Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Tố Hữu - Pdf 25

Trần Thị Thái Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Tố Hữu

1
MỤC LỤC

MỤC LỤC 1
QUY ƯỚC VIẾT TẮT 4
PHẦN MỞ ĐẦU 5
1. Lý do chọn đề tài 5
2. Lịch sử vấn đề 7
2.1. Tác phẩm của Tố Hữu trước năm 1945 7
2.2.Tác phẩm của Tố Hữu từ năm 1945 đến nay 7
3. Mục đích nghiên cứu 10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10
5. Nhiệm vụ nghiên cứu 10
6. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 11
7. Cấu trúc của luận văn 11
Chương 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT 12
1. 1 Khái niệm về tín hiệu thẩm mĩ 12
1.1.1 Tín hiệu 12
1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ 16
1.3.3 Tín hiệu thẩm mĩ 19
1.1.4 Mối quan hệ giữa Tín hiệu, Tín hiệu ngôn ngữ và Tín hiệu thẩm mỹ . 22
1. 2 Những đặc tính của tín hiệu thẩm mỹ. 24
1.2.1. Đặc tính cấp độ. 24
1.2.2 Đặc tính tác động 25
1.2.3 Đặc tính biểu hiện 26
1.2.4 Đặc tính biểu cảm (bộc lộ) 28
Trần Thị Thái Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Tố Hữu

2

4. Tiểu kết 130
KẾT LUẬN 133
TÀI LIỆU THAM KHẢO 138
Trần Thị Thái Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Tố Hữu

4

QUY ƯỚC VIẾT TẮT Chữ viết tắt
Giải thích

TH

Tín hiệu
THHT

Tín hiệu hằng thể
THTM

Tín hiệu thẩm mĩ
THVC

Tín hiệu văn chương
YNTM

Ý nghĩa thẩm mĩ
BT


các tín hiệu thẩm mỹ văn chương tức là phải tìm hiểu các yếu tố ngôn ngữ biểu
hiện chúng. Chính vì vậy, để hiểu và đánh giá đúng, có cơ sở khoa học một tác
phẩm văn học thì rất cần sự khảo sát, phân tích hệ thống các tín hiệu thẩm mỹ
trong tác phẩm văn học.
Chính vì thế gần đây vấn đề tín hiệu thẩm mỹ đã được các học giả trong
và ngoài nước quan tâm. Ở nước ta, vấn đề tín hiệu và tín hiệu thẩm mỹ đã được
nghiên cứu trong các công trình của các tác giả như Hoàng Tuệ, Hoàng Trinh,
Đào Thản, Phan Ngọc, Đái Xuân Ninh Một số luận án tiến sĩ triển khai ngiên
cứu theo hướng này cũng đã khẳng định được ý nghĩa lý luận và thực tiễn của
hướng nghiên cứu văn học từ góc độ ngôn ngữ học, đồng thời có những bổ sung
mới về lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ. Có thể kể đến các luận án của các tác giả như
Trương Thị Nhàn, Phạm Thị Kim Anh, Lê Thị Hồng
Tuy nhiên ở Việt Nam việc nghiên cứu tín hiệu thẩm mỹ văn chương cũng
mới chỉ là bắt đầu.
Trần Thị Thái Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Tố Hữu

6
Đứng về phương diện tác giả, tác phẩm, chúng ta đều biết Tố Hữu (1920-
2002) là một trong những nhà thơ lớn của thơ ca Việt Nam hiện đại. Các tác
phẩm chính của ông là Từ ấy (1946), Việt Bắc (1954), Gió lộng (1961), Ra trận
(1962- 1971), Máu và hoa (1977), Một tiếng đờn (1992), Ta với ta (1999).
Tố Hữu là nhà thơ lãng mạn cách mạng, cả cuộc đời ông gắn bó với cách
mạng. Nếu mỗi nghệ sĩ là một người thư ký của thời đại, theo quan niệm của
Balzac, thì Tố Hữu chính là người thư ký của cách mạng. Thơ ông là biên niên
sử cách mạng. Có thể lần theo dấu vết thơ ông mà hiểu được những bước thăng
trầm của cách mạng, của kháng chiến. Hồn thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta
chung, lẽ sống lớn, niềm vui lớn của dân tộc và cách mạng. "Cái tôi", nếu có là
"cái tôi của người chiến sĩ", "cái tôi" nhân danh Đảng và dân tộc. Vì thế "cái tôi"
trong thơ Tố Hữu có ý nghĩa khái quát rộng lớn. Cảm hứng trong thơ Tố Hữu
thường bắt đầu từ cảm hứng chính trị, từ những tình cảm lớn lao, cao cả như

