1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy dinh dưỡng (SDD) đang là một vấn đề sức khỏe cộng đồng được
Đảng, Nhà nước, các tổ chức quốc tế và cộng đồng quan tâm. Theo số liệu
thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2004, ước tính trên thế giới
có khoảng 150 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, trong đó có khoảng
20 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng nặng [77]. Theo Bhutta ZA và Salam RA
[47] năm 2011, 6,9 trẻ em dưới 5 tuổi chết trên toàn thế giới thì 1/3 liên quan
đến SDD, ước tính có 178 triệu trẻ em còi cọc, 55 triệu gày mòn và 19 triệu
nguy cơ cao chết yểu.
Phòng chống SDD là một trong 10 nội dung chăm sóc sức khỏe ban
đầu ở Việt Nam. Trong những năm gần đây, cùng với sự giúp đỡ của
UNICEF và các tổ chức quốc tế khác, Việt Nam đã có nhiều cố gắng nhằm
làm giảm tỷ lệ SDD. Diễn biến tình hình SDD trẻ em Việt Nam cũng ngày
càng được cải thiện một cách tích cực. Năm 1985 đến năm 2010, với chiến
lược quốc gia phòng chống SDD hợp lý và hiệu quả mức độ SDD giảm trung
bình là 1,3 %/ năm [35], [36], [37], [38], [39], [40], [41]. Tuy nhiên, theo
phân loại của Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam
vẫn còn ở mức cao, nhất là thể SDD chiều cao/tuổi (suy dinh dưỡng thấp còi),
trung bình cứ 3 trẻ lại có 1 trẻ bị SDD thấp còi [78]. Điều này đặc biệt ảnh
hưởng đến sự phát triển giống nòi sau này, những đứa trẻ thấp bé sẽ dẫn đến
một dân tộc thấp bé về sau.
Hiện nay Đảng và Nhà nước đang có chiến lược kiểm soát, phát triển
dân số biển đảo được bắt đầu từ năm 2010. Trong đó đặc biệt lưu ý đến sức
khỏe bà mẹ và trẻ em, kế hoạch hóa gia đình nhằm tạo ra công dân biển đảo
thông minh, khỏe mạnh. Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc
2
trạng dinh dưỡng như xét nghiệm sinh hóa, đo nhân trắc, đánh giá chức năng
cơ thể... trong đó việc đánh giá tình trạng dinh dưỡng bằng phương pháp đo
nhân trắc rất đơn giản và áp dụng dễ dàng trong điều kiện thực địa. Các chỉ
tiêu nhân trắc thường dùng để đánh giá tình trạng dinh dưỡng là: cân nặng
theo tuổi (CN/T), cân nặng theo chiều cao (CN/CC) và chiều cao theo tuổi
(CC/T).
Lấy chuẩn theo quần thể tham khảo của TCYTTG năm 2005 với ngưỡng
là dưới -2 SD (Standard Deviation). Người ta chia SDD thành 3 thể:
- Thể nhẹ cân (Underweight): Chỉ số cân nặng theo tuổi dưới -2 SD so
với quần thể tham chiếu. Sự nhẹ cân phản ánh sự chậm trễ chung của
quá trình tăng trưởng, không phân biệt trẻ mắc SDD đã lâu ngày hay
gần đây.
4
- Thể gầy mòn (Wasting): Chỉ số cân nặng theo chiều cao dưới -2 SD so
với quần thể tham chiếu. Thể này phản ánh tình trạng thiếu dinh dưỡng
gần đây không lên cân hay tụt cân nhưng cũng có thể lâu hơn.
- Thể thấp còi (Stunting): Chỉ số chiều cao theo tuổi dưới -2 SD so với
quần thể tham chiếu. Chiều cao theo tuổi thấp biểu hiện tình trạng SDD
trong quá khứ.
Tháng 4 năm 2006, TCYTTG đã đưa ra chuẩn phát triển mới (Child
Growth Standards) áp dụng cho trẻ em. Chuẩn này còn gọi là chuẩn WHO
2005 [18], [78]. Hiện nay, theo chuẩn mới của WHO, quần thể tham chiếu
NCHS (National Centre For Health Statistics) sẽ được thay thế bằng một quần
thể tham chiếu mới xây dựng dựa trên sự chọn mẫu tại 6 điểm đại diện cho
các châu lục và chủng tộc.
