1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ HUẾ
SỰ NGHIỆP NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC
CỦA KIỀU THANH QUẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2012
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN THỊ HUẾ
SỰ NGHIỆP NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH VĂN HỌC
CỦA KIỀU THANH QUẾ
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VĂN HỌC
MÃ SỐ: 60.22.32
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học: TS. LÊ VĂN DƯƠNG
binh lửa cháy quê hương” lại biến mất như Kiều Thanh Quế” [17, 178]. Bằng
Giang muốn lưu ý rằng, vì nhiều lý do khác nhau, nhà phê bình này trong một
thời gian dài không được nhắc tới.
Hoài Anh, trong bài viết Kiều Thanh Quế - nhà nghiên cứu phê bình
hiếm có của Nam Bộ, in trong sách Chân dung văn học, Nxb Hội Nhà văn
Hà Nội, 2001, khẳng định: “Kiều Thanh Quế là nhà nghiên cứu - phê bình
văn học hiếm có của Nam Bộ” [1, 939].
2
Nguyễn Huệ Chi, trong cuốn Từ điển văn học bộ mới, Nxb Thế giới,
2004, đánh giá: “Kiều Thanh Quế là cây bút phê bình cấp tiến, đã ghi được
dấu mốc đáng kể vào bước đi lên của bộ môn phê bình văn học non trẻ ở
Việt Nam trước 1945” [7, 749].
Tương tự ý kiến của Hoài Anh, Đoàn Lê Giang, trong bài Văn học
Quốc ngữ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX đến 1945 - thành tựu và triển vọng
nghiên cứu đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 7/2006, nhận định:
“Kiều Thanh Quế có thể coi như nhà phê bình văn học chuyên nghiệp duy
nhất của văn học Nam Bộ” [2, 12]. Cũng Đoàn Lê Giang, trong bài Văn
học Nam Bộ 1932 - 1945 (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 12/2011), tái
khẳng định: “Kiều Thanh Quế là nhà phê bình viết khoẻ nhất, chuyên
nghiệp nhất ở Nam Bộ, chưa có ai trong văn học Nam Bộ thời kì ấy viết
nhiều với một diện quan tâm rộng như ông” [18, 29 - 30].
Phan Mạnh Hùng, trong bài viết Kiều Thanh Quế nhà nghiên cứu phê
bình văn học đăng trên tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 3/2007, đánh giá:
“Ông là một trong số ít các cây bút nghiên cứu, phê bình của Nam Bộ có
công đối với sự phát triển của phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX
và đến nay vẫn cần được khám phá thêm” [24, 62].
Nguyễn Hữu Sơn - Phan Mạnh Hùng, trong bài giới thiệu đầu sách
Cuộc tiến hóa văn học Việt Nam (Nxb, Thanh niên, Hµ Néi, 2009), cho
- Đóng góp của Kiều Thanh Quế trong việc nghiên cứu, phê bình các
hiện tượng văn học dân tộc.
- Đóng góp của Kiều Thanh Quế trong việc tiếp nhận, giới thiệu các
giá trị văn học thế giới vào Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp thống kê, miêu tả
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
4
6. Cấu trúc luận văn
Tương ứng với nhiệm vụ đặt ra, ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu
tham khảo, luận văn được triển khai qua ba chương:
Chương 1. Kiều Thanh Quế trong bối cảnh nghiên cứu phê bình văn
học Việt Nam nói chung, văn học Nam Bộ nói riêng nửa đầu thế kỷ XX
Chương 2. Kiều Thanh Quế với văn học dân tộc
Chương 3. Kiều Thanh Quế với các giá trị văn học thế giới
5
Chương 1
KIỀU THANH QUẾ TRONG BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU, PHÊ BÌNH
VĂN HỌC VIỆT NAM NÓI CHUNG, VĂN HỌC NAM BỘ NÓI RIÊNG
NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
1.1. Tổng quan về sự phát triển của hoạt động nghiên cứu, phê bình
văn học Việt Nam nói chung, văn học Nam Bộ nói riêng nửa đầu thế kỷ XX
1.1.1. Hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam nửa đầu
thế kỷ XX
học kỹ thuật đưa đến những biến đổi về thế giới quan, nhân sinh quan. Văn
hóa dân tộc tiếp bước hòa nhịp với văn hóa khu vực, hội nhập khu vực và
thế giới, chịu ảnh hưởng của ý thức hệ hiện đại: Tư sản và vô sản. Bên
cạnh, những thể lọai truyền thống có những thể loại mới hình thành trong
đó có nghiên cứu, phê bình văn học. Theo Mã Giang Lân, lý luận nghiên
cứu, phê bình văn học Việt Nam thực sự có dấu hiệu hiện đại vào đầu thế
kỷ XX: “Tăng cường tư duy phân tích lý luận sử dụng một số khái niệm
mang tính công cụ để tiếp cận đối tượng, văn học được coi như một đối
tượng khoa học được nhìn nhận đánh giá dưới nhiều góc độ” [26, 345].