2.1. Tác phẩm của Tố Hữu trước năm 1945
Tập thơ “Từ ấy” (1937-1946) là chặng đường sáng tác đầu tiên kéo dài
mười năm của Tố Hữu, cũng là 10 năm hoạt động sôi nổi say mê, từ giác ngộ
qua thử thách đến trưởng thành của người thanh niên yêu nước trong một giai
đoạn lịch sử sôi động. Tập thơ gồm 3 phần tương ứng với ba chặng đường hoạt
động của Tố Hữu trước năm 1945. Với tập thơ này đa số các ý kiến đều tập trung
vào đề tài, hình thơ, tâm trạng thơ…với không ít những lời ca ngợi, biểu dương.
2.2.Tác phẩm của Tố Hữu từ năm 1945 đến nay
Tiếp nối với Từ ấy là hàng loạt các tác phẩm như Máu lửa ca ngợi lý tưởng
cộng sản, kêu gọi quần chúng đứng lên đấu tranh. Xiềng xích ghi lại cuộc đấu
Trần Thị Thái Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Tố Hữu

8
tranh cam go của người chiến sĩ trẻ tuổi trong nhà tù thực dân. Phần này thể hiện
sự vững vàng của Tố Hữu, đồng thời cũng bộc lộ một tâm hồn yêu đời tha thiết.
Giải phóng thể hiện niềm vui chiến thắng, ca ngợi sự thành công của cách mạng.
Việt Bắc (1947-1954)- giải nhất của Hội nhà văn Việt Nam 1954-1955, là chặng
đường thơ Tố Hữu trong những năm kháng chiến chống Pháp. Tập thơ ca ngợi
cuộc sống, con người kháng chiến, quá trình trưởng thành và thắng lợi của nhân
dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ. Gió lộng (1955-1961) là tiếng hát
ca ngợi cuộc sống mới xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, bộc lộ nỗi niềm tha thiết
với miền Nam, đồng thời thể hiện ý chí thống nhất đất nước, tình cảm quốc tế vô
sản. Ra trận (1962-1971), Máu và hoa (1972-1977) là hai tập thơ ra đời trong
thời kỳ cả nước chiến đấu kiên cường, giải phóng miền Nam thống nhất đất
nước. Cả hai tập thơ khẳng định phẩm chất Việt Nam, sức mạnh Việt Nam, đồng
thời là khúc ca khải hoàn kết thúc cuộc chiến đấu, Bắc Nam một nhà, non sông
một dải. Một tiếng đàn (1992), Ta với ta (1999) đánh dấu bước chuyển mới trong
thơ Tố Hữu. Ông hướng ngòi bút vào cuộc sống đời thường. Nếu Từ ấy là tiếng
hát của một chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi thì hai tập thơ trên thể hiện những chiêm
nghiệm của một con người từng trải. Sau bao nhiêu biến động, Tố Hữu vẫn vững

Kiều Phượng, xuất bản năm 2008…đã có những đóng góp nhất định vừa mang
tính chất bổ sung vừa là bằng chứng xác thực khẳng định ưu thế của hướng
nghiên cứu này.
Tuy nhiên, nếu như các công trình nghiên cứu các tác phẩm thơ Tố Hữu
dưới góc độ văn học phải kể đến hàng trăm (bao gồm các cuốn sách, các bài báo,
chuyên khảo, tiểu luận, phê bình, luận án, luận văn…) thì các công trình nghiên
Trần Thị Thái Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Tố Hữu

