ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
_ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _ _
LÊ THỊ HẰNG
TỔ CHỨC KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU CỦA
CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI HIỆN ĐANG BẢO QUẢN
TẠI LƯU TRỮ BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lưu trữ học
Hà Nội - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tư
liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực. Nếu có điều gì sai sót, tôi xin hoàn
toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2014Tác giả luận văn
Lê Thị Hằng Lê Thị Hằng
1
MỤC LỤC
Mục NỘI DUNG Trang
LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: THÀNH PHẦN, NỘI DUNG, Ý NGHĨA TÀI
LIỆU CỦA CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI HỆN ĐANG BẢO
QUẢN TẠI LƯU TRỮ BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
15
1.1. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Cục Đầu tư nước
ngoài.
15
1.1.1.
Chức năng
15
1.1.2.
Nhiệm vụ
15
1.1.3.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC KHAI
THÁC, SỬ DỤNG TÀI LIỆU CỦA CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC
NGOÀI HIỆN ĐANG BẢO QUẢN TẠI LƯU TRỮ BỘ KẾ
HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
29
2.1. Tổ chức khoa học tài liệu và tổ chức bảo quản tài liệu của Cục 29
2
Đầu tư nước ngoài phục vụ cho công tác khai thác, sử dụng tài
liệu.
2.1.1.
Tổ chức khoa học tài liệu của Cục Đầu tư nước ngoài
29
2.1.2.
Tổ chức bảo quản tài liệu của Cục Đầu tư nước ngoài
40
2.2. Nhu cầu khai thác, sử dụng khối tài liệu của Cục Đầu tư nước
ngoài bảo quản tại Lưu trữ Bộ
54
2.3. Thực trạng công tác khai thác, sử dụng tài liệu của Cục Đầu tư
nước ngoài bảo quản tại Lưu trữ Bộ
41
2.3.1.
Văn bản hướng dẫn công tác khai thác, sử dụng tài liệu của Lưu
trữ Bộ Kế hoạch và Đầu tư và của Cục Đầu tư nước ngoài.
41
CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI HIỆN ĐANG BẢO QUẢN TẠI
LƯU TRỮ BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ.
58
3.1. Nhận xét chung về tình hình khai thác, sử dụng tài liệu của Cục
Đầu tư nước ngoài hiện đang bảo quản tại Lưu trữ Bộ
58
3.1.1.
Những ưu điểm đạt được
58
3.1.2.
Những điểm còn tồn tại, hạn chế
59
3.1.3.
Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế.
62
3
3.2. Giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác tổ chức khai thác, sử
dụng tài liệu của Cục Đầu tư nước ngoài hiện đang bảo quản
tại Lưu trữ Bộ
64
3.2.1.
Về phía cơ quan Bộ, Văn phòng Bộ.
64
3.2.2.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Đối tượng của công tác lưu trữ là tài liệu lưu trữ, tài liệu lưu trữ chỉ phát
huy giá trị khi tài liệu đó được mang ra sử dụng, phục vụ cho các mục đích chính
đáng của cá nhân, tổ chức, cơ quan. Việc tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu là
một nghiệp vụ đặc biệt quan trọng và là mục đích cuối cùng của công tác lưu trữ.
Vì vậy công tác tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu là một nhiệm vụ quan trọng,
cấp thiết được đặt ra tại các lưu trữ cơ quan hay các trung tâm lưu trữ hiện nay.
Lưu trữ cơ quan Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng không nằm ngoài phạm vi đó.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan trực thuộc Chính phủ, giúp Thủ tướng
Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong lĩnh vực kế hoạch, đầu tư
phát triển và thống kê. Chức năng quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào Việt Nam và đầu tư trực tiếp của Việt Nam ra nước ngoài là một
trong những chức năng chính, đặc thù của cơ quan Bộ. Chức năng này được giao
cho Cục Đầu tư nước ngoài - đơn vị trực thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Để thực
hiện chức năng này, Cục phải giải quyết tốt các nhiệm vụ được Bộ giao phó.
Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ đó, Cục đã sản sinh ra một khối lượng
lớn tài liệu chuyên môn, có ý nghĩa quốc gia và có giá trị trên nhiều mặt đó là
các hồ sơ dự án đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài. Đây là khối hồ sơ tài
liệu chiếm đa số trong tổng số khối lượng tài liệu của Cục. Mặt khác, do Cục
Đầu tư nước ngoài là đơn vị có vị trí, vai trò quan trọng trong cơ cấu tổ chức của
Bộ nên hồ sơ, tài liệu sản sinh ra trong quá trình hoạt động của Cục có giá trị về
nhiều mặt như trong quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài;
trong phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, ngoại giao.
