ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THÁI YÊN HƯƠNG QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH LIÊN BANG MỸ VÀ
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI - VĂN HOÁ MỸ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC HÀ NỘI – 2003
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SỬ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GIÁO SƯ LƯƠNG NINH HÀ NỘI – 2003
MỤC LỤC Lời mở đầu
1
1. Lý do chọn đề tài
1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
4
3. Phạm vi nghiên cứu
9
4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
12
5. Đóng góp của luận án
xác lập Liên bang Mỹ
54
2.1 Các tiền đề dẫn đến cuộc cách mạng dân chủ tư sản Mỹ
55
2.1.1 Nước Anh và các thuộc địa ở Mỹ thời kỳ trước cách mạng
56
2.1.2 Cơ sở tư tưởng và lý luận dẫn đến cách mạng
58
2.1.3 Mâu thuẫn dẫn đến cách mạng
61
2.2 Cách mạng Mỹ và sự ra đời Liên bang Mỹ
64
2.2.1Đại hội lục địa và bản Tuyên ngôn độc lập
64
2.2.2 Thống nhất các bang trong nhà nước Liên bang
72
2.3 Liên bang Mỹ thống nhất và phát triển
85
2.3.1 Hoàn thiện nhà nước về kinh tế và xã hội
86
2.3.2 Chính sách đối ngoại của Liên bang Mỹ thời kỳ đầu
90
2.3.3 Vấn đề ly khai và Nội chiến Nam - Bắc
96
2.4 Sự hình thành những nền tảng đầu tiên của đời sống Mỹ
102
2.4.1 Sự định hình dân cư Mỹ
102
2.4.2 Nô lệ da đen ở nước Mỹ
165
3.3.1 Sự thể hiện của tính đa sắc tộc, sự đa dạng và linh hoạt trong
chính sách đối ngoại của Mỹ
166
3.3.2 Vấn đề kiểm soát và cân bằng giữa Tổng thống và Quốc hội trong
quá trình hoạch định chính sách đối ngoại Mỹ
169
3.3.3 Xu hướng mở rộng ảnh hưởng của Mỹ
172
3.3.4 Quan điểm về chủ nghĩa “ngoại lệ” Mỹ
174
3.4 Tiểu kết
177
Kết luận
179
Danh mục các công trình của tác giả đã được công bố
185
Tài liệu tham khảo
186
Phụ lục
202 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nằm ở phía bắc châu Mỹ, Liên bang Mỹ
1
là một quốc gia trẻ với tuổi đời mới
1.2 Nước Mỹ là một quốc gia có nền văn hoá đa dạng, gồm các nhóm cộng đồng
dân cư với những khác biệt về sắc tộc, tôn giáo, thành phần xã hội và khu vực cư trú.
Việc hiểu được những nhân tố đã tập hợp các nhóm cộng đồng bất chấp mọi khác biệt
để hình thành nên nước Mỹ, góp phần đưa nó phát triển và thịnh vượng cũng quan
trọng không kém việc hiểu được tính đa dạng của chính những nhân tố đó. Liên bang
Mỹ đã xây dựng được một hệ thống chính trị ổn định và một nền kinh tế phát triển, có
năng suất cao, đồng thời cũng tạo nên một nền văn hoá đại chúng làm sống động thêm
kinh nghiệm và nhận thức của người dân đất nước này và cả các dân tộc khác trên thế
giới. Mọi người có thể đề cao hoặc phê phán những yếu tố từng góp phần làm cho
Liên bang Mỹ trở thành một quốc gia giàu có và cũng từng làm cho quốc gia này có
hành động phi đạo lý, có khi chịu những thất bại nhưng không ai có thể phủ nhận hoặc
bỏ qua những yếu tố đó khi nghiên cứu lịch sử nước Mỹ.