10
cứu về hiện tượng thơ Tố Hữu dưới góc độ lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ hầu như
vẫn còn vắng bóng. Do đó, với đề tài này, luận văn mong muốn góp thêm một
tiếng nói cho hướng nghiên cứu mới về hiện tượng văn học rất đỗi phức tạp và lý
thú nhưng hầu như vẫn còn bỏ ngỏ này.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn tiến hành tìm hiểu các hình tượng nghệ thuật được thể hiện qua
các tín hiệu thẩm mỹ “Bác Hồ” và “Anh bộ đội ” trong thơ Tố Hữu. Nói một
cách khái quát, đó là việc nghiên cứu mối quan hệ biện chứng giữa ngôn ngữ- hệ
thống với thực tiễn hành chức trong một loại hình văn học cụ thể: thơ ca. Mục
đích của luận văn nhằm tìm hiểu về lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ và cơ chế hình
thành, giải mã tín hiệu thẩm mỹ gắn với cấu trúc tác phẩm, đặc trưng thể loại và
phong cách tác giả. Từ đó luận văn áp dụng lý thuyết tín hiệu thẩm mỹ và một số
lý thuyết liên ngành khác vào khảo sát những tín hiệu cụ thể làm đại diện nhằm
rút ra những vấn đề có tính nguyên lý chung trong việc xử lý các tín hiệu thẩm
mỹ trong văn học để phân tích các hình tượng văn học được chúng phản ánh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các tín hiệu thẩm mỹ "Bác Hồ" và "Anh bộ đội"
trong thơ Tố Hữu. Phạm vi tư liêụ được khảo sát là toàn bộ thơ Tố Hữu. Ngoài
ra chúng tôi cũng trích dẫn một số câu thơ của những nhà thơ cách mạng khác
cùng thời với ông để làm cứ liệu so sánh.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu


Trần Thị Thái Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Tố Hữu

12
Chương 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ LÝ THUYẾT

1. 1 Khái niệm về tín hiệu thẩm mĩ
1.1.1 Tín hiệu
Trong cuốn Những cơ sở lý thuyết về tín hiệu xuất bản năm 1936,
Ch.W.Morris đã hệ thống hóa và xây dựng một lý thuyết tổng quan về tín hiệu.
Ông chia ra ba chiều của tín hiệu. Thứ nhất là chiều kết học, thứ hai là chiều
nghĩa học, thứ ba là chiều dụng học. Chiều kết học nghiên cứu các tín hiệu trong
mối quan hệ với các tín hiệu khác. Chiều nghĩa học nghiên cứu các tín hiệu trong
mối quan hệ với các sự vật bên ngoài hệ thống tín hiệu. Chiều dụng học nghiên
cứu các tín hiệu trong những mối quan hệ với người sử dụng nó. Ba thuật ngữ
này thật sự có giá trị định hướng nghiên cứu cho tín hiệu học, bởi vì chúng phát
hiện ra những phương diện cơ bản của tín hiệu và thông điệp.
Có thể nói tín hiệu được sử dụng rất nhiều trong thực tế cuộc sống, điển
hình như tiếng kẻng báo giờ học, biển vẽ trên đường giao thông, tín hiệu hàng
hải, các ký hiệu trong toán học, hóa học, vật lý Con người thường dùng một cái
gì đó làm tín hiệu thay thế cho một cái gì khác hoặc thay thế cho một khái niệm
trừu tượng. Từ đó xuất hiện rất nhiều quan niệm khác nhau về tín hiệu.
P. Guiraud đã định nghĩa tín hiệu theo nghĩa rộng “Một tín hiệu là một
kích thích mà tác động của nó đến cơ thể gợi ra hình ảnh ký ức của một kích
thích khác” [dẫn theo [5, tr51]. Sở dĩ định nghĩa này được xem là rộng bởi vì nó
bao gồm cả những tín hiệu theo nghĩa hẹp, cả những tín hiệu “nhận biết” và cả
những tín hiệu “giao tiếp”, có tính bản năng của loài vật.
Trần Thị Thái Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Tố Hữu