Tuy Cục Đầu tư nước ngoài là đơn vị có tư cách pháp nhân, được thành
lập kho lưu trữ riêng nhưng do các điều kiện khách quan tác động vào nên Cục
5
Mục tiêu chủ yếu mà luận văn tập trung nghiên cứu là:
- Nghiên cứu, giới thiệu thành phần, nội dung, đặc điểm và ý nghĩa khối
tài liệu hồ sơ dự án đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài của Cục Đầu tư
nước ngoài hiện đang được bảo quản tại Lưu trữ Bộ. Từ đó khẳng định giá trị tài
liệu trong hoạt động quản lý nhà nước, giải quyết công việc chuyên môn, nghiên
cứu khoa học và các nhu cầu sử dụng khác.
- Thực tế công tác tổ chức khai thác, sử dụng khối tài liệu hồ sơ dự án đầu
tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài tại Lưu trữ Bộ.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tổ chức khai thác
và sử dụng khối tài liệu hồ sơ dự án này tại Lưu trữ Bộ.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu:
- Thành phần, nội dung khối tài liệu lưu trữ của Cục Đầu tư nước ngoài
hiện đang bảo quản tại Lưu trữ Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
-
Tình hình công tác tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu của Cục Đầu tư
nước ngoài hiện đang được bảo quản tại Lưu trữ Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Phạm vi nghiên cứu:
Tài liệu nghiên cứu: Chúng tôi tập trung nghiên cứu khối tài liệu dự án hồ
sơ đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài của Cục Đầu tư nước ngoài hiện
đang được bảo quản tại Lưu trữ Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Các hồ sơ, tài liệu khác
thuộc Lưu trữ Bộ không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài.
Không gian nghiên cứu: Tuy Cục là đơn vị được tổ chức lưu trữ riêng
nhưng vì điều kiện khách quan tác động vào, Cục chưa xây dựng được kho lưu
trữ riêng nên tài liệu của Cục là các hồ sơ dự án vẫn thường xuyên được nộp lưu
và hiện đang được bảo quản tại Lưu trữ Bộ, vì thế không gian nghiên cứu chúng
tôi khảo sát ở đây là công tác tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu ở Lưu trữ Bộ
nhưng trong phạm vi tổ chức khai thác, sử dụng khối tài liệu của Cục Đầu tư
Cụ thể các phương pháp được chúng tôi vận dụng như sau:
8
Một là phương pháp luận Chủ nghĩa Mác - Lê Nin là phương pháp nghiên
cứu khoa học của mọi ngành khoa học khác nhau, là hệ thống các phương pháp
về nghiên cứu khoa học, phương pháp này cho chúng ta cái nhìn rõ ràng và đúng
đắn về bản chất của vấn đề cần nghiên cứu. Để thực hiện luận văn này, chúng tôi
đứng trên lập trường tư tưởng và sử dụng phương pháp luận Chủ nghĩa Mác - Lê
Nin để giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ đặt ra.
Hai là phương pháp phân tích chức năng, phương pháp này được chúng tôi
vận dụng trong việc tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Cục Đầu
tư nước ngoài thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Từ việc phân tích chức năng, nhiệm
vụ Cục, chúng ta thấy được các loại tài liệu hình thành trong hoạt động của Cục
và ý nghĩa, giá trị của nó đối với hoạt động của các đơn vị nói riêng và của cơ
quan nói chung.
Ba là phương pháp khảo sát thực tế, phương pháp này được chúng tôi vận
dụng để tìm hiểu, nghiên cứu về thực trạng khối tài liệu và tình hình thực hiện
nghiệp vụ tổ chức khai thác, sử dụng khối tài liệu này hiện đang được bảo quản
tại Lưu trữ Bộ. Từ thực trạng đó đưa ra một vài nhận xét về những điểm đã làm
được cũng như những tồn tại, hạn chế cần khắc phục, để từ đây đưa ra một số
giải pháp góp phần giúp nâng cao hiệu quả công tác tổ chức khai thác, sử dụng
khối tài liệu của Cục Đầu tư nước ngoài bảo quản tại Lưu trữ Bộ.
Bốn là phương pháp phân tích, phương pháp này được sử dụng trong việc
phân tích, đánh giá giá trị tài liệu, phân tích nhu cầu khai thác, sử dụng tài liệu
của Cục Đầu tư nước ngoài bảo quản tại Lưu trữ Bộ cũng như ưu, nhược điểm
trong công tác tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu để đưa ra những giái pháp hợp
lý.