1.3. Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia - dân tộc đều có những giai đoạn
lịch sử đã để lại những dấu ấn quan trọng tạo nên nền tảng cơ bản cho quốc gia - dân
tộc đó. Ví dụ, đối với Trung Quốc, mặc dù nhà Tần chỉ thống trị toàn bộ lãnh thổ lục
địa trong một thời gian ngắn, nhưng nó đã mở đầu cho chế độ phong kiến tồn tại hơn
2000 năm trong lịch sử nước này. Đối với nước Anh, giai đoạn cách mạng công
nghiệp diễn ra trong khoảng giữa thế kỷ XVIII có thể coi là thời kỳ quan trọng đưa
nước Anh lớn mạnh thành đế quốc hàng đầu ở châu Âu, có vai trò quyết định đối với
vận mệnh của nhiều quốc gia khác. Liên bang Mỹ - một quốc gia có sức phát triển và
đi lên không ngừng - chính giai đoạn hình thành, mở rộng và thống nhất về mặt chính
trị, lãnh thổ và pháp lý lại có ý nghĩa quan trọng đưa nước Mỹ trưởng thành trong thế
kỷ tiếp sau. Lý do chính là trong một thời gian không dài, khoảng vài thế kỷ kể từ khi
chuyến tàu đầu tiên đưa người Anh đặt chân lên mảnh đất Bắc Mỹ đến khi nước Mỹ
trở thành một cường quốc thế giới, người Mỹ đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản
của một quốc gia như tuyên bố khai sinh một quốc gia độc lập với một bản Hiến pháp
có giá trị lâu bền, giải quyết được vấn đề ly khai của một số bang miền Nam và thống
nhất các bang trong Liên bang Mỹ. Mặc dù, quá trình hình thành Liên bang Mỹ đã
được các nhà sử học ở Mỹ, ở các nước châu Âu bàn đến nhiều, nhưng vẫn sẽ có ích
cho việc nghiên cứu Mỹ, hiểu được nước Mỹ và con người Mỹ nếu như ở nước ta có
giao đến nay mới có một số công trình được công bố, mà phần lớn dành cho hệ thống
chính trị Mỹ, chính sách đối ngoại, kinh tế đối ngoại của Mỹ hoặc chiến lược an ninh
của Mỹ đối với một số khu vực và một số nước. Có thể kể đến một số công trình như:
Hoa Kỳ - tiến trình văn hoá chính trị (Nxb. Khoa học Xã hội, 1999) do Phó Giáo sư
Đỗ Lộc Diệp chủ biên; Hệ thống chính trị Mỹ (Nxb. Khoa học Xã hội, 2001) của
Tiến sĩ Vũ Đăng Hinh. Các tác phẩm này chủ yếu tập trung phân tích và trình bày về
các nhánh trong hệ thống chính trị Mỹ, đến mối quan hệ được gọi là “tam quyền phân
lập” giữa các nhánh đó. Cho đến nay chưa có một công trình nào viết về lịch sử hình
thành Liên bang Mỹ, nhất là theo cách tiếp cận của Việt Nam, nên có lẽ đây là cơ hội
để tác giả cố gắng thực hiện mục đích nghiên cứu của mình như đề tài luận án đã xác
định.
Liên quan đến lĩnh vực lịch sử nước Mỹ một số công trình nghiên cứu đã được xuất
bản như: Lịch sử thế giới Trung đại, tập II: chương Châu Mỹ tiền Columbus (Nxb.
Giáo dục, 1976) của Giáo sư Lương Ninh; Lịch sử thế giới cận đại (Nxb. Giáo dục,
1998) của Giáo sư Vũ Dương Ninh và Phó Giáo sư Nguyễn Văn Hồng, chương 3:
Cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ và sự thành lập
nƣớc Mỹ, chương 8: Nƣớc Mỹ nửa đầu thế kỷ XIX và cuộc nội chiến. Các công trình
này đề cập một cách cơ bản về các vấn đề liên quan đến quá trình hình thành Liên
bang Mỹ.