Z-score: Với Z-score, điểm ngưỡng được chọn cũng là -2 đơn vị.
Những trẻ nào có Z-score của chiều cao trên tuổi < -2 là suy dinh
số trẻ SDD nhẹ cân, 1/4 quá nhẹ cân. Các yếu tố liên quan là trẻ chỉ có bú mẹ
đơn thuần, không được bổ sung thức ăn kịp thời, không được tiêm chủng đầy
đủ, và 70% mẹ không được khám trước sinh. Can thiệp cộng đồng để làm
giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng đã đem lại kết quả tốt. Hàng năm suy dinh dưỡng
nhẹ cân giảm 4,22% và rất nhẹ cân giảm 5.64%.
Khanal V [61] nghiên cứu ở trẻ 6-23 tháng tại Nepal thấy 76,6% trẻ ăn
ít bữa, 30,4% ăn ít đa dạng, 26,5% trẻ có bữa ăn chấp nhận được ở trẻ SDD.
Về yếu tố nguy cơ với SDD tác giả thấy mẹ trên 35 tuổi, học vấn bố/mẹ thấp,
chế độ ăn không đa dạng, không chấp nhận được và mẹ không được đi khám
thai từ 4 lần trở lên trong khi có thai là yếu tố nguy cơ SDD.
Bahwere P [45] dùng sữa giàu đạm whey để can thiệp cộng đồng nhằm
làm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng gày mòn.
6
Ngoài nghiên cứu SDD tại cộng đồng còn có tác giả nghiên cứu SDD
tại bệnh viện. Ubesie AC [73] thấy trong số 212 trẻ suy dinh dưỡng trong
bệnh viện trường đại học Nigeria trẻ 6-12 tháng suy dinh dưỡng 55,7%, 13-24
tháng suy dinh dưỡng 36,8%. Trong các thể suy dinh dưỡng, marashmus gặp
với tỷ lệ là 34,9%. Tiêu chảy cấp, sốt rét và kết hợp cả 2 bệnh là các bệnh
thường gặp ở trẻ suy dinh dưỡng. Có 64,9% bệnh nhân đến từ gia đình có
điều kiện kinh tế xã hội thấp. 40,1% tử vong trong số trẻ bị suy dinh dưỡng
lâm sàng và trẻ trai tử vong nhiều hơn trẻ gái (50,9%).
Espié E và CS [56] ở Ấn Độ nghiên cứu suy dinh dưỡng và tử vong ở
trẻ dưới 5 tuổi tại hộ gia đình quận Darhanga thấy tỷ lệ trẻ bị suy dinh dưỡng
cấp 19,4% có nghĩa là trẻ đang thiếu ăn cấp.
Asres G và CS [44] tiến hành đánh giá tình trạng dinh dưỡng của trẻ
em Israel tại Ethiopia trong nghiên của mô tả, cắt ngang cho thấy tỷ lệ SDD
thấp còi là 37,2%, nhẹ cân 14,6% và gày mòn 4,5%. Trẻ 12-23 tháng có
Năm 2011 tại Nepal, Khanal V và CS [61] điều tra sức khỏe và nhân
khẩu ở 698 trẻ 6-23 tháng nhằm xác định tỷ lệ SDD và liên quan giữa khẩu
phần ăn và tình trạng SDD ở những trẻ này. Tác giả thu được kết quả như sau:
có 76,6% trẻ ăn ít bữa, 30,4% trẻ ăn ít đa dạng, 26,5% ăn bữa ăn tạm chấp
nhận được. Mẹ trên 35 tuổi, học vấn bố/mẹ thấp, bố mẹ ăn kiêng, mẹ đi khám
trước sinh dưới 4 lần cũng là yếu tố liên quan chặt chẽ đến SDD nhẹ cân ở đối
tượng nghiên cứu.
Một khía cạnh khác liên quan đến tình trạng SDD của trẻ em cũng được
các tác giả ở Kenya quan tâm nghiên cứu đó là sự mất bình đẳng giới trước
thực phẩm cung cấp ở trẻ dưới 5 tuổi [65]. Nghiên cứu được tiến hành tại
Mwingi và Makueni thuộc vùng Ukambani ở miền đông Kenya. Các tác giả
nhận thấy trẻ gái nhận thực phẩm hàng ngày ít hơn trẻ trai do đó tỷ lệ SDD
các loại đều cao hơn có ý nghĩa so với trẻ trai. Các tác giả khuyến cáo cần
8
phải có nghiên cứu định tính sâu hơn về vấn đề văn hóa, xã hội để tìm hiểu sự
bất bình đẳng này.