Những năm đầu thế kỷ, do tồn dư của nền văn học trung đại hay nói đúng
hơn chúng ta vừa phát huy vừa kế tục truyền thống dân tộc, khuynh hướng
phê bình truyền thống của phần đông các nhà Nho đầu thế kỷ còn chịu ảnh
hưởng quan niệm văn học phong kiến. Hoạt động nghiên cứu, phê bình của
thời điểm này chủ yếu bám sát vào các tác phẩm cụ thể để nhận xét một vài
phương diện nghệ thuật. Với các bài phê bình của Phan Khôi trong Nam
âm thi thoại, Phan Kế Bính trong Việt Hán văn khảo, Lê Thước trong Sự
nghiệp và thi văn của Uy Viễn tướng công Nguyễn Công Trứ.
Tờ Đông Dương tạp chí (1913) ra đời đã hưởng ứng cuộc vận động
truyền bá chữ Quốc ngữ: “Cổ vũ dân tộc An Nam ai cũng dùng chữ Quốc
7
ngữ mà thế vào cái lối khó khăn, học suốt đời mà chẳng ai biết được lấy
cách dùng chữ mà thôi, chứ đừng nói học nữa. Đó là việc tối yếu của bản
báo”. Mục Bình phẩm sách mới do các nhà Nho thực hiện như Nguyễn Đỗ
Mục, Phạm Duy Tốn, Phan Kế Bính... một mặt, giới thiệu và bình phẩm
các tác phẩm văn học cổ Việt Nam, mặt khác phiên dịch và giới thiệu các
tác phẩm văn học Pháp.
Bốn năm sau, tờ Nam phong tạp chí (1917) xuất hiện. Đây là tạp chí
có tính chất bách khoa, chủ xướng cho đăng các công trình dịch thuật, khảo
mình. Trương Tửu nghiên cứu, phê bình Truyện Kiều cho chúng ta một
phương pháp phê bình khách quan khoa học, Vũ Ngọc Phan với công
trình Nhà văn hiện đại phê bình văn học theo phương pháp khoa học...
Tính ưu việt của nghiên cứu, phê bình hiện đại này là phương pháp phân
tích, nghiên cứu, phê bình linh hoạt và có hệ thống hơn. Như vậy, với việc
tiếp thu học tập phương Tây, các nhà nghiên cứu, phê bình không thụ động
máy móc, vừa tiếp thu vừa có tinh thần đổi mới phù hợp với hoàn cảnh và
trình độ tri thức của độc giả.
Nửa đầu thế kỷ XX, phê bình văn học đã có những bước tiến nhanh
chóng và sôi động tạo nên môi trường, không khí tranh luận học thuật rộng
rãi và có nhiều thành tựu lớn: Hiện đại hoá bản thân thể loại và góp phần
hiện đại hoá các thể loại khác như thơ, tiểu thuyết, kịch… Phê bình văn học
được chuyên sâu hơn, hiện đại hơn từ quan niệm đến thao tác tiếp cận đối
tượng. Đặc biệt từ năm 1932, văn học Việt Nam phát triển rực rỡ nổi lên
với phong trào Thơ mới hòa chung nền văn học thế giới. Nghiên cứu, phê
bình văn học phát triển một cách mạnh mẽ thành một bộ môn khoa học độc
lập. Nó đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn học. Chưa bao giờ
hoạt động nghiên cứu, phê bình sôi động như những năm này với những
công trình nghiên cứu, phê bình: Quốc văn cụ thể (1932) của Bùi Kỷ, Phê
bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, Duy tâm và duy vật (1935) của
9
Hải Triều, Chương Dân thi thoại (1936) của Phan Khôi, Hàn Mạc Tử
(1941) của Trần Thanh Mại, Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh
& Hoài Chân, Nguyễn Du và Truyện Kiều (1942) của Trương Tửu, Nhà
văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan, Việt Nam văn học sử yếu (1943)
của Dương Quảng Hàm, Khảo luận về Kim Vân Kiều (1943) của Đào
Duy Anh, Văn học khái luận (1944) của Đặng Thai Mai... Phù hợp với tiến
trình phát triển xã hội nói chung và nền văn học Việt Nam nói riêng, càng
cao và đúng mực.