Về lĩnh vực văn hoá xã hội, Hồ sơ văn hoá Mỹ của nhà nghiên cứu văn hoá Hữu
Ngọc (Nxb. Thế giới, 1995) cho đến nay vẫn được coi là một công trình tư liệu mang
tính văn học đề cập bao quát về xã hội và văn hoá Mỹ. Sách dịch liên quan đến đời
sống xã hội và văn hoá thì cuốn Cuộc sống và các thiết chế ở Mỹ (Nxb. Chính trị
Quốc gia, 2000) của tác giả Doughlas K. Stevenson đã đề cập khá toàn diện đến mọi
lĩnh vực liên quan đến xã hội và văn hoá Mỹ. Liên quan đến lý luận về đặc điểm xã
hội - văn hoá Mỹ, cuốn Văn minh Hoa Kỳ (Nxb. Thế giới, 1998) của Jean - Pierre
Fichou có thể coi là cuốn cơ bản. Tạp chí Châu Mỹ ngày nay cũng đăng tải khá nhiều
bài liên quan đến các lĩnh vực của cuộc sống xã hội Mỹ, có thể điểm qua tên một số
bài trong thời gian gần đây như sau: Các giá trị và giả định ở Mỹ (số 1 năm 2000) của
Đinh Lệ Châu; Mark Twain: Hài hƣớc là một điều vĩ đại (số 2 năm 2000) của Lê Huy
bang Mỹ của nhiều giới khác nhau như học giả, quan chức chính phủ và cả giới thông
tin đại chúng. Công trình này đã tập hợp được một loạt các bài nghiên cứu thể hiện
được mối quan tâm đến quá trình hình thành một số đặc điểm cũng như một số cách
ứng xử trong xã hội Mỹ, trong đó đáng chú ý nhất là bài viết From Immigration to
Acculturation của Arthur Mann về quá trình tiếp biến văn hoá của các cộng đồng
người Mỹ thời kỳ thành lập Liên bang Mỹ. Tác giả đã phân tích dưới nhiều góc độ
như mức độ nhập cư vào lãnh thổ Liên bang Mỹ theo con số thống kê để nói đến sự đa
dạng về chủng tộc của người Mỹ; cách thức chính phủ quản lý một xã hội đa sắc tộc -
đó chính là một hệ thống luật pháp được mọi người dân tuân theo; và cả sự bất đồng
trong chính xã hội Mỹ, đó là vấn đề phân biệt chủng tộc, sự đa dạng về tôn giáo,v.v.
Khi nói về con người và xã hội Mỹ thì không thể không nói đến một số tác phẩm
được một số học giả nước ngoài viết về thời kỳ đầu khi quốc gia mới hình thành và
đến nay vẫn được nhiều nhà xã hội học nghiên cứu về Mỹ và sử học sử dụng. Đó là
cuốn Democracy in America
2
(1955) của Alex de Tocqueville, được xuất bản lần đầu
tiên vào năm 1835 và sau đó tái bản vào các năm 1840 và 1955 - Đại học Virginia,
Vintage Book, New York. Hiện nay “Democracy in America” vẫn là tác phẩm được
nhiều nhà nghiên cứu nói đến khi nghiên cứu về xã hội và con người Mỹ, bởi vì hơn
một thế kỷ qua kể từ khi nó được ra đời, tác phẩm này đã cung cấp cho người đọc một
lượng thông tin xác đáng qua sự mô tả và phân tích liên quan đến hầu hết các khía
cạnh của nước Mỹ thời kỳ Tổng thống Andrew Jackson. Điều mà Tocqueville đem lại
cho người đọc trong “Democracy in America” không phải là các câu trả lời hoặc các
học thuyết mà là những câu hỏi và nhận xét về hệ thống chính trị và văn hoá chính trị
của nước Mỹ. Tuy vậy, suy nghĩ của ông cũng mang khá nhiều tính giả định cần
được kiểm nghiệm. Ông đã cho người đọc hiểu người Mỹ thời kỳ của ông và cả một
bộ phận văn hoá thời kỳ sau này. Mặc dù không có điều kiện đi sâu vào quá trình phát
triển một nền công nghiệp ở Liên bang Mỹ nhưng ông đã có những dự đoán khá chính
xác. Theo cách nhìn nhận của ông thì chủ nghĩa cá nhân thúc đẩy chủ nghĩa tự do,
thúc đẩy mục đích tìm lợi nhuận của các nhà tư bản với tất cả sự năng động, sáng tạo
quốc gia. Turner đã viết: “Chính nhờ những người tiên phong mà trí tuệ Mỹ tạo nên
những đặc tính đáng chú ý của mình”. Ông cũng lập luận rằng toàn bộ đặc tính của
dân tộc đã được xây dựng từ tiền đề đầu tiên - công việc khai phá miền tây luôn gắn
liền với việc khai khẩn đất đai, lao động và cả sự mạo hiểm.