Năm là phương pháp hệ thống được sử dụng trong việc hệ thống các nhóm
tài liệu, hệ thống nhu cầu khai thác tài liệu, hệ thống các nhóm hồ sơ được khai
thác.
10
Văn Huề năm 2002 về “Xác định các giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức sử
dụng tài liệu lưu trữ tại trung tâm lưu trữ tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương”; Luận văn thạc sĩ ngành Lưu trữ học và Quản trị văn phòng của Đinh Văn
Mạnh năm 2009 về “Thực trạng tổ chức khai thác sử dụng tài liệu kỹ thuật các
công trình giao thông tại Lưu trữ Bộ Giao thông vận tải và những giải pháp”;
Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành Lưu trữ học và Tư liệu học của Trần
Việt Hà năm 2008 về “Nghiên cứu các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt
động trưng bày, triễn lãm tài liệu lưu trữ ở Việt Nam”…
Thứ ba là các khóa luận, báo cáo khoa học, niên luận liên quan đến công
tác khai thác và sử dụng tài liệu. Các đề tài thuộc nhóm này cũng có nhiều loại
nhưng đa phần vẫn là tìm hiểu về tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu tại cơ quan
cụ thể, tại trung tâm lưu trữ như Khóa luận tốt nghiệp năm 2004 của Đào Thị
Thu Hiền là “Tìm hiểu về tổ chức sử dụng tài liệu tại Trung tâm lưu trữ Quốc
gia III”; Khóa luận tốt nghiệp năm 2007 của Bùi Thị Ngọc Thủy về “Công tác tổ
chức khai thác, sử dụng tài liệu tại Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội: Thực
trạng và giải pháp”; Khóa luận tốt ngiệp năm 2008 của Nguyễn Thị Vân “Tổ
chức khai thác, sử dụng tài liệu tại Bộ Tài chính - thực trạng và giải pháp”; và
nhóm các đề tài đi nghiên cứu về tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu phục vụ cho
việc gì như Khóa luận tốt nghiệp năm 2002 của Trịnh Thị Hà “Tổ chức khai thác
và sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ cho việc quản lý nhà nước về đất đai ở thành
phố Hà Nội”; Khóa luận tốt nghiệp năm 2002 của Đặng Thị Hồng “Tổ chức khai
thác và sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ cho sự phát triển kinh tế thủ đô Hà Nội
trong thời kỳ đổi mới”; Khóa luận tốt nghiệp năm 2009 của Lương Thị Tuyền
“Khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ phục vụ cho công tác phụ vận tại cơ quan
Trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam”…
Thứ tư là các bài viết trên báo, tạp chí Văn thư lưu trữ Việt Nam. Có rất
nhiều các nghiên cứu được đăng tải trên các báo, tạp chí Văn thư lưu trữ Việt
Nam như bài viết “Sử dụng tài liệu lưu trữ trong việc biên soạn lịch sử địa
- Quyết định số 456/QĐ-BKH ngày 12 tháng 5 năm 2004 của Bộ trưởng
Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành các quy định thực hiện trong nội bộ cơ
quan, trong đó có các quy định về công tác lưu trữ;
- Quyết định số 1183/QĐ-VP ngày 10 tháng 10 năm 2007 của Chánh Văn
phòng Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành hệ thống văn bản áp dụng hệ
thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO TCVN 9001:2000.
Hai là: Một số sách, giáo trình về công tác lưu trữ.
- Giáo trình Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ của nhóm tác giả Đào
Xuân Chúc, Nguyễn Văn Hàm, Vương Đình Quyền và Nguyễn Văn Thâm.
- Giáo trình Lý luận và phương pháp công tác văn thư của tác giả Vương
Đình Quyền.
- Giáo trình Công tác văn thư lưu trữ của tác giả Dương Văn Khảm.
Ba là: Các đề tài nghiên cứu khoa học, các khóa luận tốt nghiệp, các luận
văn thạc sĩ viết về đề tài khai thác và sử dụng tài liệu lưu trữ và các bài báo, bài
viết nghiên cứu trên Tạp chí Văn thư Lưu trữ Việt Nam.
Bốn là: Kỷ yếu hội nghị khoa học về khai thác, sử dụng và phát huy giá trị
tài liệu lưu trữ, hồ sơ tài liệu và báo cáo tổng kết công tác lưu trữ các năm.
8. Đóng góp của luận văn:
Luận văn của chúng tôi được bảo vệ thành công sẽ góp phần:
- Bổ sung thêm lý luận chung về khai thác, sử dụng tài liệu lưu trữ.