Nhampossa T và CS [66] ở Mozambique nghiên cứu các yếu tố liên
quan ở 274, 813 trẻ dưới 5 tuổi bị SDD. Tác giả nhận thấy những trẻ bị nhiễm
khuẩn máu, sốt rét, hạ đường máu, nấm miệng, phù, da xanh thiếu máu, tiêu
chảy cấp hay mắc SDD và khi SDD thì nguy cơ tử vong cao.
Tại Peru [52], các tác giả thiết kế mô hình theo dõi SDD toàn quốc dựa
mẫu chùm theo hộ gia đình. Các chỉ số cần theo dõi để đánh giá tình trạng
SDD của trẻ dưới 5 tuổi bao gồm đo nhân trắc, xác định nồng độ Hemoglobin
để đánh giá thiếu máu, lượng thực phẩm ăn vào hàng ngày, đo nồng độ Iod
nước tiểu và xác định nồng độ Retinol máu. Các tác giả nhận thấy đây là mô
hình lý tưởng để quản lý và theo dõi tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 5
tuổi.
giữa các địa phương [37].
Theo nghiên cứu của Viện dinh dưỡng cho thấy vào năm 2003, tỷ lệ
SDD thấp còi chung toàn quốc là 32% tức là cứ 3 trẻ dưới 5 tuổi có 1 trẻ thấp
còi. Toàn quốc có trên 3 triệu trẻ bị thấp còi. Từ năm 1999 đến nay, tỷ lệ thấp
còi hàng năm giảm 1,5%. Tuy nhiên tỷ lệ thấp còi ở các vùng Tây Bắc, Đông
Bắc, Bắc Miền Trung và Tây Nguyên còn cao dao động từ 38% - 44% [39].
Điều này cho thấy đã đến lúc chúng ta cần quan tâm hơn tới SDD chiều
cao theo tuổi và phát triển chiều cao.
10
Bảng 1.1. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam (*) qua các
năm
Năm
SDD cân nặng/ tuổi (%)
SDD chiều cao/ tuổi (%)
1985
51,5
59,7
1990
44,9
32,6
2009
32,6
31,9
2010
17,5
29,3
(*) Nguồn Viện dinh dưỡng 1985 – 2010
Về phân bố tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi không đồng đều
giữa các vùng sinh thái khác nhau trong toàn quốc. Khu vực có tỷ lệ trẻ SDD
hiện nay vẫn còn ở mức cao hoặc rất cao là Tây Nguyên và khu vực miền núi
phía Bắc [39].
Bảng 1.2. Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em năm 2007 tại Việt Nam (*) ở các
khu
STT
Khu vực
SDD cân nặng/ Tuổi
(%)
SDD chiều
cao/Tuổi (%)
Bắc Trung Bộ
25,0
36,2
5.
Nam Trung Bộ
20,7
33,2
6.
Tây Nguyên
31,0
42,3
7.
Đông Nam Bộ
17,9
28,1
ăn kiêng khi trẻ tiêu chảy, học vấn mẹ thấp từ THCS và dưới, mẹ làm nghề đi
biển/nuôi trồng thủy sản và gia đình nghèo.
Ngoài ra Khổng Hữu Cương [5] nghiên cứu thực trạng suy dinh dưỡng
và một số yếu tố liên quan tới suy dinh dưỡng thấp còi ở trẻ dưới 5 tuổi huyện
12
Vĩnh Bảo, Hải Phòng năm 2015. Trần Thị Hòa [11] cũng nghiên cứu thực
trạng SDD trẻ em và kiến thức của mẹ có con dưới 5 tuổi tại quận Lê Chân,
Hải Phòng, năm 2011.
Nghiên cứu SDD ở Việt Nam không những được tiến hành tại cộng
đồng mà còn được tiến hành tại bệnh viện. Huong PT và CS [60] nghiên cứu
tỷ lệ SDD ở bệnh nhân vào bệnh viện cấp cứu ở Hà Nội Việt Nam. Trong số
108 trẻ em đến 6 tháng tuổi tỷ lệ SDD nhẹ cân chiếm 19%.
