Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học - Pdf 25


Đại học quốc gia Hà Nội
Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn

Lê Thị Thanh Thương Hà minh đức với nghiên cứu
phê bình văn học

Luận văn thạc sĩ văn học
Hà Nội- 2009
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 7
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
4. Phương pháp nghiên cứu 15
5. Cấu trúc luận văn 15
Chƣơng 1: HÀ MINH ĐỨC VÀ DUYÊN NỢ VĂN CHƢƠNG 16
1.1 Hà Minh Đức: Từ nhà giáo đến nhà văn 16
1.1.1 Nhà giáo 16
1.1.2 Nhà văn 20
1.2 Nhà nghiên cứu và phê bình văn học xuất sắc 27
1.3 Đánh giá tổng quát 29
Chƣơng 2: SỰ NGHIỆP NGHIÊN CỨU VĂN HỌC 30
2.1. Nghiên cứu tác gia văn học 31
2.2. Nghiên cứu thể loại văn học 38
2.3. Nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam hiện đại 44
2.4. Tiểu kết 51
Chƣơng 3: SỰ NGHIỆP PHÊ BÌNH VĂN HỌC 54

bình. Năm 1961, cuốn Nam Cao – nhà văn hiện thực xuất sắc nhất ra đời từ
một dự định đã được nung nấu từ những năm còn học đại học. Cuốn sách đã
được nhà văn Tô Hoài đánh giá cao về mặt chất lượng cũng như sự công phu
nghiên cứu và sáng tạo của tác giả. Năm 1962, hai cuốn giáo trình Tác phẩm
văn học và Loại thể văn học lần lượt ra đời trở thành tài liệu không thể thiếu
cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập của nhiều thế hệ sinh viên và
giảng viên và cho những độc giả quan tâm đến lĩnh vực nghiên cứu văn học.
Tiếp sau đó, những công trình lớn của Hà Minh Đức tiếp tục được công
bố như Nguyễn Huy Tưởng (viết chung với Phan Cự Đệ, 1966), Thơ ca Việt

Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học

Lê Thị Thanh Thương

2
Nam – Hình thức và thể loại (viết chung với Bùi Văn Nguyên, 1968), Nhà văn
và tác phẩm (1971)… đặc biệt là sự xuất hiện của công trình công phu và bề
thế: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại (1974) đã thể hiện sức lao
động và một trí tuệ tuyệt vời. Khi viết lời tựa cho công trình này nhà thơ Chế
Lan Viên đã nhận định: “Đọc xong tập sách, chúng ta càng tin ở khả năng của
Thơ hơn, giữa lúc ở nhiều nơi muốn báo tử nó. Chúng ta cũng càng tin thêm ở
những gì chúng ta làm được về thơ trong ba chục năm nay! Ba mươi năm thơ”
[1, tr. 250]. Trong số những công trình nói trên, nhiều cuốn sách do ông viết
có giá trị và tầm ảnh hướng lớn đối với công chúng và giới chuyên môn và
được tái bản rất nhiều lần như: Thơ ca Việt Nam (1968); Thơ và mấy vấn đề
trong thơ Việt Nam hiện đại (1979); Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhà thơ lớn của
dân tộc (1979).
Ra đời với số lượng lớn và liên tục nhưng chất lượng của các công trình
nghiên cứu, phê bình của Hà Minh Đức không hề giảm sút. Mỗi cuốn sách của
ông đều có những đóng góp nhất định cho nền lí luận, nghiên cứu và phê bình

học nhưng thực tế các công trình nghiên cứu lịch sử văn học của ông lại lớn
hơn nhiều. Với tri thức lý luận phong phú, với sự sắc sảo và nhạy cảm của nhà
phê bình Hà Minh Đức tiếp tục có những công trình văn học sử có giá trị tiêu
biểu đi vào nhiều vấn đề của văn học: Khảo luận văn chương (1997); Văn học
Việt Nam hiện đại (1997); Đi tìm chân lý nghệ thuật (1998); Văn chương tài
năng và phong cách (2001). Đặc biệt, những công trình nghiên cứu của ông
về Hồ Chí Minh đã tạo được tiếng vang lớn khi tiếp cận con người vĩ đại này
ở nhiều mặt, nhiều khía cạnh và chịu không ít sự ảnh hưởng của những công
trình lớn đã nghiên cứu về Bác ở giai đoạn trước đó. Cụm công trình nghiên
cứu về Hồ Chí Minh như: Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhà thơ lớn của dân tộc;
Tác phẩm văn của chủ tịch Hồ Chí Minh (1985); Báo chí Hồ Chí Minh
(2000); Sự nghiệp báo chí và văn học của Hồ Chí Minh (2000)… đã thể hiện
một sức lao động không mệt mỏi để đem lại những “quả ngọt” hữu ích và có
giá trị bền vững đối với văn học nước nhà.

Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học

Lê Thị Thanh Thương

4
Cùng với công tác nghiên cứu, phê bình ông còn là chủ biên của không
ít các công trình lớn được xuất bản như: Báo chí những vấn đề lý luận và thực
tiễn (1997), Nhà văn nói về tác phẩm (1997). Đặc biệt, ông còn tham gia vào
việc tuyển chọn và giới thiệu công trình của các tác giả lớn trong nền văn học
Việt Nam hiện đại.
Không chỉ là một nhà nghiên cứu, phê bình, Hà Minh Đức còn được
biết đến với vai trò của một nhà văn. Ông đi vào sáng tác như một niềm đam
mê, sự thăng hoa của cảm xúc và cả sự tích lũy của vốn sống. Dường như óc
quan sát để phê bình, sự thẩm định và tìm tòi trong nghiên cứu được hội tụ
trong từng tác phẩm ông sáng tác sau này. Người đọc bắt gặp một tâm hồn

mình cho công việc và nghề nghiệp. Những danh hiệu cao quý được dành cho
ông là sự bù đắp xứng đáng với những gì ông đã cống hiến. Năm 1991, ông
chính thức được phong hàm giáo sư, đó là học hàm danh giá khẳng định
những đóng góp của ông trong công tác nghiên cứu văn học. Với cương vị
một nhà giáo, danh hiệu Nhà giáo ưu tú (1994), Nhà giáo nhân dân (2000) đã
nói lên những cống hiến lớn lao của ông trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Bảng thành tích ấy càng bề thế hơn bởi những tấm huy chương: Huy chương
lao động hạng ba (1995), Huy chương lao động hạng nhất (2000, Giải thưởng
về nghiên cứu văn học giải thưởng về lí luận phê bình (2000).
Có thể nói, bên cạnh những cây bút nghiên cứu, phê bình uy tín như
Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan, Trương Chính… Hà Minh Đức
xuất hiện muộn hơn nhưng đã tạo được một tiếng nói rất riêng và có sức
“nặng” ảnh hưởng không nhỏ đến nền văn học Việt Nam hiện đại. Những
công trình nghiên cứu đầu tay của ông đã góp phần gợi mở và phát hiện về
một khung trời mới, táo bạo nhưng đã để lại những dấu ấn có giá trị dài lâu.
Cùng với nó, ngòi bút phê bình của ông cũng là một hướng đi đúng đắn góp
phần phát hiện kịp thời và cổ vũ những ngòi bút tài hoa. Nhiều công trình
nghiên cứu của ông dù đã trải qua nhiều thập kỷ nhưng cách tư duy và những
vấn đề ông đặt ra vẫn không hề bị cũ, ngược lại nó vẫn là một công cụ hữu

Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học

Lê Thị Thanh Thương

6
dụng giúp người đọc tiếp cận văn chương. Không bị lu mờ bởi những cây đa
cây đề, Hà Minh Đức vẫn tạo được một bản sắc riêng trong phê bình.
Hiện nay, dù tuổi đời không còn trẻ nhưng dường như tuổi tác không
phải là rào cản đối với việc ông tiếp tục theo đuổi ước mơ và trả tiếp những
món nợ “duyên nợ” đối với văn chương. Vẫn miệt mài trên bục giảng để chia

