Tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu chuyên môn bảo quản tại Trung tâm Khí tượng Thủy văn Quốc gia - Bộ Tài nguyên và Môi trường - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

DƢƠNG THỊ HOÀ

TỔ CHỨC KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU
CHUYÊN MÔN BẢO QUẢN TẠI TRUNG TÂM
KHÍ TƢỢNG THUỶ VĂN QUỐC GIA- BỘ TÀI
NGUYÊN VÀ MÔI TRƢỜNG LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH LƯU TRỮ HỌC
VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG HÀ NỘI- 2009


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
Chương 1. THÀNH PHẦN, NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM, Ý NGHĨA TÀI
LIỆU TRUNG TÂM TƯ LIỆU KTTV 11

1.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Tư
liệu KTTV 11
1.2. Thành phần, nội dung, đặc điểm của tài liệu KTTV 20
1.2.1. Thành phần, nội dung tài liệu KTTV 20
1.2.2. Đặc điểm tài liệu KTTV 34
1.3. Ý nghĩa của tài liệu KTTV 36
1.3.1. Tài liệu chuyên ngành KTTV phục vụ cho việc dự báo thời tiết 36
1.3.2. Tài liệu chuyên môn ngành KTTV phục vụ cho các ngành kinh tế 37
1.3.3. Ý nghĩa tài liệu KTTV trong an ninh, quốc phòng 40
Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC KHAI THÁC, SỬ
DỤNG TÀI LIỆU TẠI TRUNG TÂM TƯ LIỆU KTTV 42
2.1. Thực trạng tài liệu tại Trung tâm Tư liệu KTTV 42

2.2. Tình hình tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu KTTV 49
2.2.1. Những văn bản quản lý, chỉ đạo về tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu
KTTV 49
2.2.2. Các hình thức tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu KTTV 54
2.2.3. Các công cụ tra cứu tài liệu KTTV 61
2.2.4. Số lượng, đối tượng độc giả khai thác và sử dụng tài liệu KTTV 61
2.2.5. Thành phần, nội dung tài liệu KTTV được khai thác,sử dụng chủ yếu . 69
2.3. Những kết quả đạt được trong việc khai thác, sử dụng tài liệu KTTV 71
2.4 Nhận xét 74
2.4.1. Về văn bản quản lý chỉ đạo công tác tổ chức, khai thác, sử dụng tài liệu
KTTV 74


PHẦN MỞ ĐẦU

1. Mục đích, ý nghĩa của đề tài
Tài liệu lưu trữ là di sản văn hoá của dân tộc. Chính vì vậy, ngay từ xa xưa
con người đã biết lưu giữ lại những tài liệu có giá trị để khai thác và sử dụng
vào nhiều mục đích khác nhau. Đến nay, với sự phát triển không ngừng của
khoa học kỹ thuật, tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan,
tổ chức cũng ngày càng phong phú về nội dung và đa dạng về loại hình. Đây là
những tài liệu có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của đất nước. Nhưng để
tài liệu lưu trữ có thể phát huy được giá trị đích thực của nó đòi hỏi phải có
những biện pháp tổ chức, sử dụng hợp lý.
Tài liệu lưu trữ ngành khÝ tîng thuû v¨n được hình thành trong quá trình
hoạt động của các cơ quan đơn vị thuộc Trung tâm Khí tượng thuỷ văn Quốc
gia. Tài liệu này có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển kinh tế của đất nước, đối
với vấn đề an ninh quốc phòng cũng như cuộc sống hàng ngày của người dân.
Tài liệu khí tượng thuỷ văn (viết tắt là KTTV) ghi lại những mốc quan
trọng của sự biến đổi thời tiết, giúp cho các cơ quan chức năng trong ngành khí
tượng thuỷ văn nghiên cứu về sự biến đổi thời tiết từ đó có thể dự báo về những
hiện tượng thời tiết nguy hiểm. Nhờ đó, chúng ta có thể phòng chánh được
những thiên tai bất ngờ do thời tiết gây ra như bão, lũ, lụt, hạn hán, sóng

