khói thuốc lá
98,5%
1,5%
Có (n=266)_
Không biết (n=4)
Biểu đồ 3.5. Tỷ lệ sự nhận thức độc hại của khói thuốc lá
Có 266 người nhận thức rằng khói thuốc lá cũng độc hại chiếm tỷ lệ cao
(98,5%), có 4 trường hợp không biết chiếm tỷ lệ 1,5%. 25
3.2.11. Tỷ lệ bỏ thuốc lá
Bảng 3.13. Tỷ lệ cai thuốc lá
Tình trạng cai thuốc lá
n
Tỷ lệ 5
Hút liên tục
152
56,30
Bỏ rồi hút lại
29
10,74
Bỏ thuốc hoàn toàn
89
32,96
Biểu đồ 3.6. Lý do bỏ thuốc lá
Trong 89 người bỏ thuốc lá, có 71 người bỏ thuốc vì lý do sức khoẻ chiếm
79,9%; vì kinh tế chiếm 8,9%.