1.4. Một số nguyên nhân và yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng
của trẻ em
1.4.1. Nguyên nhân trực tiếp
Thiếu ăn, hay cách khác là đói nghèo là một trong những nguyên nhân
trực tiếp của SDD. Ngày nay những nguyên nhân của đói nghèo đã được xác
định rõ ràng là giáo dục kém phát triển, bùng nổ dân số, thất nghiệp, bất ổn về
chính trị, thiếu tư liệu sản xuất như thiếu vốn và dụng cụ... người nghèo
thường không có khả năng thay đổi hoàn cảnh của họ vì không có điều kiện
tiếp cận giáo dục, đào tạo, thực phẩm, dịch vụ chăm sóc sức khỏe, vốn và các
phương tiện khác cho cuộc sống [28], [30], [42].
- Bệnh tật kèm theo và chế độ ăn uống không hợp lý là 2 nguyên nhân
có xu hướng tạo vòng xoắn bệnh lý, bệnh tật thường làm trẻ chậm lớn. Các
bệnh nhiễm khuẩn cấp và mãn tính làm rối loạn chuyển hóa, giảm hấp thu,
mất các chất dinh dưỡng, thiếu vi chất và giảm ngon miệng do đó trẻ thường
giảm cân hoặc tăng cân chậm, giảm miễn dịch tổn thương niêm mạc dẫn đến
trọng để bảo vệ cơ thể trẻ, chống nhiễm khuẩn mà thức ăn khác không thể
thay thế được.
Nguyễn Đình Quang nghiên cứu trên 425 cặp mẹ và con ở nội thành và
ngoại thành Hà Nội cho thấy tỷ lệ trẻ được bú sớm trong vòng nửa giờ đầu
14
sau khi sinh là 30%, tỷ lệ bú muộn trong vòng 24h là 20,1% [24]. Nghiên cứu
của Viện dinh dưỡng Quốc gia về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em và bà mẹ
Việt Nam năm 2000 cho thấy vùng núi phía Bắc tỷ lệ trẻ được bú sữa mẹ
hoàn toàn trong 4 tháng đầu là 18,5%, bú sữa mẹ cộng với uống các loại nước
khác trong 4 tháng đầu năm là 45,5% [21].
1.5.2. Điều kiện nuôi dưỡng trẻ, nuôi con bằng thức ăn bổ sung
Sữa mẹ là thức ăn đầu tiên và tốt nhất cho trẻ nhưng không thỏa mãn
nhu cầu cho cơ thể ngày càng lớn lên của trẻ. Do đó cần cho trẻ ăn thêm thức
ăn bổ sung từ tháng thứ 6 trở đi để phòng ngừa bệnh SDD, còi xương và thiếu
máu.
Ăn sam là quá trình tập cho trẻ thích ứng với sự chuyển đổi chế độ ăn
hoàn toàn dựa vào sữa mẹ sang một chế độ ăn sử dụng đều đặn các sản phẩm
sẵn có trong bữa ăn gia đình. Cho trẻ ăn bổ sung quá sớm, trẻ không hấp thu
được dễ bị rối loạn tiêu hóa. Ngược lại, ăn bổ sung quá muộn trẻ thường hay
bị thiếu vi chất dinh dưỡng và năng lượng. Bên cạnh đó, cách cho ăn bổ sung
không đúng về số lượng và chất lượng, thiếu vệ sinh cũng dẫn đến SDD và
bệnh tật. Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào người chăm sóc. Vì vậy kiến thức
của bà mẹ về dinh dưỡng và sức khỏe đóng vai trò quan trọng [2], [8], [10].
1.5.3. Yếu tố kinh tế xã hội
Suy dinh dưỡng luôn là một vấn đề liên quan đến tình trạng kinh tế xã
hội bao gồm các vấn đề: Nghề nghiệp chính, phụ, thu nhập của gia đình, giá
cả thực phẩm, quy mô gia đình, điều kiện nhà ở, vệ sinh thực phẩm và nguồn
Tỷ lệ SDD nặng ở trẻ có dị tật bẩm sinh cao hơn so với nhóm trẻ không có dị
tật bẩm sinh.