thực đối với công tác giảng dạy của chúng tôi.
Với những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Tổ chức khai thác, sử
dụng tài liệu chuyên môn bảo quản tại Trung tâm Khí tượng thuỷ văn Quốc
gia- Bộ Tài nguyên và Môi trường” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Mục tiêu của đề tài
Trong phạm vi luận văn, chúng tôi tìm hiểu chủ yếu về tổ chức khai thác
và sử dụng tài liệu chuyên môn thuộc ngành Khí tượng thuỷ văn hiện đang được
bảo quản tại Trung tâm Tư liệu khí tượng thuỷ văn.
Thực hiện đề tài, chúng tôi tập trung vào những vấn đề cơ bản sau đây:
- Giới thiệu về thành phần, đặc điểm và giá trị của tài liệu KTTV
- Tìm hiểu khái quát về tình hình tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu khí
tượng thuỷ văn hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Tư liệu khí tượng thuỷ
văn
- Đề xuất giải pháp nhằm giúp Trung tâm Tư liệu KTTV thực hiện tốt
hơn công tác tổ chức khai thác và sử dụng tài lưu trữ của ngành.
3. Phạm vi nghiên cứu
Trong lưu trữ Trung tâm Tư liệu khí tượng thuỷ văn có nhiều khâu
nghiệp vụ quan trọng trong đó tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu là khâu nghiệp
vụ cuối cùng, có khả năng quyết định đến vai trò của lưu trữ. Mặt khác, trong
quá trình hoạt động ngành khí tượng thuỷ văn hình thành nhiều loại tài liệu khác
nhau như tài liệu hành chính, tài liệu phim ảnh, tài liệu bản đồ, tài liệu điện
tử…nhưng trong phạm vi luận văn này chúng tôi không đi sâu nghiên cứu tất cả
các khâu nghiệp vụ liên quan đến các loại hình tài liệu được bảo quan tại Trung
tâm mà tập trung chủ yếu vào nghiêu cứu: công tác tổ chức, sử dụng tài liệu
chuyên môn ngành khí tượng thuỷ văn tại Trung tâm Tư liệu khí tượng thuỷ
văn.
4. Đối tượng nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi tập trung nghiên cứu hai
đối tượng chính:
- Hệ thống lý thuyết về tổ chức khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ.

triển nông thôn” (Luận văn thạc sĩ khoa học của Nguyễn Thị Phương Huyền
năm 2007); “Tổ chức và sử dụng tư liệu tại viện lịch sử Đảng phục vụ nghiên
cứu lịch sử” (Khoá luận tốt nghiệp của Nguyễn Thuỳ Dương năm 2008); “Hoàn
thiện các hình thức tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ tại Trung tâm lưu
trữ Quốc gia I” (Khoá luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Hương năm 2008); “Tổ
chức khai thác, sử dụng tài liệu tại kho lưu trữ Văn phòng Quốc hội thực trạng
và giải pháp” (Luận văn thạc sĩ khoa học của Đặng Thị Thu Trang năm 2009);
Kết quả của hội thảo khoa học về tổ chức, sử dụng tài liệu lưu trữ như:
Kỷ yếu hội nghị khoa học về “Tổ chức sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ yêu cầu
chia sẻ nguồn lực thông tin theo tinh thần Pháp lệnh lưu trữ Quốc gia” ngày 14
tháng 11 năm 2004; Kỷ yếu hội nghị khoa học quốc tế về “Phát huy giá trị tài
liệu lưu trữ phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” H, 2008.
Những công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào các hướng sau đây:
- Xây dựng cơ sở khoa học cho công tác tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu
- Phân tích vai trò của tài liệu lưu trữ và tầm quan trọng của việc tổ chức
khai thác và sử dụng tài liệu phục vụ cho các nhu cầu thiết thực trong quản lý,
nghề nghiệp của mình.
- Nghiên cứu thực trạng công tác khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ tại
từng cơ quan, từng lĩnh vực cụ thể, từ đó phân tích hiệu quả của việc khai thác
sử dụng tài liệu lưu trữ trong thực tiễn.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi có tham khảo và kế thừa nội
dung về mặt lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ bao gồm các vấn đề phương pháp
luận và phương pháp tổ chức sử dụng và bảo quản tài liệu cùng nhiều vấn đề khác
trong các công trình nghiên cứu trên.
Nhìn chung, những khía cạnh mà các đề tài nghiên cứu khoa học, khoá
luận, luận văn thạc sĩ, các bài viết trên các tạp chí đã đề cập tương đối nhiều
và khá chi tiết về vai trò của công tác tổ chức khai thác và sử dụng tài liệu. Tuy
nhiên, trong thực tế chưa có đề tài nào nghiên cứu về tổ chức sử dụng tài liệu
khí tượng thuỷ văn. Vì vậy, với đề tài này chúng tôi mong muốn đưa ra một bức
tranh toàn cảnh về thực trạng công tác khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ

chức khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ nói chung và tài liệu khoa học kỹ thuật
nói riêng.
9. Bố cục của luận văn
Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, luận văn bao gồm những chương sau:
Chương I: Thành phần, nội dung, đặc điểm, ý nghĩa tài liệu Trung tâm
Tư liệu khí tượng thuỷ văn
Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu tại
Trung tâm Tư liệu khí tượng thuỷ văn
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức khai thác,
sử dụng tài liệu KTTV
Trong quá trỡnh thực hiện đề tài, chúng tôi nhận được sự giúp đỡ nhiệt
tỡnh của các cấp lónh đạo Trung tâm Tư liệu KTTV, các bạn bè đồng nghiệp
đặc biệt là sự hướng dẫn tận tỡnh của TS. Nguyên Liên Hương. Bên cạnh đó,
chúng tôi gặp không ít những khó khăn khi thực hiện đề tài này. Tài liệu KTTV
là loại tài liệu mang tính đặc thù của ngành đũi hỏi người nghiên cứu phải có
những hiểu biết nhất định về chuyên môn ngành KTTV, hơn nữa nguồn tài liệu
tham khảo về KTTV không nhiều, thủ tục xin tài liệu tại Trung tâm Tài liệu
KTTV khó khăn, phức tạp. Chính vỡ vậy, mặc dù đó rất cố gắng, nỗ lực để
hoàn thành tốt đề tài, nhưng đề tài không tránh khỏi những hạn chế. Chúng tôi
rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy cô, bạn bè, các độc giả quan
tâm để đề tài được hoàn thiện hơn.
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Lưu trữ
học và Quản trị Văn phũng, Trường Đại học Khoa học xó hội và nhân văn,
Lónh đạo Trung tâm Tư liệu Khí tượng thuỷ văn, cán bộ thư viện Trung tâm
Khí tượng thủy văn Quốc gia, bạn bè, đồng nghiệp đó tạo mọi điều kiện giúp đỡ
tôi hoàn thành luận văn. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lũng biết ơn sâu sắc tới TS
Nguyễn Liên Hương đó hướng dẫn tôi thực hiện đề tài.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 2009


diễn biến ngày càng phức tạp như hiện nay.
Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, hơn 60 năm xây dựng và trưởng
thành ngành khí tượng, thuỷ văn đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Trong
mỗi giai đoạn ngành KTTV đã không ngừng vươn lên, phục vụ ngày càng tốt
hơn, có hiệu quả hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Từ mạng lưới trạm KTTV thưa thớt do thực dân Pháp thành lập bắt đầu từ
năm 1891, ngay sau khi giành được chính quyền năm 1945 chủ tịch Hồ Chí
Minh đã quan tâm đến công tác KTTV. Ngày 03 tháng 10 năm 1945 chủ tịch
Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 41 đưa Sở thiên văn và Đài thiên văn Phủ
liễn trực thuộc Bộ Công chính và Giao thông.
Ngày 28 tháng 9 năm 1955, Chính phủ ban hành Nghị định số 916/TTg về
việc thành lập Nha Khí tượng thuỷ văn.
Đến ngày 29 tháng 12 năm 1958, Chính phủ ban hành Nghị định số
563/TTg chuyển công tác thuỷ văn sang Bộ Thuỷ lợi và đổi tên Nha Khí tượng
thuỷ văn thành Nha khí tượng trực thuộc Phủ Thủ tướng.
Đặc biệt sau khi đất nước thống nhất, ngày 14 tháng 10 năm 1975 Uỷ ban
Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 21-NQ/QHK6 thành lập Tổng cục Khí
tượng Thuỷ văn trên cơ sở hợp nhất Nha khí tượng và Cục Thuỷ văn thuộc Bộ
Thuỷ lợi.
Để đảm bảo cơ sở pháp lý cho Tổng cục KTTV hoạt động, ngày 05 tháng
11 năm 1976 Chính phủ ban hành nghị định số 215/CP quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức bộ máy của Tổng cục KTTV. Từ đó đến
nay, Tổng cục KTTV đã có nhiều lần thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu
tổ chức cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển của đất nước.
Ngày 11 tháng 11 năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định số
91/2002/NĐ-CP thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, theo
đó Trung tâm KTTV Quốc gia là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bộ. Tiếp đó ngày
09 tháng 01 năm 2003, Bộ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường ban hành
Quyết định số 15/2003/QQĐ-BTNMT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền

thủy văn lục địa và thủy văn biển; xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chiến
lược tổng thể quốc gia về dự báo, cảnh báo thiên tai thuộc phạm vi trách nhiệm
của Trung tâm.
- Tổ chức quan trắc, thu thập tài liệu trên hệ thống quan trắc khí tượng,
thủy văn; tổ chức điều tra, khảo sát khí tượng, thủy văn, diễn biến địa hình lòng
sông, cửa sông và vùng biển ven bờ để bổ sung tài liệu điều tra cơ bản ở những
nơi thiếu trạm quan trắc, nơi thường xảy ra bão, lũ và các thiên tai nguy hiểm
khác; thực hiện nhiệm vụ quan trắc môi trường không khí và nước theo phân
công của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Tổ chức thực hiện công tác dự báo khí tượng, thủy văn; phát tin chính
thức về diễn biến thời tiết, áp thấp nhiệt đới, bão, lũ, lụt và triều cường theo quy
định của pháp luật; tổ chức quan trắc và truyền số liệu mực nước biển phục vụ
công tác cảnh báo sóng thần, phòng, chống lụt, xâm nhập mặn và các tác động
gây biến đổi khí hậu, cảnh quan môi trường.
- Cử đại diện có thẩm quyền của Trung tâm tham gia Ban chỉ huy phòng,
chống lụt, bão và tìm kiếm- cứu nạn của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương.
- Tổ chức đánh giá chất lượng điều tra cơ bản dự báo khí tượng, thủy văn
thuộc phạm vi quản lý của Trung tâm, quản lý và lưu trữ tài liệu khí tượng,
thủy văn; tổ chức cung cấp thông tin tài liệu khí tượng, thủy văn theo quy định
của pháp luật.
- Xây dựng, phát triển hệ thống thông tin điện tử khí tượng thủy văn và các
công nghệ khác phục vụ điều tra cơ bản, dự báo khí tượng, thủy văn, cảnh báo
thiên tai trong mạng lưới khí tượng thủy văn quốc gia.
- Tổ chức lựa chọn, thử nghiệm, kiểm định, hiệu chuẩn các phương tiện đo
khí tượng, thủy văn; bảo vệ hành lang an toàn kỹ thuật và di chuyển công trình
khí tượng, thủy văn theo quy định của pháp luật.
- Tham gia thẩm tra việc sử dụng dữ liệu điều tra cơ bản về khí tượng,
thủy văn đối với các công trình, dự án đầu tư xây dựng trọng điểm quốc gia và
cac công trình, dự án đầu tư xây dựng thuộc thẩm quyền quyết định và quản lý

tâm.
Bộ máy giúp việc Tổng giám đốc gồm có:
- Văn phòng
- Ban Tổ chức cán bộ
- Ban Kế hoạch- Tài chính
- Ban Khoa học- Công nghệ và Hợp tác quốc tế
- Trung tâm Công nghệ thông tin KTTV
- Trung tâm Mạng lưới khí tượng thuỷ văn và môi trường
- Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương
- Trung tâm Tài liệu KTTV
- Trung tâm Ứng dụng công nghệ và bối dưỡng nghiệp vụ khí tượng thủy
văn và môi trường
- Liên đoàn Khảo sát khí tượng thuỷ văn
- Đài Khí tượng cao không
- Đài KTTV khu vực Tây Bắc (tại thị xã Sơn La tỉnh Sơn La)
- Đài KTTV khu vực Việt Bắc (tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)
- Đài khí tượng khu vực Đông Bắc ( tại thành phố Hải Phòng)
- Đài KTTV khu vực Đồng Bằng Bắc Bộ (tại thành phố Hà Nội)
- Đài KTTV khu vực Bắc Trung Bộ (tại thành phố Vinh tỉnh Nghệ An)
- Đài KTTV khu vực Trung Trung Bộ (tại thành phố Đà Nẵng)
- Đài KTTV khu vực Nam Trung Bộ (tại thành phố Nha Trang tỉnh Khánh
Hoà)
- Đài KTTV khu vực Tây Nguyên (tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)
- Đài KTTV khu vực Việt Bắc (tại thành phố Plâycu, tỉnh Gia Lai)
- Đài KTTV khu vực Nam Bộ (tại thành phố Hồ Chí Minh)
- Tạp chí khí tượng, thủy văn.
Ngoài ra, để thực hiện được chức năng và nhiệm vụ được giao, ngành khí
tượng nước ta đã thiết lập được một mạng lưới trạm quan trắc khí tượng thuỷ
văn trong phạm vi cả nước. Mạng lưới các trạm quan trắc dưới sự quản lý của
Trung tâm Khí tượng thuỷ văn Quốc gia hiện nay đã lên đến gần 600 trạm các