Các công trình kể trên đã góp phần quan trọng trong việc gợi ý suy nghĩ, thôi thúc
người viết cần phải tìm hiểu một cách hệ thống hơn về nước Mỹ. Mặc dù đây là một
đề tài rộng và không ít khó khăn nhưng chính chủ đề của luận án lại là một sự gợi mở
cho công việc nghiên cứu tiếp theo trong tương lai. 3. Phạm vi nghiên cứu
3.1. Phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Về thời gian lịch sử:
Luận án phân tích quá trình hình thành Liên bang Mỹ từ thời kỳ trước chuyến đi
phát kiến của Christopher Columbus đến năm 1865, khi cuộc nội chiến Bắc - Nam kết
thúc. Giai đoạn tái thiết sẽ được đề cập nhưng không đi sâu phân tích, bởi vì đến thời
kỳ này Liên bang Mỹ đã trải qua những giai đoạn khai phá đầu tiên và đi tới thống
nhất về mặt pháp lý cũng như trên thực tế. Sau khi tuyên bố độc lập với việc Hiến
pháp Liên bang bắt đầu có hiệu lực nhà nước Liên bang đã đi vào hoạt động. Trên
phương diện chính trị và pháp lý Liên bang Mỹ đã thống nhất. Tuy nhiên, vẫn còn sự
phân biệt giữa miền Bắc và miền Nam. Nội chiến là sự kiện giải quyết được vấn đề ly
khai, góp phần thống nhất Liên bang Mỹ trên thực tế. Đồng thời người Mỹ cũng cơ
bản hoàn thành công việc chinh phục miền Viễn Tây. Nước Mỹ bước vào giai đoạn
cách mạng mới, thực hiện cuộc Cách mạng công nghiệp để đưa Liên bang Mỹ từ một
quốc gia nông nghiệp thành một quốc gia công nghiệp có sức mạnh kể từ thế kỷ XX.
3.1.2 Về nội dung:
Luận án tập trung giới thiệu những nét cơ bản của “Quá trình hình thành Liên
bang Mỹ và những đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ”, không đi sâu trình bày một cách
cụ thể hoặc chi tiết toàn bộ lịch sử hình thành Liên bang Mỹ. Bởi lịch sử hình thành
Liên bang Mỹ là một đề tài rộng, hơn nữa dưới dạng thông sử nhiều tác phẩm nước
chính sách đối ngoại. Việc phân tích mối quan hệ này sẽ giúp chúng ta có thêm kinh
nghiệm trong quá trình quan hệ hợp tác và đấu tranh với nước Mỹ.