Nước sạch và các công trình vệ sinh: Điều kiện vệ sinh môi trường thấp
kém như: nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm, hố xí không hợp vệ sinh, nhà ẩm
thấp, sử dụng nguồn nước không sạch để nấu thức ăn, tắm giặt cho trẻ, xử lý
16
nước thải... đã làm tăng tỷ lệ SDD và bệnh tật cao hơn so với điều kiện vệ
sinh môi trường tốt hơn. Sức ép của dân số cũng ảnh hưởng đến tình trạng
dinh dưỡng trẻ em trong một vùng sinh thái, với cùng một thu nhập, nếu số
con trong một gia đình đông sẽ dẫn đến tăng tỷ lệ SDD ở trẻ em.
Người mẹ trước và trong khi mang thai ăn uống không đầy đủ dẫn đến
thiếu dinh dưỡng và có thể đẻ ra đứa con nhẹ cân, còi cọc. Đứa trẻ bị SDD từ
bào thai sẽ bị SDD sau này. Người mẹ bị SDD, ăn uống kém trong những
tháng đầu sau đẻ dễ bị thiếu sữa hoặc mất sữa do đó đứa con dễ bị SDD.
Nghề nghiệp, trình độ học vấn thấp, thiếu kiến thức nuôi dạy con, thời
gian người mẹ dành để chăm sóc con không đầy đủ là những yếu tố liên quan
đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ, đặc biệt là các bà mẹ trẻ, các bà mẹ vùng
núi cao, nông thôn, hải đảo ven biển. Trong số các trẻ em bị SDD vào viện,
người ta thấy có khoảng 60% là do ăn uống, là do bà mẹ thiếu kiến thức nuôi
con.
Những nơi có dịch vụ y tế chất lượng cao thì việc khám xét và điều trị
hợp lý cũng như dự phòng tốt (tiêm phòng đầy đủ, phòng chống nhiễm
khuẩn...) đã giúp cho trẻ tránh bị mắc các bệnh nặng nề ảnh hưởng đến sự
phát triển thể chất sau này của trẻ.
1.6. Cơ chế bệnh sinh gây suy dinh dưỡng
Chế độ ăn không cung cấp đầy đủ protein – năng lượng, các vi chất
dinh dưỡng cần thiết và cũng có khi bệnh nhiễm trùng thường xuyên làm cho
Là trẻ em dưới 60 tháng tuổi và bố mẹ hoặc người chăm sóc của các
cháu tại 3 phường Đại Yên, Bạch Đằng và Hà Trung, thành phố Hạ Long,
tỉnh Quảng Ninh.
Chúng tôi loại ra khỏi nghiên cứu những trẻ bị các di chứng nặng về
thần kinh hay các trẻ mắc các bệnh bẩm sinh khác về tiêu hóa, nội tiết, tim
mạch vì bản thân các cháu bị mắc các bệnh trên cũng trong tình trạng suy
dinh dưỡng rồi.
Chúng tôi cũng loại khỏi nghiên cứu những trẻ không được gia đình
đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Địa điểm
Nghiên cứu được tiến hành tại 3 phường của thành phố Hạ Long như
Đại Yên, Bạch Đằng và Hà Trung của tỉnh Quảng Ninh.
- Phường Đại Yên có tổng dân số là 9495 dân, số trẻ dưới 5 tuổi là 663
trẻ.
+ Phía Nam giáp phường Tuần Châu, TP. Hạ Long.
+ Phía Bắc giáp xã Quảng La, H. Hoành Bồ
+ Phía Đông giáp phường Việt Hưng, TP. Hạ Long
+ Phía Tây giáp xã Minh Thành, TX. Quảng Yên.
Cơ cấu nghề nghiệp:
Nông nghiệp : 50 %
19
Công nghiệp : 30 %
Ngư nghiệp : 10 %
Dịch vụ :
10 %
- Số phòng : 7
- Số cán bộ y tế của trạm : 5 người, cán bộ y tế thôn, đội : 14 người
Trạm Y tế Hà Trung:
Diện tích trạm y tế: 105 m2, diện tích sử dụng : 75 m2
- Số phòng : 4
- Số cán bộ y tế của trạm : 3 người, cán bộ y tế thôn, đội : 9 người
Mục tiêu của chúng tôi là nghiên cứu trẻ suy dinh dưỡng và một số yếu
tố liên quan tại phường Đại Yên, Hà Trung và Bạch Đằng đáp ứng yêu cầu
này.