nữa chúng tôi muốn ghi nhận và khẳng định hơn nữa vài trò, vị trí của ông đối
với nền văn học nước nhà nói chung và lĩnh vực nghiên cứu và phê bình nói
riêng đồng thời khẳng định một phong cách nghiên cứu, phê bình độc đáo và
cá tính.
2. Lịch sử vấn đề
Trong lĩnh vực nghiên cứu, phê bình Hà Minh Đức có một phong cách
riêng. Phong cách ấy được hình thành bởi sự tâm huyết với văn chương, tấm
lòng gắn bó với nghề nghiệp. Nhưng hơn hết phong cách của Hà Minh Đức
được tạo bởi tài năng văn chương thực thụ cả trên phương diện cảm nhận và
sáng tạo; sức hiểu biết và khả năng kết hợp nhiều ngành khoa học khi nghiên
cứu, phê bình. Chính nền tảng kiến thức uyên thâm đó đã góp phần tạo dựng
nên phong cách nghiên cứu, phê bình văn học mà như Lý Hoài Thu đã nhận
xét một cách khá đầy đủ và chính xác: “Phong cách phê bình của ông là sự kết
hợp hài hòa giữa trí tuệ và cảm xúc; giữa lí luận kinh điển và thực tiễn sinh
động, vững vàng trong quan điểm học thuật nhưng uyển chuyển linh hoạt”
[27, tr. 249]. Với hệ thống các công trình nghiên cứu có giá trị, ông thực sự là
một cây bút nghiên cứu – phê bình rất đáng chú ý của nền văn học Việt Nam
hiện đại. Tài năng của ông cùng với các bậc tiền bối đã góp phần làm nên sự
khởi sắc cho lĩnh vực nghiên cứu và phê bình văn học nước nhà.
Bên cạnh sự công phu, tài năng và tâm huyết trong nghiên cứu, phê
bình, các sáng tác của ông ở thể ký, thơ còn cho thấy một phong cách riêng
độc đáo – độc đáo ở văn phong, ở lối giản dị, hóm hỉnh, lắng đọng trong từng
bài ký, từng vần thơ.

Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học

Lê Thị Thanh Thương

8
Với số lượng tác phẩm khá lớn ở các thể loại khác nhau, Hà Minh Đức

9
đánh giá cao sức lao động nghiêm túc, bền bỉ trong lĩnh vực nghiên cứu khoa
học của Hà Minh Đức.
Là người đương thời nên hầu hết những nhận xét, đánh giá về ông đều
là của giới chuyên môn, bạn bè hoặc học trò. Tuy vậy, những ý kiến này
không “duy tình”, vẫn tôn trọng yếu tố khách quan trong khi nhận xét, đánh
giá về các công trình của Hà Minh Đức. Có nhiều công trình viết và giới thiệu
về con người cũng như sự nghiệp của Hà Minh Đức, nhưng có thể tạm chia
như sau:
Đánh giá về công trình của Hà Minh Đức: Giáo sư Hà Minh Đức với
các cụm công trình về Văn học Việt Nam hiện đại (Bộ Khoa học và Công
nghệ), Trong một nhà phê bình có một nhà sáng tác (Hữu Thỉnh), Sự thăng
hoa trong nghệ thuật (Trần Huyền Sâm)…
Đánh giá về con ngƣời và phong cách Hà Minh Đức: GS Hà Minh
Đức, như tôi nghĩ ( Thành Duy); Cát sẽ ướt trở lại (Đinh Nam Khương), Kỷ
niệm xa và gần với giáo sư Hà Minh Đức (Phong Lê), Đi mãi vẫn còn thu (Đỗ
Văn Khang), Ghi chép về một phong cách (Hà Công Tài)… cùng hàng trăm
bài viết của bạn bè, đồng nghiệp đặc biết là các thế hệ học trò thân thương của
ông sau này đã thành danh trong nhiều lĩnh vực.
Đánh giá có tính chất tổng quát về toàn bộ sự nghiệp Hà Minh Đức:
Giáo sư Hà Minh Đức tình yêu cuộc sống và sức sáng tạo của một đời văn
(Trần Khánh Thành), Lời giới thiệu (Hoàng Trinh - Tuyển tập Hà Minh Đức –
Tập 1)…
Các nhận xét, đánh giá kể trên đều ghi nhận những thành tựu mà nhà
giáo nhân dân, Hà Minh Đức đã đạt được trong toàn bộ sự nghiệp của mình.
Một số bài viết đã đi vào tìm hiểu công trình nghiên cứu, phê bình và sáng tác
của ông nhằm chỉ ra một vài đặc điểm nổi bật về nghệ thuật và tư tưởng tuy
vậy mới dừng lại ở bước đầu nhận xét, cảm nhận và khái quát chung mà chưa

Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học

Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học

Lê Thị Thanh Thương

11
Mở đầu Tập 1 là lời giới thiệu đầy trân trọng của Hoàng Trinh, tổng
quát hành trình sáng tạo của Hà Minh Đức trên cả hai phương diện, nghiên
cứu và sáng tác văn học. Hoàng Trinh cho rằng: “Hà Minh Đức giữ được sự
hài hoà của trạng thái song đôi giữa chất xanh tươi của lý luận và nghiên cứu
khoa học với cây đời tươi xanh trong sáng tác văn chương” [1, tr. 14]. Trong
lĩnh vực nghiên cứu văn học, đóng góp của Hà Minh Đức được thể hiện ở ba
hướng chính: Lý luận văn học, Văn học Việt Nam hiện đại, Sự nghiệp văn
chương và báo chí của Hồ Chí Minh. Ngoài những giáo trình Tác phẩm văn
học và Loại thể văn học ông viết nhiều chuyên đề về thể loại: Thơ và mấy vấn
đề trong thơ Việt Nam hiện đại (1974), Ký về chiến tranh cách mạng và xây
dựng chủ nghĩa xã hội (1980), Cơ sở lý luận báo chí (2000). Nhờ những công
trình chuyên sâu ấy mà ông được coi là một chuyên gia về lý luận thể loại văn
học. Một trong những công trình lý luận quan trọng của ông là chuyên luận
C.Mác – Ph.Ăngghen – V.I.Lênin và một số vấn đề lý luận văn nghệ (1982).
Công trình này đã giúp người đọc vừa tiếp nhận được tư tưởng văn nghệ của
C. Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin vừa thấy được sự vận dụng sáng tạo của
Đảng ta trong đường lối văn hoá nghệ thuật, góp phần soi sáng những vấn đề
nảy sinh trong đời sống văn nghệ.
Tập 2 tuyển những công trình nghiên cứu của Hà Minh Đức về văn học
Việt Nam hiện đại. Với tri thức lý luận phong phú, với sự sắc sảo và nhạy cảm
ông đã đóng góp nhiều công trình văn học sử có giá trị, tiêu biểu là các tập
Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà thơ lớn của dân tộc (1979), Tác phẩm văn của
Chủ tịch Hồ Chí Minh (1985), Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê (1994), Nam
Cao đời văn và tác phẩm (1996), Một thời đại trong thi ca (1996), Khảo luận
văn chương (1997). Tác gia văn học thu hút niềm say mê và tâm huyết của Hà

văn chương. Bên cạnh việc tìm hiểu các công trình nghiên cứu, phê bình,
chúng tôi cũng khảo sát thêm các sáng tác văn chương của ông để hiểu rõ hơn
về một cây bút tài hoa cũng như sự nghiệp của Hà Minh Đức như: Vị giáo sư
và ẩn sĩ đường (bút ký), Ba lần đến nước Mĩ (bút ký), Tản mạn đầu ô (bút
ký), Đi một ngày đàng (bút ký), NXB, Đi hết một mùa thu (thơ), Ở giữa ngày

Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học

Lê Thị Thanh Thương

13
mùa đông (thơ), Những giọt nghĩ trong đêm (thơ), Khoảng trời gió cát bay
(thơ), Người của một thời (bút ký).
Một vấn đề mà chúng tôi quan tâm trong quá làm luận văn này đó là nét
đặc thù trong công tác nghiên cứu và phê bình văn học. Bản thân những người
làm công tác nghiên cứu, phê bình cũng chịu sự đòi hỏi khắt khe từ công
chúng và chính đối tượng mà họ nghiên cứu. Xuất phát từ đặc thù này mà
công trình của chúng tôi cũng nhìn nhận một cách khách quan đối với những
người làm công việc này. Rõ ràng, trong văn hiện đại, nghiên cứu – phê bình
có tác động rất lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển của văn học. “Thực chất
công việc của nhà phê bình trong đời sống văn học hiện đại là làm việc với
chương trình đương thời mình, quan sát, ghi nhận các động thái của nó và tìm
cách tác động vào nó. Độ rộng, sự pha tạp linh tinh của các loại công việc mà
ngòi bút một nhà phê bình cần có thể và phải động đến cho thấy độ rộng và sự
pha tạp của đời sống văn học ở thời hiện đại của nó” [16, tr. 5]. Nhưng cái khó
của công việc này là ở chỗ nó còn là một hình thức đấu tranh tư tưởng trên
mặt trận văn nghệ nói riêng, trên lĩnh vực hình thái, ý thức nói chung. Do đó
đòi hỏi người làm lĩnh vực này phải có một nền tảng lí luận thực sự phong phú
và vững chắc. Cũng bàn về vấn đề này, Hoàng Trinh cho rằng “Có sáng tác
văn học là có phê bình văn học, đó là một quy luật. Sáng tác là nói lên, nói

