Tình trạng béo phì ở trẻ em 6-11 tuổi tại hai Trường tiểu học Lê Lợi và Lê Quý Đôn tại thành phố Huế - Pdf 25



1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Béo phì và suy dinh dưỡng ở trẻ em là hai thái cực của một vấn đề. Người
ta nhận thấy cả tình trạng quá nhẹ cân và béo phì đều liên quan đến sự gia tăng
tỷ lệ mắc bệnh và tử vong [12].
Thuật ngữ thừa cân (Overweight) là tình trạng tăng quá mức trọng lượng
cơ thể so với trọng lượng chuẩn, béo phì (Obesity) là tình trạng tăng quá mức
khối mỡ cơ thể, và rõ ràng là trẻ thừa cân rất dễ trở thành béo phì nếu không
được điều chỉnh kịp thời [12][69][71].
Gần đây tình trạng béo phì ở trẻ em đang là một vấn đề được quan tâm ở
nhiều nước. Có khoảng 80% thiếu niên béo phì sẽ trở thành béo phì lúc trưởng
thành [52]. Tỷ lệ béo phì trẻ em gia tăng một cách nhanh chóng ở các nước công
nghiệp phát triển [3][69]. Thậm chí ngay cả những nước đang phát triển, bên
cạnh tỷ lệ trẻ em bị suy dinh dưỡng vẫn còn ở mức cao đã thấy cả tình trạng trẻ
em bị béo phì xuất hiện ngày càng nhiều, đặc biệt tại các vùng đang được đô thị
hoá [69].
Sự liên quan giữa béo phì với tình trạng dinh dưỡng quá mức và không
hợp lý là rất chặt chẽ [27]. Có thể xem béo phì là một cái giá phải trả cho một xã
hội phát triển [27]. Béo phì là hậu quả của việc mất cân bằng năng lượng: tăng
năng lượng thu vào và/hoặc giảm năng lượng tiêu hao diễn ra trong một khoảng
thời gian đáng kể [32][52][69]. Tuy nhiên có những yếu tố nguy cơ khác cùng
tác động lên mỗi cá thể để làm dễ cho béo phì xuất hiện [52][69].
Những kết quả nghiên cứu về dịch tễ học với quy mô rộng lớn trong thời
gian gần đây cho thấy béo phì có tính toàn cầu có thể được xem như là một hậu
quả của một tập hợp các vấn đề văn hoá, kinh tế và xã hội mà nay nhiều quốc
gia đã phát triển cũng như đang phát triển phải đối mặt [69]. Tỷ lệ béo phì gia
tăng nhanh chóng cùng với một số bệnh mạn tính không lây truyền khác (Non


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Béo phì ở trẻ em là một vấn đề có tính phát triển và mạn tính[52]. Tỷ lệ
béo phì ở người lớn và trẻ em ngày một gia tăng mặc dầu đã có nhiều chương
trình điều trị, gây nên nhiều sự tốn kém về kinh tế và ảnh hưởng đến tâm lý xã
hội [52][69]. Trọng lượng cơ thể được xác định bởi sự cân bằng giữa hấp thu và
tiêu hao năng lượng [32][52][69]. Tuy có nhiều phương pháp trị liệu mới dựa
trên nhiều kiến thức mới về bệnh sinh của béo phì nhưng dự phòng béo phì vẫn
là một mục tiêu quan trọng hàng đầu [32][52][69].
1.1.Định nghĩa thừa cân-béo phì ở trẻ em:
Cho đến nay, khác với người lớn người ta vẫn chưa có sự nhất trí cao về
định nghĩa cũng như trong việc sử dụng các ngưỡng thích hợp để phân định một
đứa trẻ là béo phì hay không [12][52][69].