này được lưu trữ tại Trung tâm Tư liệu KTTV.
Như vậy, qua hơn 60 năm xây dựng và trưởng thành ngành khí tượng thuỷ
văn không ngừng lớn mạnh về mọi mặt. Cơ quan quản lý ngành- Trung tâm
Khí tượng thuỷ văn Quốc gia cũng ngày càng được Đảng, Nhà nước giao cho
những trọng trách mới để đáp ứng và phù hợp với những biến đổi của thiên
nhiên trong nước và trên toàn thế giới. Đây cũng là những thách thức mới đối
với Trung tâm.
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung
tâm Tƣ liệu KTTV
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Tư liệu
KTTV hiện nay được quy định trong Quyết định số 759/QĐ-KTTVQG ngày 27
tháng 10 năm 2008 của Tổng Giám đốc Trung tâm Khí tượng thuỷ văn Quốc
gia về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Tư liệu
KTTV.
1.1.2.1. Vị trí, chức năng của Trung Tƣ liệu KTTV
Trung tâm Tư liệu KTTV là tổ chức sự nghiệp trực thuộc Trung Tâm khí
tượng Thủy văn Quốc gia, Bộ Tài nguyên và Môi trường có chức năng thu
nhận, quản lý, khai thác và sử dụng tài liệu khí tượng bề mặt, khí tượng nông
nghiệp, khí tượng cao không, khí tượng biển, thuỷ văn biển, thuỷ văn lục địa và
môi trường đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tê-xã hội, đảm bảo an ninh quốc
phòng trong phạm vi cả nước.
1.1.2.2. Nhiệm vụ của Trung tâm Tƣ liệu KTTV
Trung tâm Tư liệu KTTV có những nhiệm vụ cụ thể sau:
- Xây dựng kế hoạch dài hạn, năm năm, hàng năm, tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật, quy trình, định mức kinh tế-kỹ thuật về công tác tài liệu KTTV và tổ
chức thực hiện sau khi đã được duyệt.
- Thu thập toàn bộ tài liệu KTTV từ các Đài KTTV khu vực và các đơn vị
sự nghiệp khác trực thuộc Trung tâm Khí tượng Thuỷ văn Quốc gia.
- Thực hiện việc kiểm tra chất lượng tài liệu, chỉnh lý, lưu trữ, bảo quản tài
liệu KTTV theo quy định của Nhà nước và các cơ quan quản lý chuyên ngành.