Trên con đường hiện đại hóa nghiên cứu, phê bình văn học, mỗi nhà
nghiên cứu, phê bình chọn cho mình một hướng nghiên cứu, phê bình
riêng, nhưng tất cả đều có một tinh thần chung “đổi mới tư duy, quan điểm
thẩm mỹ, vận dụng phương pháp và thao tác mới, tiếp thu tri thức Tây học
trên “ tinh thần nòi giống”. Tiếp theo là hình thành những khuynh hướng,
những phong cách độc đáo, hiện rõ dấu ấn cá nhân với những quan niệm
nhân sinh thẩm mỹ riêng” [26, 359].
Hiện đại hóa chuyển biến mạnh mẽ tiến dần vào lĩnh vực chuyên sâu.
Tuy không rạch ròi, rõ ràng chính xác, nhưng tính lý luận ngày càng đậm,
thể hiện sự vận động của nền văn học, đồng thời thể hiện trình độ tư duy lý
luận ở một trình độ nhất định. Từ 1932, nhiều công trình nghiên cứu các tri
thức lý luận về thể loại, quan hệ giữa nhà văn và bạn đọc... trở nên cập nhật
và phong phú hơn.
Nghiên cứu, phê bình văn học hiện đại thực sự khẳng định được
sự có mặt của mình trong đời sống văn học nước nhà bằng những hoạt
động sôi nổi có tính chuyên nghiệp. Đội ngũ các nhà nghiên cứu, phê
bình trong thời gian này là những cây bút trẻ, sung sức trong nghiệp
vụ chuyên môn, có trình độ học vấn nhất định. Các tạp chí cũng đã đi
vào hệ thống xây dựng một chuyên mục riêng. Hoạt động nghiên cứu,
phê bình cũng tạo cho mình bước đi theo từng giai đoạn để lại những
dấu ấn riêng, tạo tính ưu việt cho “sản phẩm” của mình. Mặc dù sinh
11
hoạt trong hoàn cảnh xã hội đặc biệt, chịu sự chi phối của xã hội thuộc
địa, hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học còn chịu nhiều thiệt thòi
đó là sự kiểm duyệt khắt khe của chính phủ Pháp. Trong một thời gian
ngắn, nền văn học Việt Nam nói chung và hoạt động nghiên cứu, phê
bình văn học Việt Nam nói riêng có nhiều chuyển biến. Những thành
đầu tiên, Trương Minh Ký - nhà văn, dịch giả văn học Pháp đầu tiên,
Huỳnh Tịnh Của - nhà văn ngữ văn học Quốc ngữ tiên phong, Hồ Biểu
Chánh - nhà tiểu thuyết xã hội - đạo lý cự phách… Các nhà văn ấy và hàng
chục nhà văn khác nữa với hàng mấy trăm tác phẩm đã xây dựng nền móng
đầu tiên. Từ đó mới phát triển ra miền Bắc, miền Trung, tạo thành tòa lâu
đài của văn học thế kỷ XX, khẳng định sức sống mãnh liệt của dân tộc.