Với khái niệm đơn giản được chấp nhận nhiều nhất thì thừa cân là một
tình trạng tăng quá mức trọng lượng cơ thể so với trọng lượng chuẩn và béo phì
là tình trạng tăng quá mức lượng mỡ cơ thể [12][69]. Như vậy trên thực tế có
thể có một số trẻ thừa cân nhưng không béo phì do sự phát triển quá mức của
khối nạc và xương [12][69].
Nhiều quốc gia đã sử dụng các biểu đồ tham khảo là biểu đồ cân nặng
theo tuổi (Weight for age:W/A) và chiều cao theo tuổi (Height for age:H/A) để
đánh giá trẻ. Tuy nhiên những phương pháp này chỉ là sự phản ảnh các kích cỡ
của đứa trẻ mà không đưa ra một sự khẳng định béo hay gầy liên quan nào cả
[52][69].
Sự tương quan chặt chẽ giữa chiều cao và cân nặng trong suốt thời kỳ
phát triển trẻ em cho thấy rằng chỉ số cân nặng theo chiều cao (Weight for
height: W/H) có thể là một phương pháp đơn giản để nhận định độ béo gầy 4
5
thực tế thay đổi cùng với tuổi: Gia tăng nhanh chóng ở tuổi sơ sinh, giảm xuống
ở tuổi tiền học đường và rồi tăng trở lại suốt thời kỳ thiếu niên và giai đoạn
sớm của người trưởng thành [12][69]. Chính vì lý do này mà BMI chỉ nên được
sử dụng ở trẻ lớn(>9tuổi) và người trưởng thành và đánh giá chỉ số BMI ở trẻ
em cần thiết phải được đánh giá cùng với biểu đồ tham khảo liên quan với giới
và tuổi(bách phân vị theo giới và tuổi) [12][69].
Ở trẻ em, BMI > 85 bách phân vị (85th percentile) so với quần thể tham
chiếu NCHS/WHO thì được xem là thừa cân và > 95 bách phân vị là béo phì
[12]. Ngoài ra nếu BMI > 85 bách phân vị và bề dày nếp gấp da > 90 bách phân
vị cũng được xem là béo phì [12][52].
Ở người lớn theo phân độ béo phì của WHO [69]:
-BMI > 25 : Thừa cân
-BMI : 25 - 29,9 : tiền béo phì (Pre-obese)
-BMI > 30: Béo phì. Gồm có:
 Béo phì độ I : BMI : 30 - 34.9
 Béo phì độ II : BMI : 35 - 39.9
 Béo phì độ III: BMI > 40
Ngoài ra người ta còn sử dụng việc đo bề dày nếp gấp da để loại trừ các
trường hợp thừa cân do phát triển khối nạc [12][69]. Hai vị trí thường được đo
để xác định là nếp gấp da cơ tam đầu và góc dưới xương bả vai [12]. Gọi là béo
phì ở một trẻ vừa có thừa cân vừa có nếp gấp da cơ tam đầu hoặc góc dưới
xương bả vai > 90 bách phân vị so với quần thể tham chiếu NCHS/WHO
[12][52].
1.2.Phân loại béo phì:
Hiện nay có một số cách phân loại béo phì khác nhau. Tuy nhiên có thể
tóm tắt trong 3 cách phân loại sau [3][32]:
-Phân loại dựa theo đặc điểm giải phẫu và sự phân bố của mô mỡ.


7
Một số khiếm khuyết di truyền hiếm gặp gây nên chứng béo phì như bệnh
Prader-Willi,Lauren-Moon/Barddet-Bield, Altrom-Hallgren,Cohen, Turner, loại
dưỡng mô mỡ có tính gia đình (Lipodystrophy) [20][45].
-Ngoại trừ bệnh cường insulin nguyên phát, các nguyên nhân béo phì thứ
phát đều làm trẻ chậm tăng trưởng, thường chỉ số chiều cao theo tuổi < 5 bách
phân vị. Trong khi đó các trẻ béo phì nguyên phát thường có chiều cao lớn hơn
chuẩn. Nói cách khác nếu trẻ béo phì có chiều cao >50 bách phân vị chỉ số chiều
cao theo tuổi thì không cần khảo sát thêm nguyên nhân của béo phì. Đây là một
điểm rất quan trọng trong thực hành lâm sàng [20].