- Phòng Bảo quản tài liệu KTTV
1.2. Thành phần, nội dung, đặc điểm tài liệu khí tƣợng thuỷ văn
1.2.1. Thành phần, nội dung tài liệu KTTV
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan
thuộc Trung tâm KTTV Quốc gia đã hình thành ra khối tài liệu lớn bao gồm
nhiều loại tài liệu khác nhau như tài liệu hành chính, tài liệu nghe nhìn, tài liệu
điện tử và tài liệu chuyên môn. Trong những loại tài liệu trên, tài liệu chuyên
môn là khối tài liệu thể hiện những hoạt động mang tính đặc thù của ngành
KTTV. Chính vì vậy, khối tài liệu này có vị trí vô cùng quan trọng đối với hoạt
động của Trung tâm Khí tượng thủy văn Quốc gia. Khối tài liệu này có khoảng
2644m giá, bao gồm tài liệu từ thời Pháp thuộc đến nay, hiện đang được lưu trữ
tại Trung tâm Tư liệu Khí tượng, thủy văn. Đây là khối tài liệu đa dạng về loại
hình và phong phú về nội dung bao gồm những nhóm sau:
Tài liệu khí tượng bề mặt
Tài liệu bức xạ
Tài liệu khí tượng nông nghiệp
Tài liệu khí tượng cao không
Tài liệu khí tượng hải văn
Tài liệu môi trường không khí và nước
Tài liệu thuỷ văn vùng sông không ảnh hưởng thuỷ triều
Tài liệu thuỷ văn vùng sông ảnh hưởng thuỷ triều
Tài liệu điều tra khảo sát khí tượng, thuỷ văn, môi trường
Bản đồ dự báo thời tiết
Tài liệu chuyên khảo
Mỗi nhóm tài liệu trên, có những nội dung riêng phản ánh quá trình quan
trắc các hiện tượng khí hậu, thời tiết của các trạm khí tượng trong phạm vi cả
nước. Tuy nhiên, mỗi nhóm tài liệu đều bao gồm hai loại tài liệu đó là tài liệu
gốc và tài liệu thứ cấp.
Tài liệu KTTV gốc là tài liệu do phương tiện đo, do con người quan trắc
hoặc kết hợp giữa phương tiện đo với con người thu thập và ghi nhận trên các

+ Sổ quan trắc khí tượng ký hiệu SKT-2: Sổ SKT-2 là sổ được dùng để ghi
những số liệu quan trắc của những trạm làm quan trắc các Synop và quan trắc
phục vụ báo bão từng giờ.
+ Sổ quan trắc nhiệt độ đất có ký hiệu SKT-3: Việc quan trắc nhiệt độ đất
được tiến hành mỗi ngày 2 lần vào 7h và 19h. Những kết quả quan trắc nhiệt độ
mặt đất (như xác định trị số nhiệt độ mặt đất, nhiệt độ lớp đất sâu 5, 10, 15,
20cm ở khu đất tơi không có cây cỏ, nhiệt độ đất ở các lớp sâu: 50, 100, 150,
300cm ở khu đất có cỏ) được ghi vào sổ SSKT-3.
+ Sổ quan trắc bốc hơi GGI-3000 có ký hiệu SKT-13a, sổ quan trắc bốc
hơi CLASS-A có ký hiệu là SKT-13b: Theo quy định các trạm khí tượng đo bốc
hơi ngày 2 lần vào 7h và 19 giờ bằng dụng cụ đo bốc hơi GGI-3000 và chậu bốc
hơi CLASS-A. Kết quả quan trắc bằng dụng cụ đo bốc hơi GGI-3000 được ghi
vào sổ SKT-13a còn kết quả quan trắc bằng chậu bốc hơi CLASS-A được ghi
vào sổ SKT-13b.
Tài liệu thứ cấp: Sau khi quan trắc xong các số liệu được ghi váo sổ quan
trắc khí tượng tiếp đó được chỉnh lý theo quy định của ngành và được ghi vào
các “Bảng số liệu khí tượng”. Các bảng số liệu khí tượng bề mặt bao gồm nhiều
loại:
+ Bảng số liệu khí tượng BKT-1. Sau khi quan trắc các hiện tượng khí
tượng bề mặt cơ bản xong bên cạnh việc ghi kết quả quan trắc vào sổ quan trắc
khí tượng SKT-1, các quan trắc viên phải chỉnh lý số liệu và ghi vào bảng số
liệu khí tượng BKT-1. Những kết quả ghi vào bảng số liệu BKT-1 chủ yếu dựa
vào sổ SKT-1.
+ Bảng số liệu khí tượng về ẩm- nhiệt độ BKT-2a. Những số liệu quy
toán từ giản đồ nhiệt, ẩm ký, sau khi đã hiệu chính được chuyển vào BKT-2a.
+ Bảng số liệu khí tượng về khí áp BKT-2b: Áp suất khí quyển (khí áp) là
áp suất thủy tĩnh của cột khí quyển, được xác định bởi trọng lượng cột không
khí có chiều cao bằng bề dày của khí quyển nén lên một đơn vị diện tích. Nội
dung quan trắc khí áp gồm: xác định khí áp mặt trạm, khí áp mặt biển, độ cao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status