Theo thống kê ban đầu, những tác giả có tác phẩm được xuất bản
từ 1930 đến 1945 còn lưu lại đến nay lên đến hơn 150 người. Văn học
Nam Bộ 1932 - 1945 là một phần của đời sống tinh thần và tâm hồn
của người Việt ở Nam Bộ. Tuy nhiên, từ trước đến nay, việc nghiên
cứu về mảng văn học này chưa được chú ý vì nhiều lý do, trong đó chủ
yếu là do khó khăn về tư liệu và thói quen thưởng thức. Văn học Nam
Bộ là những tư liệu vô giá lưu giữ cho chúng ta ngôn ngữ của người
Việt ở Nam Bộ cách đây hàng trăm năm. Nó là cứ liệu không gì thay
thế để nghiên cứu về tiếng Việt Nam Bộ. Nhà văn Nam Bộ viết văn
làm thơ, ngoài những lý do về cảm xúc còn có ý muốn lưu giữ cho con
cháu, cho dân tộc tiếng Việt ngọt ngào, đằm thắm như những người
phụ nữ Nam Bộ, hay là sự khỏe khoắn, bộc trực của những người đàn
ông Nam Bộ. Văn học Quốc ngữ Nam Bộ cũng là tư liệu quý báu để
tìm hiểu đời sống, xã hội, phong tục tập quán, tính cách của người
Nam Bộ. Sự trưởng thành của văn học Nam Bộ được đánh dấu bằng sự
xuất hiện những nhà nghiên cứu, phê bình văn học chuyên nghiệp:
Thiếu Sơn, Trúc Hà, Kiều Thanh Quế, Phan Văn Hùm, Ca Văn
Thỉnh…
13
1.1.2.1. Thiu Sn
Thiu Sn tờn tht l Lờ S Quý. ễng ngi min Bc nhng thnh
danh trờn t Nam B. Thu nh, ụng chu cuc sng vt v, sm phi
lại của Thiếu Sơn là hoạt động báo chí, người ta vẫn nhắc đến ông như một
nhà văn, một nhà nghiên cứu, phê bình văn học có đóng góp cho nước nhà.
Cuốn sách đưa lại tên tuổi cho người cầm bút. Trong Từ điển văn học (bộ
mới), 2004, Nxb Thế giới, mục Thiếu Sơn, Vũ Thanh viết: “Với Phê
bình và cảo luận, ông được coi là một trong những người mở đầu cho
phê bình văn học bằng chữ Quốc ngữ ở Việt Nam. Trước đó trong văn
học Việt Nam, thể văn này chỉ xuất hiện trong những lời bình chú tuỳ
hứng hay thi thoại xen lẫn trong những cuốn biên khảo để bình giá tác
phẩm, chứ chưa tồn tại như một thể loại độc lâp (...)” [7, 1680]. Cũng
trong năm 2004, trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Phan Cự Đệ
chủ biên), khi đề cập đến các khuynh hướng trong phê bình văn học Việt
Nam giai đoạn 1932 - 1945, Trần Đình Sử đã xếp Thiếu Sơn vào nhóm
các nhà phê bình có xu hướng tổng kết: “Ông là người cho xuất bản cuốn
sách phê bình văn học đầu tiên, có ý thức trưng ra một thể loại phê bình
mới, phê bình nhân vật và có quan điểm rõ ràng. Gọi là tác giả có xu hướng
tổng kết là vì cuốn sách này đã trình bày lần đầu tiên chín chân dung các
nhà văn đầu thế kỷ” [7, 1680].
Trong tác phẩm Phê bình văn học - con vật lưỡng thê ấy, Nxb Hội Nhà
văn, 2010, ở phần hai Phê bình văn học Việt Nam nhìn nghiêng từ phương
pháp, Đỗ Lai Thuý đã có những phân tích sắc sảo, tinh tế về Thiếu Sơn cũng
như công trình Phê bình và cảo luận của ông: “Trước hết, Thiếu Sơn có
quan niệm mới về văn chương, chống lại quan niệm văn chương công cụ của
Nho giáo (…). Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà ông chính là người châm
ngòi cho cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân
sinh” (…). Bản thân ông đã đi đầu trong việc trở thành một nhà phê bình có
chuyên môn. Sự xuất hiện cuốn Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn, là
15
“một viên đá tảng trên con đường trở thành chuyên nghiệp của phê bình văn
Thu Thâu... Ông thường xuyên viết bài đăng trên các báo: Mai, Phụ nữ tân
văn, Việt Thanh, Dân quyền, Thần chung, Văn Lang...