-Phân biệt giữa béo phì nguyên phát và béo phì thứ phát (nội sinh) [20]:
Béo phì nguyên phát
Béo phì thứ phát
- >90% các trường hợp béo phì ở trẻ
em.
-Cao (thường >50 bách phân vị).
-Thường có tiền sử gia đình béo phì

-Chức năng tâm thần bình thường
-Tuổi xương bình thường hiặc lớn
hơn so với tuổi.
-Thăm khám lâm sàng bình thường.
-<10% các trường hợp béo phì ở trẻ
em.
-Lùn (thường <5 bách phân vị).
-Tiền sử gia đình có béo phì không
thường gặp.
-Chậm phát triển tâm thần.
-Chậm phát triển tuổi xương.

Với đà thay đổi lối sống nhanh chóng, trong tương lai gần khoảng 25% trẻ em
Châu Âu có thể bị béo phì [41].
Trong nghiên cứu WHO/MONICA tại Châu Âu từ 1983-1986 tỷ lệ béo
phì là 15% nam và 22% ở nữ [69]. Khi khảo sát tại các thành phố lớn của Châu
Âu, nghiên cứu này cũng ghi nhận tỷ lệ thấp nhất ở Gothenburg (Thuỵ Điển) với
7% nam và 9% nữ bị béo phì, cao nhất ở Kaunas (Lithuania-thuộc Liên Xô cũ)
có đến 22% nam và 45% nữ bị béo phì [69].
Tại Pháp, người ta ghi nhận có 50% trường hợp tử vong có liên quan đến
lối sống và sự ăn uống dư thừa [29]. Tại Đức 70% nữ và 44% nam giới phát phì
từ tuổi 40 trở lên, số tiền hàng năm mà nước Đức phải chi trả điều trị béo phì lên
đến 30 tỷ mác Đức [29]. 9
Tại Australia, nghiên cứu từ 1995-1997 cho thấy thừa cân và béo phì là
một yếu tố nguy cơ đối với sức khoẻ trẻ em Australia,trẻ em tiểu học bang
Victoria trở nên béo phì hơn trong một thập kỷ qua, 19-23% trẻ em và thanh
thiếu niên Australia bị béo phì [31][47].
1.3.2.Tỷ lệ béo phì tại các quốc gia đang phát triển:
-Tại các quốc gia đang phát triển, bên cạnh tình trạng trẻ em bị suy dinh
dưỡng mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt, béo phì đã xuất hiện và ngày càng
gia tăng nhanh chóng [12][69][70]. WHO đã nhận định béo phì và các hậu quả
của nó sẽ trở nên một yếu tố chủ yếu làm kiệt quệ các nguồn lực dành cho y tế
tại vùng Thái Bình Dương trong một tương lai gần [70].
-Tại Trung Quốc số trẻ em bị béo phì tăng cao trong những năm gần đây
do được nuông chiều ăn uống quá mức, đặc biệt từ khi có chủ trương mỗi gia
đình chỉ được có duy nhất một con [27].
- Điểm qua các quốc gia thuộc ASEAN ta thấy tại Singapore, tỷ lệ béo phì
của học sinh tiểu học là 9% ở nam và 8% ở nữ vào năm 1984, đến năm 1989 tỷ
lệ này đã là 14,5% ở nam và10,4% ở nữ [49]. Tại Kuala Lumpur (Malaysia) tỷ

cân và béo phì ở trẻ em [30], một số báo cáo về chất lượng khám sức khoẻ học
sinh cho thấy tỷ lệ học sinh đạt thể lực loại 1 rất cao [28].