vụ vì nhiệm vụ bí mật không hề quen biết nhau, họ muốn thực hiện nhiệm vụ
trao đổi thông tin cho nhau, bằng cách người này liên lạc với người kia bởi một
dấu hiệu vật chất được quy ước trước, có thể là một ám hiệu nào đó. Chính dấu
hiệu này đã kích thích vào giác quan của họ, được họ cảm nhận, giúp họ suy
diễn, lý giải thì họ mới có thể nhận ra nhau. Ở đây chúng ta cũng cần phân biệt,
tín hiệu của loài người với tín hiệu cũng được cảm nhận bằng giác quan của loài
vật, nhưng đó chỉ là phản xạ có điều kiện của loài vật mà thôi. Chẳng hạn, cứ
đến giờ cho ăn ta đánh kẻng, khi tiếng kẻng vang lên con chó chạy đến để ăn hay
khi vỗ tay đàn cá đến gần bờ Những tiếng kẻng đó hay tiếng vỗ tay có thể trở
thành tín hiệu của loài cá hoặc loài chó nhưng không phải là tín hiệu như tín
hiệu của con người.
Thứ hai, tín hiệu phải mang nghĩa. F.Guiraud quan niệm: Ý nghĩa của cái
được gợi ra trong tín hiệu bao giờ cũng là một thực thể tâm lý thuộc tinh thần.
Chẳng hạn hệ thống đèn giao thông đỏ, vàng, xanh, đóng vai trò là cái biểu hiện,
nó có chức năng gợi ra hình ảnh tinh thần khác không phải là chính bản thân nó
mà là gợi cho người tham gia giao thông một nội dung khác là “dừng lại” và
“chuẩn bị đi”
Thứ ba, tín hiệu phải mang tính dụng học, tức tín hiệu phải được các chủ
thể tiếp nhận và lý giải được, ví dụ như tiếng kẻng vang lên trong sân trường đối
với học sinh là tín hiệu báo hiệu giờ học khác với tiếng kẻng vang lên trong sân
đình hợp tác xã nông nghiệp báo hiệu giờ đi làm.
Thứ tư, tín hiệu phải được con người nhận thức trong mối quan hệ hai mặt
của nó, tức là người ta buộc phải liên tưởng được cái biểu hiện với “một cái gì
đó” là "cái được biểu hiện". Tính liên tưởng hai mặt này là một điều kiện không
Trần Thị Thái Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Tố Hữu

15
thể thiếu của tín hiệu. Nói cách khác, nếu không có điều kiện này thì một sự vật
không thể được nhận thức để trở thành tín hiệu.
Dưới đây, chúng tôi sẽ nêu ra một số cách phân loại tín hiệu của các nhà