Năm 1936, ông cùng Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Tạo đắc cử vào Hội
đồng Thành phố Sài Gòn. Đến năm 1939, ông ứng cử vào Hội đồng Quản
hạt Nam Kì và đắc cử nhưng bị thực dân gian lận. Do một số bài đăng trên
các báo, nhất là báo La Lutte, ông bị thực dân bắt giam và kết án đày đi
Côn Đảo. Năm 1942, ông được trả tự do, nhưng vẫn bị quản thúc tại Tân
Uyên (Biên Hòa).
Ngoài một nhà hoạt động chính trị, Phan Văn Hùm còn là một nhà
nghiên cứu, phê bình văn học những năm đầu thế kỷ XX. Ông từng xuất
bản nhiều sách Ngồi tù Khám lớn (báo Thần chung xuất bản, 1929), Biện
chứng pháp (Đỗ Phương Quế, 1937),… Nghiên cứu về Vương Dương
Minh, viết nhiều bài khảo cứu về các vấn đề triết học, y học cổ truyền, phật
giáo, lịch sử trên các báo Tri tân, Văn Lang, Đồng Nai, Phụ nữ tân văn...
Cách mạng tháng Tám thành công, ông hăng hái tham gia các công tác
ở Sài Gòn. Ông mất vào đầu năm 1946 tại miền Đông Nam Bộ.
Cuốn hồi ký của Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu viết về ông: “Phan Văn
Hùm, Thân thế và sự nghiệp”. Tác giả viết khá kỹ về thân thế và sự nghiệp
của nhà ái quốc trí thức Phan Văn Hùm. Ông đã ghi lại những sự kiện lịch
sử qua cái nhìn trung thực và giá trị của một bác sĩ về một giai đoạn lịch sử
đen tối ở miền Nam. Bác sĩ Trần Ngươn Phiêu đã bày tỏ hoàn cảnh của
mình khi viết về Phan Văn Hùm: Trong hoàn cảnh khó khăn hiện tại,
không thể về Việt Nam sưu tầm tài liệu, sách vở - nhất là vì sách vở miền
Nam, sau 30/4/1975, đã bị nhà cầm quyền ra chỉ thị ngu xuẩn cho một lũ
thừa hành dốt nát thiêu hủy - nên tôi chỉ làm được có bấy nhiêu. Trước bàn
thờ ông Phan Văn Hùm ở nhà giáo sư Phan Kiều Dương ở Paris, tôi đã hứa
cố gắng viết một quyển sách về đời ông. Mặc dầu biết không có tài, nhưng
tôi đã viết với tất cả tấm lòng, để ghi lại phần nào cuộc đời và sự nghiệp
18
nghiên cứu, phê bình văn học nhưng thành danh nhất vẫn là phê bình văn
học. Ông cũng là một học giả nhiệt tình quan tâm tới các nhà văn, nhà thơ
trong văn học quá khứ như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Du, Trần Tế
Xương...
Trên báo Phụ nữ tân văn, khi viết về Phan Khôi, Thiếu Sơn khẳng
định rằng trong văn giới, Phan Khôi là người tai mắt; trong báo giới,
Phan Khôi là bậc đàn anh. Đóng góp của Phan Khôi là ở “công lập
ngôn”. Qua hoạt động báo chí, Phan Khôi đã góp phần thống nhất ngôn
ngữ trên cả nước. Đó cũng là một trí thức Nho học đã sở đắc được cái
mới và tạo thành một khuynh hướng riêng. Đồng thời, Thiếu Sơn cũng
nhận ra rằng Nho học là gốc rễ của Phan Khôi trong khi Tây học là
“người tình mới”.
1.2. Kiều Thanh Quế - nhà nghiên cứu, phê bình văn học xuất sắc
ở Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX
1.2.1. Kiều Thanh Quế - con người và cuộc đời
Kiều Thanh Quế sinh năm 1914 ở làng Hắc Lăng, xã Tam Phước (nay
thuộc xã Tam An, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) trong một gia
đình có truyền thống yêu nước. Cha ông là Kiều Văn Mười, mẹ là Tô Thị
Lê. Kiều Thanh Quế là anh cả của hai người em, em trai là Kiều Nguyên
Trung và em gái là Kiều Thị Vạn. Trong kháng chiến, họ đều tích cực tham
gia vào các phong trào khởi nghĩa chống giặc. Hiện nay, chỉ còn người em
trai Nguyễn Văn Trung sống ở Thị xã Bà Rịa - Vũng Tàu.