Rõ ràng trong thời kỳ chuyển tiếp, Việt Nam cũng giống như các quốc gia
đang phát triển khác, béo phì đã xuất hiện bên cạnh tình trạng suy dinh dưỡng ở
trẻ em và đang dần trở thành một vấn đề dịch tễ quan trọng [12].
1.4.Nguyên nhân của béo phì:
Béo phì là một bệnh phức tạp có căn nguyên di truyền, hành vi, lối sống
và yếu tố môi trường cùng phối hợp [10][50][51][52][69]. Có những bằng chứng
quan trọng cho thấy rằng có sự tồn tại một cơ chế tự điều hoà để kiểm soát khối
mỡ cơ thể [52]. Cơ sở sinh lý học của sự điều hoà cân nặng cơ thể là phương
trình cân bằng năng lượng [50][52][69]: 11
Năng lượng dự trữ = Năng lượng hấp thu - Năng lượng tiêu hao.
Một cân bằng năng lượng dương tính xảy ra khi năng lượng hấp thu lớn
hơn năng lượng tiêu hao, điều này sẽ kích thích làm gia tăng dự trữ năng lượng
và tăng cân. Ngược lại,một cân bằng năng lượng âm tính xảy ra khi năng lượng
hấp thu thấp hơn năng lượng tiêu hao, điều này làm giảm năng lượng dự trữ và
giảm cân [69].
Dưới những điều kiện bình thường, cân bằng năng lượng dao động từ bữa
ăn này sang bữa ăn khác, ngày này qua ngày khác mà không gây nên bất kỳ một
thay đổi nào về trọng lượng cơ thể [52]. Có nhiều cơ chế sinh lý cùng tác động
bên trong mỗi cá thể để duy trì cân bằng năng lượng đó.Thật vậy chỉ khi nào có
một cân bằng năng lượng dương tính (tuy có thể nhỏ) diễn ra trong một khoảng
thời gian đáng kể mới gây nên béo phì [52][69]. Một khi tình trạng béo phì được
xác lập thì các quá trình sinh lý có xu hướng thay đổi cho phù hợp với trọng
lượng mới của cơ thể [69].
Trọng lượng cơ thể trước tiên được điều hoà bởi một loạt quá trình sinh lý
nhưng nó cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố về nhận thức cũng như yếu tố xã hội

như: cholecystokinin, urocortin, neuropeptide Y[52].
1.4.2.Sự tiêu hao năng lượng:
-Sự tiêu hao năng lượng- yếu tố thứ hai của phương trình cân bằng năng
lượng- gồm 3 phần chính sau đây [52][69]:
+Năng lượng dành cho chuyển hoá cơ bản.
+Năng lượng dành cho quá trình sinh nhiệtĮ
+Năng lượng dành cho các hoạt động thể lực.
Tuỳ theo tính chất thường xuyên và mức độ hoạt động thể lực của từng
người mà các thành phần cơ bản của sự tiêu hao năng lượng có sự thay đổi khác
nhau [69]. 13
Ở người trưởng thành thích tĩnh tại, năng lượng dành cho chuyển hoá cơ
bản vào khoảng 60%, năng lượng dành cho sự sinh nhiệt vào khoảng 10%, phần
cho hoạt động thể lực khoảng 30%. Ở người lao động nặng, năng lượng dành
cho hoạt động thể lực vào khoảng 50%, năng lượng sinh nhiệt vẫn ở mức 10%,
năng lượng dành cho chuyển hoá cơ bản vào khoảng 40%. Như vậy chìa khoá
cho việc thay đổi tiêu hao năng lượng ở một cá thể chính là mức độ hoạt động
thể lực của người đó [69]. Nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ rằng ở người béo phì,
sự tiêu hao năng lượng luôn có xu hướng thấp hơn so với nhóm khác [52]. Một
nghiên cứu tiến hành ở sắc dân Pima Indians (tại tiểu bang Arizona- Hoa Kỳ) đã
chứng tỏ rằng mức hoạt động thể lực thấp là tương đồng với sự gia tăng của tỷ lệ
béo phì [52].