- Kết quả của luận văn là đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả công
tác tổ chức khai thác, sử dụng tài liệu dự án đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước
ngoài của Cục Đầu tư nước ngoài tại Lưu trữ Bộ. Từ đó giúp cho Lưu trữ Bộ chú
trọng hơn tới công tác tổ chức khai thác, sử dụng khối tài liệu này và có cơ sở
trong việc đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả công tác tổ chức khai thác,
sử dụng khối tài liệu đặc thù này.
13
- Ngoài ra, luận văn còn giúp nâng cao nhận thức của cán bộ lưu trữ, các
sư, tiến sĩ Dương Văn Khảm - người đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực
hiện luận văn này. Do trình độ bản thân còn hạn chế cũng như thời gian nghiên
cứu còn ít nên luận văn vẫn còn nhiều điều thiếu sót, hạn chế cần được chỉnh
sửa, bổ sung. Với tinh thần cầu thị, tôi rất mong nhận được sự góp ý, chia sẻ của
các thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn chỉnh hơn, có khả năng được thực
hiện và được áp dụng có hiệu quả đối với khối tài liệu của Cục Đầu tư nước
ngoài hiện đang được bảo quản tại Lưu trữ Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
15
CHƯƠNG 1: THÀNH PHẦN, NỘI DUNG, Ý NGHĨA TÀI LIỆU
CỦA CỤC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI HỆN ĐANG BẢO QUẢN
đầu tư ra nước ngoài; chủ trì hoặc tham gia đàm phán các điều ước quốc tế liên
quan đến đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài; tham gia các chương trình
hợp tác liên Chính phủ, các nhóm công tác với các nước, các tổ chức quốc tế
trong lĩnh vực xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách liên quan đến đầu tư;
làm đầu mối theo dõi, hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật liên quan
đến đầu tư.
Thứ tư là về quản lý nhà nước đối với đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước
ngoài: Chủ trì hoặc phối hợp với các đơn vị liên quan theo dõi, kiểm tra, thanh
tra việc thực hiện các quy định về đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài;
kiến nghị và xử lý các vấn đề phát sinh trong lĩnh vực đầu tư; chủ trì hoặc phối
hợp với các đơn vị liên quan hướng dẫn thực hiện thủ tục về đầu tư, quy định
thống nhất chế độ báo cáo thống kê về đầu tư nước ngoài và đầu tư ra nước
ngoài; đối với dự án BOT; BTO, BT thực hiện việc tiếp nhận hồ sơ, tham gia
thẩm tra, chủ trì thực hiện thủ tục điều chỉnh các dự án BOT; BTO, BT; trình Bộ
trưởng cấp giấy chứng nhận đầu tư khi dự án được chấp nhận, thông báo với chủ
đầu tư khi dự án không được chấp nhận; tiếp nhận hồ sơ, thẩm tra dự án, chủ trì
thực hiện thủ tục đăng ký, điều chỉnh, cấp giấy chứng nhận đầu tư đối với dự án
đầu tư ra nước ngoài.
Thứ năm là về xúc tiến đầu tư: làm đầu mối thực hiện công tác quản lý
nhà nước về hoạt động xúc tiến đầu tư, phối hợp với các đơn vị có liên quan xây
dựng chiến lược, kế hoạch, chính sách, định hướng đầu tư; tổng hợp, xây dựng,
điều chỉnh chương trình, kế hoạch xúc tiến đầu tư; tổng hợp, tổ chức thẩm tra,
xây dựng, hướng dẫn việc xây dựng, làm đầu mối tiếp nhận, tổng hợp đề án, theo
dõi, kiểm tra, giám sát và tổng hợp tình hình thực hiện chương trình xúc tiến đầu
tư quốc gia; tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư, tổ chức gặp gỡ, tiếp xúc nhà đầu
17
tư, hỗ trợ nhà đầu tư tìm kiếm cơ hội, vận động xúc tiến đầu tư theo chương trình
trọng điểm.
1.1.3. Cơ cấu tổ chức:
của Cục Đầu tư nước ngoài hiện đang bảo quản tại Lưu trữ Bộ Kế hoạch và Đầu
tư. Từ tình hình thực tế công tác tổ chức khai thác, sử dụng khối tài liệu của Cục
Đầu tư nước ngoài, trên các mặt ưu nhược điểm, chúng tôi sẽ đưa ra các giải
pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác này.