2.1.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 4/2015 - tháng 11/ 2015.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
2.2.2. Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức sau [27]:
n Z12 /2
p(1 p)
d2
21
Trong đó:
- n : Cỡ mẫu (số trẻ dưới 60 tháng tuổi cần điều tra)
- p : Tỷ lệ SDD của nghiên cứu trước là 19,75% [13]
- d : Sai số cho phép là 5%
- Z(1-α / 2) = 1,96 (Với độ tin cậy 95%)
cấp trong vòng 2 tuần).
- Về phía bà mẹ : tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, kinh tế, tình trạng
quản lý thai nghén trước khi sinh, uống viên sắt, Iốt, vitamin A, gia đình đông
con, nguồn nước, nhà vệ sinh không đảm bảo...
2.3.3. Định nghĩa một số biến
- Đẻ nhẹ cân: cân nặng khi sinh dưới 2500g không kể tuổi thai là bao
nhiêu.
- Cai sữa sớm: Cai sữa trước 18-24 tháng.
- Ăn sam sớm: ăn sam trước 4-6 tháng.
- Bú mẹ sớm: bú mẹ trong vòng 2 giờ sau khi sinh.
- Không được bổ sung đủ vi chất dinh dưỡng: Không được uống
vitamin A, viên sắt, Iod đầy đủ theo lịch.
- Tiêu chảy cấp: Trẻ mắc tiêu chảy cấp trong vòng 2 tuần đến khi tiếp
xúc với người nghiên cứu.
- Nghèo (QĐ số 09/2011QĐ-TTg ngày 30/1/2011): Hộ thu nhập dưới
400.000đ/người/tháng là hộ nghèo. Hộ cận nghèo thu nhập từ 401.000đ420.000đ/người/tháng.
- Nước không an toàn là nước lấy từ ao hồ, sông ngòi không qua xử lý
mà dùng trực tiếp, nước dùng bị nước mặn xâm nhập.
23
- Học vấn thấp: học vấn từ THPT và dưới.
- Nghề nghiệp mẹ: nghề đi biển, nuôi trồng thủy sản
- Tuổi mẹ: dưới 25 tuổi và trên 25 tuổi
- Sống vùng bị ngập mặn: thường xuyên bị nước thủy triều xâm thực
2.3.4. Thu thập thông tin
Trước khi tiến hành nghiên cứu chúng tôi tiến hành tập huấn kỹ cho
nhóm nghiên cứu (10 người là nhân viên y tế và tác giả) về cách cân trẻ, kỹ
năng phỏng vấn mẹ đối tượng nghiên cứu.
Phỏng vấn bố/mẹ đối tượng nghiên cứu về điều kiện kinh tế - xã hội,
nhân khẩu, quá trình quản lý thai nghén, nuôi con nhất là nuôi con bằng sữa
mẹ của bà mẹ... theo bộ công cụ đã được thiết kế trước.
2.4. Các sai số có thể gặp và cách khắc phục
2.4.1. Các sai số có thể gặp
- Sai số nhớ lại: do trong nghiên cứu có nhiều thông tin cần hồi cứu qua
việc hỏi các bà mẹ nên có thể có một số sai sót nhất định.
- Sai số do thu thập thông tin:
+ Một số thông tin được thu thập qua bộ câu hỏi, do đó có một phần
phụ thuộc vào tính chủ quan của cộng tác viên trong việc đưa ra câu hỏi hoặc
thu thập phản hồi.
+ Việc thu thập các chỉ số nhân trắc nhiều khi không được thực hiện
đúng thường quy.
2.4.2. Cách khắc phục các sai số
- Đánh giá thử trước khi tiến hành nghiên cứu từ đó thiết kế bộ câu hỏi
dễ hiểu, không phụ thuộc nhiều vào yếu tố chủ quan của người hỏi và người
trả lời.
25
- Tập huấn kỹ cho cộng tác viên, thống nhất cách thu thập số liệu.
- Xây dựng, triển khai tốt hệ thống giám sát,…tuân thủ các nguyên tắc
điều tra cộng đồng.
2.5. Xử lý số liệu
Dùng Epi Info mới của WHO để tính Z-score của cân nặng theo tuổi,
sau đó chuyển sang phần mềm thống kê y - xã hội học SPSS 16.0 để tính tỉ lệ
SDD và một số yếu tố liên quan.
Phân tích đơn biến:
- So sánh 2 tỷ lệ % = χ2, có sự khác biệt khi p