khoa học tự nhiên) và tín hiệu nhân tạo. Trong tín hiệu nhân tạo ông lại chia
thành tín hiệu không giao tiếp và tín hiệu giao tiếp. Ông còn dựa theo đặc tính
thể chất của tín hiệu mà phân chia các tín hiệu thành tín hiệu thị giác, tín hiệu
thính giác, tín hiệu xúc giác. Theo đặc tính chuyển mã hay chưa chuyển mã, ông
chia tín hiệu thành tín hiệu thứ cấp (còn gọi là ký hiệu) và tín hiệu sơ
cấp Guiraud cũng chỉ ra sự xâm nhập lẫn nhau của các loại tín hiệu.
Đỗ Hữu Châu xem tín hiệu là một thực thể đa diện cho nên căn cứ vào các
phương diện khác nhau có thể định ra các tiêu chí phân loại khác nhau. Ông đưa
ra những tiêu chí phân loại sau:
1/ Dựa vào đặc tính thể chất của cái biểu hiện
2/Dựa vào nguồn gốc của tín hiệu
3/Dựa vào mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện
4/ Căn cứ vào chức năng xã hội của tín hiệu.
Dựa vào mặt thể chất của tín hiệu có thể phân chia ra được cái loại tín hiệu
như: tín hiệu màu sắc, tín hiệu âm thanh v v Trong đó tín hiệu ngôn ngữ được
coi là một loại tín hiệu đặc biệt.
1.1.2 Tín hiệu ngôn ngữ
Tín hiệu ngôn ngữ (THNN) luôn nằm trong ba mối quan hệ chính: quan
hệ giữa các tín hiệu với tín hiệu, quan hệ giữa tín hiệu với thực tế, quan hệ giữa
tín hiệu với nhân vật giao tiếp. Ba quan hệ này hình thành ba lĩnh vực nghiên
Trần Thị Thái Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Tố Hữu

17
cứu: cú học, nghĩa học và dụng học. Ba bình diện này luôn đặt trong mối quan hệ
khăng khít với nhau, không có cái này là không thể có cái kia.
Một cái gì đó để trở thành tín hiệu ngôn ngữ nó phải thỏa mãn các điều
kiện sau:
Thứ nhất, THNN được xây dựng từ hai thể chất (thể chất vật chất và thể
chất tinh thần). Thể chất vật chất là các âm thanh do bộ máy phát âm của con
người phát ra và các âm thanh ấy được ký hiệu lại bằng hệ thống văn tự; thể chất

một đặc tính làm nên bản chất tín hiệu của ngôn ngữ. Và giá trị của mỗi yếu tố là
do các yếu tố khác trong hệ thống quy định. Sau này, Ch.W. Morris cũng đồng
tình với Sausure về quan điểm cho rằng tất cả các tín hiệu đều nằm trong quan hệ
với các tín hiệu khác và quy định lẫn nhau. Do đó, các tín hiệu luôn nằm trong
một hệ thống nhất định. Ngôn ngữ là một loại tín hiệu đặc biệt nên nó cũng lập
thành một hệ thống với những cấp độ và quan hệ đặc thù của mình.
Đỗ Hữu Châu coi ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu sơ cấp được xây dựng với
những thể chất tinh thần và vật chất, đó là những âm thanh do bộ máy cấu âm
của con người làm ra [6, tr 753]. Đỗ Hữu Châu đặc biệt lưu ý vấn đề chức năng
và đặc tính đa chức năng của các tín hiệu ngôn ngữ so với các hệ thống tín hiệu
nói chung và tín hiệu mang chức năng giao tiếp nói riêng. Nếu như các tín hiệu
khác ở từng hệ thống chỉ thực hiện được một chức năng tín hiệu học thì ngôn
ngữ không chỉ thuần túy mang chức năng giao tiếp mà đồng thời còn là công cụ
để tư duy, để tổ chức xã hội, để duy trì sự sống của con người và còn mang chức
năng thi pháp Trong đó chức năng giao tiếp được coi là chức năng xã hội quan
trọng nhất của ngôn ngữ. Đối với chức năng giao tiếp, cũng có sự phân biệt các
Trần Thị Thái Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Tố Hữu

19
chức năng khác nhau có liên quan đến các nhân tố khác nhau của hoạt động giao
tiếp: chức năng miêu tả, chức năng dụng học, chức năng phát ngôn, chức năng
cú học. Chức năng giao tiếp và chức năng tư duy có mối quan hệ mật thiết với
nhau. Mỗi đơn vị ngôn ngữ vừa phục vụ cho hoạt động giao tiếp vừa phục vụ
cho hoạt động tư duy. Có thể kể chức năng định danh là chức năng đặc trưng của
tín hiệu ngôn ngữ. Chức năng định danh chỉ riêng ngôn ngữ mới có.
Từ các phương diện chức năng khác nhau của ngôn ngữ có thể xác định ý
nghĩa tín hiệu của chúng trên tất cả những đơn vị mang nghĩa như từ, cụm từ,
câu, đoạn văn, văn bản. Một từ ngữ hay một câu nói nào đó có thể vừa mang
những thông tin về sự vật, hiện tượng được nói đến, vừa bộc lộ những đặc điểm
về địa phương, về nghề nghiệp, về trạng thái tâm lý của người nói v.v