1.2. Thành phần, nội dung, khối lượng tài liệu của Cục Đầu tư nước
ngoài bảo quản tại Lưu trữ Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
1.2.1. Thành phần tài liệu:
Qua khảo sát của tôi, hiện tại trong kho lưu trữ của Bộ đang bảo quản các
loại hồ sơ dự án theo hệ thống số giấy phép. Có nhiều loại hệ thống số giấy phép
khác nhau như hệ thống số giấy phép đầu tư nước ngoài, hệ thống số giấy phép
đầu tư ra nước ngoài, hệ thống số giấy phép đầu tư cấp phép cho các địa phương
được lấy số theo địa phương có dự án được cấp phép. Thành phần khối tài liệu
của Cục Đầu tư nước ngoài hiện đang bảo quản tại Lưu trữ Bộ Kế hoạch và Đầu
tư bao gồm 3 nhóm cơ bản đó là:
Thứ nhất là các hồ sơ liên quan đến việc cấp phép đầu tư thành lập các
công ty có vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam. Đây là khối lượng hồ sơ chủ
yếu của Cục Đầu tư nước ngoài. Các hồ sơ, tài liệu dự án thuộc nhóm này sau
khi được chuyển vào nộp lưu tại Lưu trữ Bộ bao gồm có 3 loại cơ bản: một là
các hồ sơ, dự án được cấp phép có số giấy phép; hai là các hồ sơ trả lời chủ
trương không có số giấy phép; ba là các hồ sơ dự án xin cấp phép nhưng không
được cấp phép nên không có số giấy phép. Trong ba loại hình hồ sơ này thì loại
hồ sơ dự án được cấp phép có số giấy phép chiếm số lượng chủ yếu, được bảo
quản vĩnh viễn, góp phần hình thành lên khối lượng hồ sơ chính của Cục Đầu tư
nước ngoài. Còn các hồ sơ trả lời chủ trương và các hồ sơ dự án xin cấp phép
nhưng không được cấp phép chiếm một lượng nhỏ, khối tài liệu này hiện vẫn
19
đang được bảo quản tại Lưu trữ Bộ nhưng chưa được xác định thời hạn bảo quản
để có thể loại hủy tài liệu theo quy định.
Thứ hai là hồ sơ cấp phép đầu tư cho các công ty có vốn đầu tư từ Việt
sơ cấp phép cho các công ty đang hoạt động và hồ sơ cấp phép cho các công ty
đã được phân cấp về địa phương. Hồ sơ cấp phép dự án các công ty đã giải thể
không hình thành ra tài liệu thì đóng hồ sơ lại, hồ sơ cấp phép dự án các công ty
đang hoạt động, vẫn sản sinh ra tài liệu thì Lưu trữ Bộ vấn tiếp tục thu tài liệu để
bổ sung vào từng hồ sơ theo số giấy phép. Hồ sơ cấp phép dự án các công ty đã
phân cấp về từng địa phương thì do địa phương quản lý, tiến hành đóng hồ sơ,
không bổ sung tài liệu vào hồ sơ. Còn đối với hệ thống số giấy phép đầu tư ra
nước ngoài thì trước kia cũng được đánh số liên tục theo hệ thống số giấy phép
của đầu tư nước ngoài nhưng hiện nay do số lượng các doanh nghiệp hình thành
nhiều, có nhiều hình thức đầu tư khác nhau nên đã lấy số riêng cho các giấy phép
này.
1.2.2. Nội dung tài liệu:
Nội dung khối tài liệu hình thành trong quá trình hoạt động của Cục Đầu
tư nước ngoài hiện đang được bảo quản tại Lưu trữ Bộ Kế hoạch và Đầu tư phản
ánh rõ nét quá trình thành lập, cấp phép đầu tư thành lập, hoạt động cho các công
ty có vốn đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam và các công ty có vốn đầu tư từ
Việt Nam ra nước ngoài. Tài liệu lưu trữ của Cục Đầu tư nước ngoài hiện đang
bảo quản tại Lưu trữ Bộ Kế hoạch và Đầu tư là một khối tài liệu chuyên môn, đó
chính là hồ sơ cấp phép đầu tư cho các công ty nên khối tài liệu này có những
đặc điểm riêng biệt mà những đặc điểm này chỉ có khối tài liệu này mới có,
những tài liệu hành chính khác không có được.
Thứ nhất: Khối tài liệu này có nội dung phản ánh rõ nét chức năng, nhiệm
vụ của Cục Đầu tư nước ngoài nói riêng cũng như chức năng, nhiệm vụ của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư nói chung. Do chức năng, nhiệm vụ của Cục Đầu tư nước
ngoài - Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với đầu tư
21
nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài có nội dung là trình Bộ trưởng cấp giấy
chứng nhận đầu tư khi dự án được chấp nhận, thông báo với chủ đầu tư khi dự án
không được chấp nhận, tiếp nhận hồ sơ, thẩm tra dự án, chủ trì thực hiện thủ tục