3.2. Lý do chọn tên “Liên bang Mỹ”
Sau chuyến đi phát kiến của Christopher Columbus, vùng đất châu Mỹ chỉ được
người châu Âu biết đến dưới cái tên gọi Tân Thế giới (New World) để phân biệt với
châu Âu vẫn được coi là Cựu Thế giới (Old World). Đến năm 1507, một nhà hoạ đồ
người Đức, ông Walselmuller đã gọi lục địa này là Mỹ - “America”, dựa theo tên của
một nhà hàng hải người Ý - Amerigo Vespucci (tên thánh của ông là Amerigho). Có
người cho rằng ông đã đổi tên của mình thành Amerigo sau chuyến đi sang Tân Thế
giới vốn có một bộ tộc da đỏ là Amerrique sinh sống, một khu vực có nhiều mỏ vàng
[78, tr. 16-22]. Trong thời kỳ thuộc địa, 13 thuộc địa đầu tiên thường được biết đến
dưới cái tên Các thuộc địa thống nhất “United Colonies” hoặc là Các bang Mỹ
“American States” [132, tr. 152]. Trong bản Tuyên ngôn độc lập, tên Liên bang Mỹ
“The United States of America” được sử dụng và tiếp tục được nhắc đến trong điều lệ
Hợp bang và được khẳng định lại trong Hiến pháp Liên bang. Mặc dù vậy, trên thực tế
ngay cả trong một số văn bản như trong Hiệp ước ký với Pháp (6 tháng 2 năm 1778)
nước Mỹ vẫn được gọi với cái tên “Mƣời ba bang của Liên bang Bắc Mỹ” [132, tr.
153]. Phải đến tháng 7 năm 1778, trong một văn bản do Quốc hội đệ trình, chữ Bắc
“North” được loại bỏ khỏi tên chính thức của nước Mỹ [132, tr.153].
Trong cách sử dụng và gọi nước Mỹ từ trước đến nay ở Việt Nam chủ yếu vẫn phổ
biến cách gọi “Mỹ”, “Hoa Kỳ”, “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ” hoặc “Hợp chúng quốc
Hoa Kỳ”. Các cách gọi trên là dựa vào cách dịch của nước ngoài, nhằm phần nào thể
hiện nước Mỹ là một đất nước đa chủng tộc. Trong Hiệp định Paris ký vào năm 1973
nhằm lập lại hoà bình ở Việt Nam, từ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ đã được hai quốc gia
chính thức sử dụng trong các vấn đề, nội dung của Hiệp định.
Tuy vậy, thực tế tổ chức nhà nước và hệ thống pháp luật của nước Mỹ hoàn toàn là
theo hệ thống liên bang. Mỗi bang có tổ chức quản lý riêng của mình nhưng vẫn chịu
sự chi phối của Tổng thống và Quốc hội Liên bang. Toà án cũng là hệ thống toà án
Liên bang và toà án bang. Chính vì vậy, tác giả luận án chọn Liên bang Mỹ làm tên
tập, tập 22 bài “Cuộc bầu cử Tổng thống ở Mỹ” viết năm 1845 (trang 495) (NXB
Chính trị Quốc gia), tập 21: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tự hữu và của nhà
nước của Ănghen và tập 23: chương 25 - Học thuyết hiện đại về chủ nghĩa thực dân;
được sử dụng nhằm nâng cao tính khoa học của luận án.
4.1.4 Các bài viết của các học giả trong nước được đăng tải trên các sách, báo, tạp
chí khoa học như tạp chí Châu Mỹ ngày nay hay tạp chí Nghiên cứu lịch sử được lưu
trữ tại các thư viện hoặc các viện nghiên cứu.
4.1.5 Thông tin, tri thức thu nhận được qua các buổi trao đổi, phỏng vấn một số
giáo sư sử học Mỹ trong những chuyến đi nghiên cứu của tác giả luận án tại Mỹ và
các bài giảng của một số giáo sư Mỹ sang thỉnh giảng tại Trường đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội), đã gợi ý cho tác giả luận án nhiều ý kiến xác
đáng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành công trình này.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
- Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -
Lê nin được sử dụng làm cơ sở phương pháp luận.
- Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử. Thông qua các tư liệu gốc,
sự kiện và đặt chúng trong bối cảnh lịch sử và diễn biến theo thời gian để trình bày
các vấn đề, trên cơ sở đó khái quát toàn bộ quá trình hình thành Liên bang Mỹ từ thời
kỳ trước khi có sự xuất hiện của người châu Âu cho đến khi hệ thống Liên bang được
hoàn thiện để từ đó rút ra nhận xét về đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ.
- Các phương pháp nghiên cứu liên ngành như phương pháp so sánh và phương
pháp xã hội học cũng được sử dụng ở một mức độ nhất định trong luận án. Dựa trên
những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học đã được công bố trong nhiều năm, tác
giả luận án tập trung đi sâu tìm hiểu, phân tích mối quan hệ giữa quá trình hình thành
Liên bang và quá trình hình thành nên một số đặc điểm xã hội - văn hoá tiêu biểu.
- Ngoài ra, một số phương pháp thống kê, tổng hợp, cũng được sử dụng nhằm
thể hiện chủ đề nghiên cứu.
5. Đóng góp của luận án
5.1. Đây là một công trình nghiên cứu có hệ thống về một vấn đề cụ thể của lịch sử
Chương 2: Cuộc đấu tranh giành độc lập, quá trình hình thành và xác lập Liên bang
Mỹ
Chương này đề cập đến những mâu thuẫn và cơ sở tư tưởng dẫn đến cuộc cách
mạng dân chủ tư sản Mỹ, quá trình hình thành và xác lập Liên bang Mỹ trên phương
diện lãnh thổ, kinh tế và xã hội - văn hoá, những nền tảng chính cho sự hình thành các
đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ tiêu biểu.
Chương 3: Sự hình thành những đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ
Chương này trình bày một số luận thuyết chính được sử dụng khi phân tích đặc
điểm xã hội - văn hoá và sáu đặc điểm xã hội - văn hoá được tác giả luận án xem như
là tiêu biểu của con người và xã hội Mỹ. Phần cuối của chương 3, luận án tập trung
làm sáng tỏ mối liên hệ giữa những đặc điểm xã hội - văn hoá với cách ứng xử của
Mỹ đối với các nước khác trên thế giới, mà ở đây là chính sách đối ngoại của Liên
bang Mỹ.
“Quá trình hình thành Liên bang Mỹ và những đặc điểm xã hội - văn hoá Mỹ” là
một đề tài nghiên cứu rộng và phức tạp. Hơn nữa bản thân tác giả luận án còn chưa
tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu, cho nên chắc chắn rằng
nội dung luận án sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả luận án rất mong nhận
được sự chỉ bảo, góp ý của các giáo sư, các nhà nghiên cứu để có thể bổ sung, hoàn
chỉnh nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của công trình trong tương lai.
CHƢƠNG 1
BẮC MỸ VÀ THỜI KỲ XÂM CHIẾM CỦA
CÁC QUỐC GIA CHÂU ÂU
Khi nói đến châu Mỹ, điều đầu tiên người ta thường nghĩ đến là Christopher
Colombus với phát kiến ra châu Mỹ của ông vào năm 1492. Điều này trên một góc độ
nào đó, cũng đồng nghĩa với việc thừa nhận vùng đất châu Mỹ chỉ được hội nhập vào
nền văn minh chung của nhân loại từ cuối thế kỷ XV, nhờ kết quả của những phát
minh lớn về khoa học hàng hải cùng với sự phát triển mạnh mẽ về chính trị, kinh tế và
văn hoá xã hội của châu Âu thời đó. Tuy nhiên, phát kiến ra châu Mỹ mới chỉ là bước
khởi đầu của quá trình thuộc địa hoá của người châu Âu kéo dài vài trăm năm với sự
địa đã và có lẽ sẽ còn gây nhiều tranh cãi trong giới sử học và các nhà nghiên cứu. Từ
thế kỷ XVI nhiều học giả đã tin tưởng rằng thổ dân của “Tân Thế giới” có liên quan
đến các xã hội được mô tả trong Kinh cựu ước đó là người Tartar ở châu Á, người
Scythian ở Đông Nam Âu và người Hebrew cổ. Vào năm 1859, nhà truyền giáo Kitô
tên là Jose de Acosta lý luận rằng các nhóm nhỏ của những người mà sau này được
coi là người Mỹ bản địa hoang dã, do đói khổ đã phải rời bỏ quê nhà và di chuyển qua
châu Á tới vùng “Tân Thế giới” khoảng 2000 năm trước khi người Tây Ban Nha
chinh phục Mexico [60, tr.15-20]. Trong khi đó, các bằng chứng về nhóm máu và các
răng người hoá thạch đã củng cố lập luận cho rằng những cư dân đầu tiên đến châu
Mỹ từ vùng Đông bắc Á nằm trong số các cuộc di dân cuối cùng diễn ra hàng loạt của
loài người [60, tr.15-20]. Tuy vậy, thời gian cụ thể của cuộc hành trình này vẫn còn
bỏ ngỏ, chưa được chứng minh.