Người ta cũng đã tìm ra vài protein liên quan đến sự tiêu hao năng lượng
của cơ thể như UCP (Uncoupling protein) [52]. UCP kích thích sự sinh nhiệt
[52]. Sự sao chép của UCP được điều hoà bởi sự hoạt động của thần kinh giao
cảm, đặc biệt bởi thụ thể (3 adrenergic mà tập trung nhiều ở mô mỡ trắng và mô
mỡ nâu [48][52]. Người ta nhận thấy chất chủ vận (Agonist) thụ thể (3
adrenergic gây nên sự giảm cân ở chuột thí nghiệm[52].
Hỡnh 1.1. S cỏc s nh hng lờn cõn bng v iu hũa
nng lng [69]
Sổỷ nhaỷy
caớm cuớa
caù thóứ
Kióứu hoaỷt
õọỹng thóứ
lổỷc vaỡ chóỳ
õọỹ n
IệU HOèA NNG LặĩNG
Chỏỳt
beùo
ổồỡng,
Bọỹt
aỷm
Dổỷ trổợ mồợ
cồ thóứ
Chuyóứn
hoùa cồ
baớn
Sinh
nhióỷt

xem tivi. Trẻ em ngày nay giảm hoạt động nhiều hơn so với trước đây [52].
Trowell và Burkitt thông qua 15 nghiên cứu dịch tễ học về sự thay đổi của
các xã hội đang hiện đại hoá đã báo cáo rằng béo phì xếp đầu tiên của một nhóm
được gọi là ‘’các căn bệnh của nền văn minh’’ (Diseases of Civilization) [69].
Người ta cũng ghi nhận béo phì có tính gia đình, hầu hết những người béo
phì có ít nhất bố hoặc mẹ cũng bị béo phì [52][53]. Sự giống nhau có tính gia
đình trong sự hấp thụ năng lượng nói chung và hấp thụ lượng bột đường, chất
béo, chất đạm nói riêng đã được chứng minh bằng nhiều nghiên cứu chẳng hạn
như ở nghiên cứu Framingham [52]. 16
Ở các nước đang phát triển, người mập béo có thể được xem như là biểu
tượng của sự giàu sang sung túc. Trong lúc đó ở các nước đã phát triển lại có
một mối quan hệ đảo ngược giữa béo phì và tình trạng văn hoá xã hội: Người ta
nhận thấy tỷ lệ béo phì cao ở nhóm có tình trạng văn hoá xã hội và thu nhập thấp
hơn[69].
1.6.Các hậu quả về mặt sức khoẻ của béo phì ở trẻ em:
1.6.1.Các hậu quả nói chung về sức khoẻ của béo phì:
-Béo phì làm gia tăng nguy cơ bệnh tật và tử vong [12][32][52][69]. Các
hậu quả xấu về sức khoẻ của người béo phì rất nhiều và rất khác nhau. Các nguy
cơ này được sắp xếp từ những nguy cơ làm chết yểu cho đến những nguy cơ tuy
không nguy hiểm chết người nhưng lại làm kém đi chất lượng cuộc sống [69].
Béo phì là yếu tố nguy cơ quan trọng của các bệnh mãn tính không lây
truyền như: Đái tháo đường không phụ thuộc Insulin, bệnh mạch vành, tăng
huyết áp, sỏi mật, đau xương khớp và một số loại ung thư [3][12][32][52][69].
Ở tại các nước công nghiệp phát triển, béo phì còn gắn liền với các vấn đề về
tâm lý xã hội [69]. Béo bụng (béo phì dạng nam) nguy hiểm đối với sức khoẻ
hơn là dạng béo phì dạng nữ [3][32][69].