hệ thống phương tiện biểu hiện của nghệ thuật. Đó là những phương tiện nghệ
thuật được tập trung theo một hệ thống tác động thẩm mỹ, được chúng ta tiếp
nhận như là những tín hiệu đặc biệt, có khả năng kích thích mạnh đến thế giới
tinh thần của chúng ta (Dẫn theo [20, tr17]). Và chúng có tính chất vật thể hay
phi vật thể thì cũng phải có ý nghĩa thẩm mỹ và được sử dụng vào mục đích
thẩm mỹ.
Đỗ Hữu Châu đã đi vào những kiến giải cụ thể hơn về THTM. Theo ông,
ngôn ngữ THTM là phương tiện sơ cấp của văn học. Ngôn ngữ thực sự của văn
học là ngôn ngữ - THTM, cú pháp- THTM. Tín hiệu (TH) ngôn ngữ tự nhiên
trong văn học chỉ là hình thức- cbh của THTM. Hoặc có thể nói theo Đinh Trọng
Lạc là TH ngôn ngữ- văn học ấy đóng vai trò là hệ thống tín hiệu thứ nhất làm
Trần Thị Thái Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Tố Hữu

21
cơ sở cho hệ thống tín hiệu thứ hai của THTM [29, tr137]. Còn Trần Ngọc Thêm
lại gọi nó là “mã hoá hai bậc”.
Như vậy, tín hiệu ngôn ngữ nghệ thuật được xây dựng trên cơ sở ngôn ngữ
tự nhiên. Nếu như các tín hiệu ngôn ngữ chỉ giải quyết các nhiệm vụ tức thời thì
THTM không chỉ có tác dụng đó mà nó còn có tham vọng vươn tới cái muôn
đời. Nếu THNN thông thường có thể không trọn vẹn, đầy đủ thì THTM luôn
luôn là hiện tượng trọn vẹn, đầy đủ để tự nó có thể thuyết minh ý nghĩa của nó
trong môi trường giao tiếp văn học.
Để hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa TH ngôn ngữ và THTM, chúng ta có thể
tham khảo ý kiến của L.Hzelmslev về ngôn ngữ liên hội dựa theo sơ đồ sau (dẫn
theo [1, tr21]): THTM
của hiện thực, của tâm trạng (những chi tiết, những sự vật hiện tượng, những
cảm xúc thuộc đời sống hiện thực và tâm trạng), những yếu tố của chất liệu (các
yếu tố của chất liệu ngôn ngữ với văn chương, các yếu tố của chất liệu màu sắc
với hội hoạ, âm thanh có nhịp điệu với âm nhạc) được lựa chọn và sáng tác trong
tác phẩm nghệ thuật vì mục đích thẩm mỹ [39, tr26], [1, tr23].
1.1.4 Mối quan hệ giữa Tín hiệu, Tín hiệu ngôn ngữ và Tín hiệu thẩm mỹ
Có thể nói rằng TH, THNN và THTM là ba khái niệm có mối liên hệ
khăng khít với nhau, cái này là tiền đề, cơ sở cho sự xuất hiện của cái kia. Để
“một cái gì đó” trở thành TH thì nó phải có những sự kiện về tính vật chất, phải
gợi ra hoặc biểu thị cho một cái gì khác với chính nó, phải tác động vào một chủ
thể và được chủ thể tiếp nhận và lý giải được, phải nằm trong một hệ
thống Ngôn ngữ có đâỳ đủ những đặc điểm trên vì thế ngôn ngữ cũng là một
hệ thống TH nhưng là một hệ thống TH đặc biệt.
Vì là một hệ thống TH đặc biệt nên nó có một số đặc điểm sau:
THNN không chỉ mang quan hệ âm - nghĩa như các TH khác, nó còn chứa
đựng các TH khác: Phức thể âm – nghĩa, đến lượt nó lại có thể có một nghĩa mới
dẫn đến mối quan hệ âm- nghĩa + nghĩa, rồi phức thể thứ ba lại có thể có quan hệ
với một nghĩa mới. Chính vì thế, các đơn vị ngôn ngữ mới có khả năng tạo ra
hàng loạt các nghĩa như nghĩa bóng, hàm ngôn, hiển ngôn, ẩn ý khiến cho hệ
thống ngôn ngữ càng phong phú, phức tạp và có những khả năng diễn đạt to lớn
mà các hệ thống TH khác không thể có được.
Trần Thị Thái Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Tố Hữu