Vào những năm đầu của thế kỷ XX còn có một giả thuyết khác của những người
theo thuyết Mạc Khải (the Theosophy) suy luận một cách thần học, thiếu cơ sở khoa
học thực tế cho rằng nguồn gốc của châu Mỹ cũng như thổ dân sống trên đó có liên
quan đến lục địa Atlantis đã bị nhận chìm dưới đáy biển cách đây khoảng 11 nghìn
năm [45, tr. 27-31]. Theo lập luận này thì lục địa châu Mỹ nhô lên khỏi đáy đại dương
vào những ngày huy hoàng của lục địa Atlantis và có mối liên kết về phía tây với Ấn
Độ.
Trong tác phẩm “Một dân tộc và một quốc gia - lịch sử của Hoa kỳ” (A People and
A Nation - A History of United States), tác giả cho rằng loài người có lẽ có nguồn gốc
từ lục địa châu Phi vì người ta đã khai quật và tìm ra được ở Êthiôpi những hoá thạch
xương gần giống con người có niên đại khoảng 3 triệu năm trước đây. Nếu như theo
nhìn nhận của các tác giả thì trong vòng nhiều thế kỷ dân cư tăng trưởng ở châu lục
này đã phát tán ra các châu lục khác. Trong số đó một số người đã vượt qua eo biển
Bering đến Bắc Mỹ.
Cho tới nay các bằng chứng khảo cổ học đã minh chứng cho giả thuyết là châu Mỹ
có quá trình hình thành bắt đầu từ hàng chục ngàn năm trước khi có mặt của đoàn
thám hiểm của Columbus [45, tr. 23-31]. Trong số đó có giả thuyết được cho là có sức
thuyết phục nhất tồn tại hơn 70 năm nay cho rằng con người sang được “Tân Thế
cách đây khoảng 28 nghìn năm. Họ vốn là những thợ săn du mục, hay di chuyển theo
nhóm gia đình hoặc theo nhóm người (các bộ lạc thường gồm liên minh nhóm người
di cư) [149, tr. 5], sống trải dài trên khắp vùng đất Bắc Mỹ lẫn Nam Mỹ và biết sử
dụng giáo gỗ đầu gắn những viên đá nhọn làm phương tiện để săn bắt các loài thú lớn
sống trên vùng đất châu Mỹ cách đây khoảng 11.500 năm.
Khi thời kỳ Băng hà kết thúc, hầu hết các loại muông thú (trừ loài bò rừng) vốn
vẫn là nguồn thức ăn chủ yếu của người Mỹ bản địa bị cạn kiệt, có thể do dân cư ngày
càng tăng hoặc do sự thay đổi khí hậu mà họ phải tìm nguồn sống mới, vì vậy nông
nghiệp - một hình thức sản xuất mới đã phát triển trên lục địa châu Mỹ [149, tr. 2].