1.6.2.Các hậu quả về sức khoẻ của béo phì ở trẻ em và thanh thiếu niên:

transaminase huyết. Các bất thường này liên quan với sỏi mật. Tuy thế tình trạng
này hiếm gặp ở trẻ nhỏ và thiếu niên [52][69].
Chứng trào ngược dạ dày-thực quản, rối loạn làm rỗng dạ dày ở trẻ béo
phì có thể là hậu quả của việc gia tăng áp lực bên trong ổ bụng do lượng mỡ bên
trong bụng quá nhiều [69].
1.6.2.4.Các biến chứng về hình thể(orthopeadic complications)
Các biến chứng nặng bao gồm chứng cong xương đùi do bị đè nén bởi cơ
thể quá nặng, bệnh Blount (biến dạng xương hậu quả từ việc phát triển quá mức
xương chày) [69]. Các biến chứng nhẹ hơn gồm có tật chân vòng kiềng (Genu
valgum) và chứng dễ trẹo cổ chân [69]. 18
1.6.2.5.Các biến chứng khác:
Bao gồm chứng khó thở tắc nghẽn lúc ngủ và khối giả u não
(Pseudotumor Cerebri) [52][69]. Khó thở tắc nghẽn lúc ngủ có thể gây nên giảm
thông khí phổi, thậm chí gây đột tử trong các trường hợp nặng [69]. Khối giả u
não là một bệnh lý hiếm gặp với triệu chứng tăng áp lực nội so,ü cần phải được
điều trị kịp thời [69].
1.7.Điều trị béo phì ở trẻ em:
Hầu hết các chương trình điều trị áp dụng cho trẻ em cũng gần giống với
các chương trình điều trị áp dụng cho người lớn. Tuy vậy mục tiêu điều trị ở
người lớn và trẻ em có khác nhau [52][69].
Một mục tiêu quan trọng của việc điều trị ở trẻ em là ngăn ngừa trở thành
béo phì thật sự lúc trưởng thành [52][69]. Để đạt được mục tiêu này, chương
trình giảm cân ở trẻ em béo phì hướng đến việc cố gắng đưa cân nặng trở về với
cân nặng bình thường mà không gây hậu quả xấu đối với sức khoẻ của trẻ,
chẳng hạn như ảnh hưởng đến sự tăng trưởng [52]. Ở những trẻ thừa cân vừa
phải, người ta cố gắng duy trì cân nặng hiện tại đợi khi trẻ lớn lên sẽ trở thành
bình thường [52]. Đối với những trẻ béo phì nặng, chương trình giảm cân phải

chứng thứ phát có thể xảy ra [20].
1.7.2.Thể dục:
Nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng tăng hoạt động thể lực kết hợp với chế độ
ăn hiệu quả hơn nhiều khi áp dụng riêng rẽ từng biện pháp trong trị liệu giảm
cân và duy trì được tình trạng giảm cân đó [52][55]. Hoạt động thể lực giúp bảo
toàn các khối mỡ tự do trong suốt thời kỳ ăn kiêng. Thể dục còn làm cải thiện
tâm trạng và tác động tốt lên sự chọn lựa thức ăn của trẻ [52]. Cần chú ý khuyến
khích trẻ giảm thời gian xem tivi và chơi video games, tăng thời gian hoạt động
ngoài trời [20][52][69]. 20
1.7.3.Trị liệu hành vi :
Trị liệu hành vi (Behavioral Therapy) là yếu tố cần thiết nhưng tốn khá
nhiều thời gian và công sức. Trị liệu hành vi làm gia tăng một cách có ý nghĩa
hiệu quả của các chương trình điều trị béo phì. Trị liệu này cung cấp kỹ năng
cho trẻ nhằm thay đổi hành vi để có một nếp sống hợp sức khoẻ hơn. Chương
trình trị liệu hành vi bao gồm chế độ tự kiểm soát bản thân, giáo dục dinh dưỡng
hợp lý, thay đổi hành vi ăn uống và gia tăng hoạt động thể lực. Cần lưu ý là sự
tham gia hơûp tác và sự động viên khích lệ của bố mẹû là rất cấn thiết và làm
gia tăng kết quả điều trị[40][52][55][62][63][69].