phẩm nghiên cứu – phê bình thường tồn tại trong từng thời điểm, nó phụ
thuộc vào cách nhìn nhận, đánh giá của dư luận xã hội trong những khoảng
thời gian nhất định. Bởi vậy sức sống của một tác phẩm nghiên cứu – phê bình
thường không bền. Tuy nhiên không phải thế mà văn học của chúng ta không
có những công trình nghiên cứu có giá trị bền vững. Cho đến bây giờ Thi
nhân Việt Nam vẫn là một mẫu mực cho văn chương phê bình về Thơ mới;
Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan còn giữ được những giá trị của một bức
tranh tổng hợp một thời kỳ văn học… Và trong giới nghiên cứu – phê bình
văn học chúng ta thường tự hào nhắc đến những tên tuổi của những cây bút tài
năng như Hoài Thanh, Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan, Trương Chính… ở
thời điểm hiện nay, nghiên cứu phê bình cũng xuất hiện những tác phẩm có

Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học

Lê Thị Thanh Thương

15
chỗ đứng rất vững trong văn đàn. Những công trình đó đã phục vụ thiết thực
cho sự phát triển của văn học nước nhà. Trong số đó có không ít công trình
nghiên cứu – phê bình của Hà Minh Đức.
Trong quá trình phát triển luận văn, chúng tôi cũng có sự so sánh và
liên hệ với những tác phẩm của các tác giả khác cùng lĩnh vực, tham khảo
thêm các bài nghiên cứu, những đánh giá, nhận định về tác giả như là một kho
tư liệu để học hỏi và làm phong phú thêm cho luận văn cả về mặt tư liệu lẫn
nội dung.
Trong khuôn khổ đề tài và thời gian có hạn chúng tôi chỉ mới bước đầu
đưa ra những nhận định riêng về tác giả trên cơ sở tìm hiểu ở hai lĩnh vực
chính là Nghiên cứu văn học và Phê bình văn học tập trung đi vào những tác
phẩm tiêu biểu, chọn lựa những luận điểm mang tính chất tổng quát để khảo
sát và phân tích. Đồng thời do yêu cầu dung lượng luận văn nên chúng tôi chỉ

1941 đến năm 1953 ông theo học phổ thông sau đó thi đỗ đại học. Khoảng
thời gian từ năm 1954 đến năm 1957 ông là sinh viên khoa Ngữ văn, Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội. Bước chân vào môi trường đại học với đặc thù của
ngành nghề theo đuổi ông đã biến lý thuyết thành thực tế bằng việc tham gia
viết bài cho các tạp chí sinh viên, tạp chí khoa học. Sớm bắt tay vào thực tiễn
sáng tác đã cho ông kinh nghiệm và nhận thực rõ hơn về định hướng công
việc lâu dài. Sau khi được giữ lại trường, ông đóng vai trò là trợ giảng cho
Đặng Thai Mai và nhiều thầy giáo khác, và bước đầu đi vào tìm hiểu một vấn
đề tương đối khó lúc bấy giờ là lí luận văn học Việt Nam. Từ năm 1957 đến
năm 1960 Hà Minh Đức chính thức đảm nhiệm vai trò giảng viên khoa Ngữ
văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Và từ năm 1960 đến nay ông tiếp tục
công tác giảng dạy tại khoa Văn, khoa Báo chí Trường Đại học Tổng hợp Hà
Nội (Nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội).
Trong quá trình giảng dạy, Hà Minh Đức còn tham gia giảng dạy tại
nhiều trường đại học lớn trong và ngoài nước. Ông là người thích kết hợp
giảng dạy và nghiên cứu nên lúc nào trong bài giảng của ông cũng có những

Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học

Lê Thị Thanh Thương

17
tư liệu và suy nghĩ mới, sinh động để truyền đạt cho sinh viên. Những tri thức
ngoài sách vở những vốn sống thực tế sinh động trong các bài giảng luôn trở
thành những bài học bổ ích, những kinh nghiệm sống, kinh nghiệm làm việc
đầy ý nghĩa cho bao lớp học trò, khiến những buổi học luôn trở nên thú vị.
Với ông sự hứng thú trên mỗi khuôn mặt học sinh trong từng giờ học hơn hết
là niềm vui, là động lực thôi thúc ông nguyện gắn bó trọn đời với cái nghề
nhọc nhằn vinh quang này, mà như có lần ai đó từng hỏi: Nếu được chọn lại

dành trọn tâm huyết cho nghề nghiệp cao quý này. Với ông nhiệt huyết lao
động chưa bao giờ nguội tắt, nó chứa sức bền của niềm đam mê và cả khát
khao được cống hiến cho cái nghiệp mà ông đã bén duyên. Bao khóa học với
hàng nghìn sinh viên được ông giảng dạy, truyền thụ kiến thức. Ông đã hướng
dẫn hàng trăm khóa luận cử nhân, vài chục luận văn cao học, hướng dẫn thành
công 15 luận án tiến sĩ… Bao thế hệ học trò của thầy Hà Minh Đức đã thành
danh trong các công việc của xã hội góp phần làm rạng danh thêm cho người
Thầy hết mực gần gũi và thân quen ấy. Những câu chuyện, những kỷ niệm về
Thầy vẫn được những người học trò nay cũng đã là ông, là bà ghi nhớ mãi:
“Thầy của chúng ta – Người Thầy chí hiếu, chí tình, đa tài và cũng rất
đa cảm” [27, tr. 60]
“Hơn 30 năm … Dù mái tóc của thầy có bạc và tóc chúng tôi không còn
xanh như xưa nhưng cả Thầy và chúng tôi vẫn giữ được cái trẻ trung cần có
của nghề nghiệp. … Trên 45 năm đứng ở giảng đường đại học, và trên 30 tập
sách đóng góp cho đời, trong đó có những cuốn sách, mà theo tôi, dù Thầy đã
viết từ hơn 30 năm trước đến giờ vẫn chưa có người nào đạt tới. Những danh
hiệu cao nhất của một đời nghề Thầy đã đạt được cả. Vinh quang như Thầy,
có lẽ không mấy ai có được. Mọi vui buồn của một đời người Thầy cũng đã
nếm trải” [27, tr. 65]
“Thầy Hà Minh Đức còn là một mẫu hình sinh động để chúng tôi học
hỏi về phép đối nhân xử thế, về khả năng dung hóa các mối quan hệ, khả năng
“hài hước hóa” những chuyện “nghiêm trọng” hoặc đang sắp sửa trở thành

Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học

Lê Thị Thanh Thương

19
nghiêm trọng, khả năng “xì hơi” làm dịu bầu không khí quá căng thẳng của
những cuộc họp hành, bầu bán” [27, tr. 72]