23
Theo F.de Sausure, THNN mang tính võ đoán và mang tính hình tuyến.
Khi ngôn ngữ dùng để giao tiếp, chuỗi âm thanh được phát ra lần lượt nối tiếp
nhau vì thế người nghe phải tiếp nhận các đơn vị lần lượt theo trục thời gian.
Không như các TH khác như trong âm nhạc, hội hoạ ta có thể cảm nhận được
trực tiếp các THNN bằng các giác quan và tiếp nhận một lúc nhiều đơn vị.
Nếu như các hệ thống TH khác chỉ dùng ở một phạm vi nhất định thì TH

mẻ của THNNTM “thuyền”.
Như vậy, THTM phải là hệ thống cấu trúc ý nghĩa có hai bình diện nghĩa
trở lên, trong đó có một nghĩa là ý nghĩa từ vựng và nghĩa thứ hai là ý nghĩa hàm
ẩn mang giá trị lâm thời.
1. 2 Những đặc tính của tín hiệu thẩm mỹ.
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra THTM có 9 đặc tính chủ yếu sau đây:
1.2.1. Đặc tính cấp độ.
Có nhiều quan điểm về sự phân chia cấp độ THTM.
F.de Sausure cho rằng: “Thường chúng ta không nói bằng những TH riêng
lẻ mà bằng nhóm những TH, bằng khối có tổ chức cũng là TH”. Hay nói cụ thể
hơn, THTM phức là tổ hợp của nhiều TH đơn (mang ý nghĩa thẩm mỹ); đó có
thể là những hình tượng văn học, hình tượng nhân vật trong các tác phẩm, kể cả
các tác phẩm lớn.
Ví dụ, thành ngữ “Kiến bò miệng chén” và sự liên hệ của câu thơ trích
trong truyện Kiều sau đây
Lo gì việc ấy mà lo
Kiến trong miệng chén có bò đi đâu
Trần Thị Thái Một số tín hiệu thẩm mỹ trong thơ Tố Hữu

25
Nếu như thành ngữ “Kiến bò miệng chén” chỉ nói về cái luẩn quẩn của sự
vật, không thoát khỏi cảnh hiện tại và Nguyễn Du đã sử dụng thành ngữ này
bằng cách: đặt vào trong lời nói của Hoạn Thư khiến cho lời nói của thị toát lên
sự đáo để. Như vậy, nếu như thành ngữ trên là TH đơn thì câu thơ trên trong
truyện Kiều của Nguyễn Du là một TH phức.
Đỗ Hữu Châu phân biệt THTM ở hai cấp độ cơ bản sau:
a) Cấp độ cơ sở (TH đơn): ở cấp độ này THTM ứng với một chi tiết, một
sự vật thuộc thế giới khách quan, ví dụ như: Tổ quốc, Nhân dân, Mùa xuân, Mặt
trời đó là những THTM đơn có chức năng tham gia cấu tạo nên những THTM ở
cấp độ cao hơn trong tác phẩm văn học. THTM đơn được tạo nên từ các từ hay


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status