1.7.4.Một số phương pháp trị liệu khác:
Bao gồm sử dụng thuốc, giải phẫu, trị liệu bằng Y học dân tộc
[19][20][21][26][29].Các phương pháp này áp dụng chủ yếu cho người lớn.Các
thuốc giảm cân không được khuyến nghị dùng ở trẻ em vì hiện chưa đủ dữ liệu
vễ ảnh hưởng của thuốc đối với những rối loạn hành vi ăn uống trong giai đoạn
dậy thì hoặc khi sử dụng dài hạn[19].Dược phẩm (Siberlium, Phentermine,
Fenfluramin) và giải phẫu (cắt một phần dạ dày )chỉ áp dụng cho các trẻ bị béo
phì rất nặng mà thất bại với các chương trình giảm cân và chỉ được tiến hành tại
các trung tâm chuyên khoa mà thôi[21][52][73].

nguy c cao b bộo phỡ. Tuyờn truyn sõu hn cỏc i tng hiu rừ v cú th
t gii quyt cỏc nguy c [10][69].
3/D phũng cú mc tiờu: D phũng cú mc tiờu nhm n cỏc cỏ nhõn ó
b tha cõn thc s v nhng ngi tuy cha b bộo phỡ nhng cú nhng ch du
sinh hc cho thy cú s tha cht bộo quỏ mc. D phũng tr b tha cõn khụng
tr thnh bộo phỡ lỳc trng thnh l mt mc tiờu ca chin lc d phũng ny
[10][33][69].
1.9.Quỏ trỡnh nghiờn cu bnh bộo phỡ:
Cỏc biu hin lõm sng ca bnh bộo phỡ ó c ghi nhn t thi Hy lp-
La mó c[69].u th k XX, cỏc phõn tớch v cỏc d kin bo him nhõn th
1/ Dổỷ phoỡng
tng
cỏn
2/ Khuyóỳn
khờch duy trỗ
cỏn nỷng hióỷn
taỷi
3/ Kióứm soaùt
caùc bóỷnh tỏỷt
õọửng haỡnh vồùi
beùo phỗ
4/ Khuyóỳn
khờch giaớm cỏn 22
đã chứng tỏ rằng béo phì có liên quan với sự gia tăng tỷ lệ tử vong [69]. Yếu tố
gia đình trong bệnh béo phì được đề cập vào những năm 1920; bệnh Cushing và
bệnh béo phì do tổn thương vùng dưới đồi được mô tả cũng trong thời gian này
[69].Nửa đầu của thế kỷ XX, nhiều thuốc mới để điều trị béo phì được giới

đình và là gánh nặng cho quốc gia [69].
Ngày 26-29/9/2000 tại Apia (thuộc Samoa- vùng Tây Thái Bình Dương)
đã diễn ra Hội nghị về chiến lược dự phòng và kiểm soát béo phì tại vùng Thái
Bình Dương dưới sự tổ chức của WHO, Tổ chức Lương nông quốc tế (FAO),
Đội Đặc nhiệm về béo phì quốc tế (IOTF), Hiệp hội nghiên cứu về béo phì, Học
viện Khoa Học Đời Sống Quốc tế của Đông Nam Á [70].Và cũng không phải
ngẫu nhiên mà người ta chọn Samoa-một đảo quốc xa xôi-để tổ chức hội nghị
về béo phì. Samoa là một trong những nơi có tỷ lệ béo phì cao nhất thế
giới,trung bình10 người dân có đến 6-7 ngườibị béo phì [69][70]. Hội nghị đã ra
lời kêu gọi hành động làm giảm béo phì tại vùng Thái Bình Dương trong vòng
10 năm [70].