20
cuộc. Khi nghĩ về thầy giáo của mình người học trò tác giả của bài viết Giáo
sư Hà Minh Đức - Người của thời đang sống đã hồi ức lại những kỷ niệm đẹp
đẽ: Đã bao nhiêu thế hệ sinh viên từng ngồi nghe những bài giảng ấy, họ
trưởng thành trong đời sống, giống nhau và khác nhau, thậm chí trái ngược
nhau, tranh cãi nhau kịch liệt, có khi đến mức như cãi cọ quan niệm với nhau,
nhưng tất cả, khi nhắc về Hà Minh Đức, đều một niềm trân trọng. Người
ngưỡng vọng thầy ở những thành tựu. Người xót xa thầy ở những điều chưa
làm được hay ở những việc làm có thể chỉ đắc dụng một thời. Nhưng ai cũng
trân trọng thầy ở tình thân ái "đồng hội đồng thuyền" mà dường như thầy đã
dành cho tất cả! Ai cũng thương cảm thầy khi đọc câu thơ bất chợt hiện trong
chiều: "Khoảng trời nào cũng có cát bay, Cuộc đời nào cũng dính vào với
cát"
Với những đóng góp to lớn, không mệt mỏi cho sự nghiệp giáo dục –
sự nghiệp trồng người, năm 2000 Hà Minh Đức được vinh dự đón nhận danh
hiệu cao quý mà Đảng và Nhà nước đã trao cho: Danh hiệu – Nhà giáo Nhân
dân.
1.1.2 Nhà văn
Trong một lần trò chuyện với học trò Hà Minh Đức đã nói: “Tôi cũng
đã gắn cuộc đời người thầy với văn chương, một nghề nhiều âu lo và thử
thách. Hoạt động nghiên cứu văn học đã thực sự giúp cho việc dạy học. Giờ
giảng thầy phải đem lại cho các em những tri thức bổ ích, cái mới và sự hứng
khởi. Tôi luôn cố gắng làm theo điều đó” [27, tr. 8]. Có thể nói thực tế sáng
tác văn chương không hề độc lập với công tác giảng dạy mà chính là đòn bẩy
cho sự nghiệp giảng dạy của Hà Minh Đức.
Không chỉ cặm cụi trong kiến thức sách vở, ngay từ khi còn là sinh viên
của Trường Đại học Sư phạm, Hà Minh Đức đã tích cực hoạt động văn

Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học



Hà Minh Đức với nghiên cứu phê bình văn học

Lê Thị Thanh Thương

22
dẫn riêng. Không đột xuất nhưng có thể nói được bản chất. Ngay từ phẩm ký
đầu tiên Vị giáo sư và ẩn sĩ đường Hà Minh Đức đã tâm sự "cho dù là những
mảnh nhỏ, mảnh vỡ của cuộc sống nhưng biết chắp nối lại theo dòng kỷ niệm
và mạch tình cảm gắn bó vẫn có thể tìm thấy trong những góc lãng quên hình
bóng chân thực của cuộc đời". Tư tưởng và quan niệm đó không hề thay đổi
theo thời gian và thể hiện rõ nét trong các tác phẩm ông đã cho ra mắt trong
thời gian gần đây. Có lẽ điều ông lo lắng nhất là những hạn chế của đời sống
cá nhân có đủ cung cấp cho những trang viết để khỏi tẻ nhạt và đơn điệu. Chỉ
khi cuộc sống cá nhân dừng lại và vô nghĩa thì mới là điều đáng sợ, bởi bất kì
một tác phẩm văn chương nào không riêng gì ký sẽ trở thành giấy lộn khi ở đó
không tồn tại cuộc sống và không có mối dây liên hệ nào đến thực tại: Không
ai chọn lựa được trước những gì sẽ xẩy ra trong cuộc sống chung và riêng. Vì
vậy ký không khỏi bị ràng buộc nhiều từ cuộc sống. Rất chân thành ông bộc
lộ niềm đam mê viết ký của mình như là một việc làm nhằm thỏa mãn thú viết
lách, sự tò mò về cuộc sống của ông:
“Tôi viết ký lúc "về già". Vì vậy, các trang viết về cuộc đời vừa già dặn
vừa như ngơ ngác. Tuổi tôi bây giờ, "lực hút vào rồi lại đẩy ra". Nhiều
chuyện mới bắt gặp thấy thích thú, hăm hở muốn viết nhưng sau lại thấy ngại
ngùng. Nhiều sự việc, con người tôi bắt gặp rất hấp dẫn, nhiều màu vẻ, nhưng
ống kinh nghệ thuật của mình quá hẹp không ôm nổi sự phong phú của cuộc
đời nên đành chừng mực và cũng dần lãng quên. Đó là thực trạng của tuổi già,
cái bất lực của người có tuổi trước cuộc sống. Cái chính là tôi yêu cuộc sống,
yêu đất nước. Ngoài ra, tôi cũng có một vài "ưu điểm nhỏ" khác: tôi ham hiểu
biết về cuộc sống, con người và những năm gần đây tôi lại được đi nhiều, kể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status