Với sự phát triển của công cụ bằng đá được mài, người Mỹ bản địa trở nên khéo léo
hơn trong việc thuần chủng nhiều loại cây cỏ mọc hoang dại trong thiên nhiên nhằm
đáp ứng nhu cầu về lương thực và thực phẩm của họ. Tuy nhiên, phải đến khoảng 5 -
7 nghìn năm trước công nguyên, ngô và những loài cây họ đậu mới được các bộ tộc
gieo trồng ở thung lũng Teotihuacan thuộc địa phận Mexico ngày nay. Các loại ngũ
cốc này có khả năng cung cấp cho con người một chế độ dinh dưỡng cân bằng về
6
Điều này được ghi nhận trong „ Notes on Virginia‟ (1784)‟: „Tôi không biết gì về những người Anh-điêng ở Nam
Mỹ. Tôi tin rằng những câu chuyện ngụ ngôn của họ cũng hiện thực giống như chuyện ngụ ngôn của Ê sôp.‟ và
trong tự truyện của ông viết năm 1820. [72, tr. 145]
lượng đạm, axit amin và carbon hydrat[88, tr. 12]. Việc gieo trồng các loại cây này
cũng đòi hỏi những kỹ thuật gieo trồng nhất định. Dần dần nông nghiệp từng bước đi
vào đời sống của người bản địa.
Công việc đồng áng có ảnh hưởng lớn đến đời sống và xã hội của người Mỹ bản
địa, làm cho họ thoát khỏi sự phụ thuộc vào đời sống săn bắn và du mục. Khi kỹ thuật
canh tác được cải tiến và phổ biến ra khắp châu Mỹ, đồng thời tạo ra khả năng dư
thừa về lương thực thì rau và ngô trở thành những nguồn lương thực đáng tin cậy và
công việc đồng áng trở nên phổ biến hơn so với săn bắn và hái lượm. Các vụ mùa đã
tạo điều kiện cho việc xây dựng những làng xóm sống định cư do lối sống du mục
hoặc bán du mục lúc này không còn phù hợp. Đến năm 300 (TCN) các làng định cư
các thành viên của nó đều nói chung một ngôn ngữ; và thứ tư là liên minh bộ lạc mà
các bộ lạc thành viên nói những ngôn ngữ riêng bắt nguồn từ một ngôn ngữ gốc. Dựa
trên những phương thức này một xã hội thị tộc khác với một xã hội chính trị hay nhà
nước ra đời. Khi mới phát hiện ra châu Mỹ, người ta không thấy xã hội chính trị như
kiểu châu Âu nào tồn tại, không thấy có công dân, nhà nước hay luật pháp. Khoảng
cách giữa các bộ lạc phát triển nhất của người Mỹ bản địa với giai đoạn đầu của thời
kỳ văn minh hiểu theo đúng nghĩa là cả một thời kỳ phát triển [23,Vol ll, tr. 54].
Tuy cơ cấu chính trị của các bộ lạc khác nhau nhưng tất cả các nền văn hoá Bắc
Mỹ đều phân chia và kết hợp quyền lực chính trị giữa hai thủ lĩnh, dân sự và quân sự.
Những thủ lĩnh này nắm chính quyền cho đến khi nào họ còn duy trì được lòng tin của
dân chúng. Bởi vậy, sự nhất trí chung của tập thể mang tính phổ biến, vượt trội hơn là
sự lãnh đạo độc tài là nét đặc trưng cho những hệ thống chính trị ở đây [149, tr. 8].
Người Mỹ bản địa thực hiện bầu cử để chọn ra các thủ lĩnh của mình. Ví dụ, theo
phong tục của người Seneca - Iroquois, khi thủ lĩnh của họ qua đời thì họ sẽ tổ chức
một cuộc họp các thành viên để tìm người kế vị. Họ phải chọn ra hai thành viên trong
thị tộc để bầu lấy một. Những người lớn tuổi trong bộ lạc có quyền nói lên sự lựa