Tại Việt Nam trong vòng 10 năm trở lại đây theo thống kê của trung tâm
dinh dưỡng thành phố Hồ Chí Minh và Viện Dinh dưỡng thì béo phì ở lứa tuổi
học sinh ngày càng gia tăng [10][11][12][17][18]. Một số công trình nghiên cứu
về tình hình béo phì ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Nha Trang,Hải phòng
và một số công trình được thực hiện ở Viện Nhi nhằm nghiên cứu đặc điểm lâm
sàng, xét nghiệm và một số yếu tố nguy cơ của béo phì [1][5][6][7][8][9][24].
Một số nghiên cứu về điều trị béo phì bằng Y học dân tộc cũng đã được thực
hiện [25][29]. Tại Hội nghị thành lập Hội Dinh dưỡng Việt Nam vào ngày
20/11/2001, nhiều báo cáo liên quan đến đề tài béo phì đã được trinh bày [18] .
Trong chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng của Việt Nam giai đoạn 2001-2010
đã được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 02/2001, béo phì đã được
đề cập như một bệnh mãn tính không lây mà xu hướng đang gia tăng của nó cần 24
được khống chế [2].Gần đây nhất,vào ngày10/01/2002 Viện Dinh dưỡng và Bộ
Y tế đã tổ chức Hội nghị Khoa học với đề tài”Thừa cân và Béo phì với sức khoẻ
cộng đồng” ; tại hội nghị này có 20 báo cáo và nghiên cứu khoa học đã được
trình bày[13][14][15][16].Như vậy béo phì đã trở thành một vấn đề sức khoẻ có

2.1.1.Toàn bộ học sinh lứïa tuổi từ 6-11 tuổi tại 2 Trường tiểu học nội thành
thành phố Huế. Đó là:
+ Trường Tiểu học Lê Quý Đôn.
+ Trường Tiểu học Lê Lợi.
Chúng tôi chọn hai trường này vì đây là hai trường nằm tại trung tâm của
thành phố Huế, cơ sở vật chất tại hai trường này khá tốt. Hai trường này là nơi
mà phụ huynh học sinh thường có thu nhập tương đối cao và ổn định cho con
theo học; đồng thời thể lực đầu cấp học theo báo cáo của trung tâm Y tế học
đường-Sở Giáo dục-Đào tạo Thừa Thiên-Huế là rất tốt [28].
Chúng tôi chọn lứa tuổi 6-11 bởi thấy đây là lứa tuổi phát triển nhanh cả
về trí lực và thể lực, là lứa tuổi tăng tốc chuẩn bị cho thời kỳ trưởng thành. Lứa
tuổi 6-11 tuổi là lứa tuổi phụ thuộc chặt chẽ vào sự nuôi dưỡng của bố mẹ, thói
quen ăn uống, điều kiện kinh tế xã hội của gia đình. Đây cũng chính là lứa tuổi
đã được khảo sát qua nhiều nghiên cứu trong nước và quốc tế
[1][5][6][7][8][24].
Dự phòng béo phì xảy ra trong lứa tuổi này rất quan trọng trước khi quá
muộn vì béo phì kéo dài đến tuổi trưởng thành rất khó kiểm soát[52][69].
+Tiêu chuẩn loại trừ:
Nghiên cứu của chúng tôi loại trừ các trường hợp béo phì thứ phát (béo
phì do nguyên nhân nội tiết, do khiếm khuyết di truyền, do dùng thuốc chẳng
hạn như dùng corticoids dài ngày vì mục đích điều trị một bệnh khác). Như
trong phầön tổng quan tài liệu đã đề cập, một tiêu chí quan trọng trong thực

Trích đoạn KẾT LUẬN VĂ KHUYẾN NGHỊ TIẾNG VIỆT.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status