Thời thơ ấu và niên thiếu, Kiều Thanh Quế sống trong gia đình trung lưu
tại Bà Rịa. Ông được gia đình nuôi ăn học. Khi còn nhỏ, ông học ở Bà Rịa,
sau đó lên Sài Gòn học ở trường Pétrus Ký. Trong thời gian học tại trường
Pétrus Ký, ông đã hăng hái tham gia vào các tổ chức yêu nước. Không khí
đấu tranh sôi động của nhân dân đã nhen nhóm trong tính cách và tâm hồn
của chàng trai trẻ tuổi những tình cảm yêu nước. Cũng trong thời gian này,
hết, nhắc đến Kiều Thanh Quế là nhắc đến một cây bút nghiên cứu, phê
20
bình cấp tiến đã ghi được dấu mốc đáng kể vào bước đi lên của bộ môn
nghiên cứu, phê bình văn học non trẻ ở Việt Nam trước 1945. Theo Thanh
Lãng, ông là “người thứ nhất phác họa một bộ mặt của văn học mới, ghi
nhận sự diễn tiến của văn học mới”`, “Kiều Thanh Quế có thể coi như nhà
phê bình văn học chuyên nghiệp duy nhất của văn học Nam Bộ” (Đoàn Lê
Giang). Ông được khẳng định là nhà nghiên cứu, phê bình xuất sắc của
Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XX. Đến nay, một số tác phẩm của ông thuộc lĩnh
vực nghiên cứu, phê bình đã và đang được tập hợp in lại. Tên tuổi của ông
cũng chính thức được khẳng định trong một số bộ lịch sử văn học, tuyển
tập phê bình, từ điển văn học...
1.2.2. Khái quát về sự nghiệp nghiên cứu, phê bình văn học của
Kiều Thanh Quế đến với sự nghiệp văn học từ những năm 1930, thử
bút qua nhiều thể loại: Truyện ngắn, tiểu thuyết, dịch thuật... với nhiều bút
danh khác nhau như Mộc Khuê, Nguyễn văn Hai, Tô Kiều Phương... Ông
còn là cộng tác viên với nhiều báo, tạp chí và nhà xuất bản trong Nam
ngoài Bắc như: Mai, Tin điện Sài Gòn, Văn Lang tuần báo, Tiểu thuyết thứ
bảy, Tạp chí Tri tân, Độc lập. So với các tác giả cùng thời, số lượng tác
phẩm mà Kiều Thanh Quế để lại quả là không nhỏ.
Ngay ở giai đoạn đầu cầm bút cộng tác với báo Mai do Đào Trinh
Nhất (1900 - 1951) làm chủ bút, nhà nghiên cứu, phê bình Kiều Thanh Quế
mới ngoài hai mươi tuổi đã có được tiếng nói thực sự tự tin. So với các cây
bút sáng tác và nghiên cứu, phê bình cùng trang lứa, Kiều Thanh Quế đã là
hiện tượng một trí thức trẻ tài năng và bản lĩnh. Mới bước vào nghề nhưng
Kiều Thanh Quế đã tạo lập được phong thái nghiên cứu, phê bình đúng
nghĩa, có nghề và đứng từ góc độ nghề nghiệp mà xem xét tác phẩm, chưa
nhuốm các bệnh phê bình văn chương xu thời, quảng cáo, áp đặt một chiều,
Bên cạnh nghiên cứu, phê bình, Kiều Thanh Quế còn sáng tác dịch
thuật. Thể loại tiểu thuyết, truyện ký, được ông viết vào những năm trước
Cách mạng: Hai mươi tuổi (1940), vừa có tập truyện Đứa con của tội ác
22
(1941). Tập sau được chia thành hai chương, thực chất là hai truyện (Đứa
con của tội ác và Đêm hè).
Thể loại dịch thuật: Sách Nam - mô A - di - đà Phật (1941), sách Một
ngày của Tolstoi (1942)...
1.3. Quan niệm của Kiều Thanh Quế về nghiên cứu, phê bình văn học
Với các công trình nghiên cứu, phê bình dài hơi xét trong khoảng từ
năm 1935- 1945 của mình, Kiều Thanh Quế đã cho thấy rằng nhiệm vụ của
người làm phê bình văn học là chú ý đến sự kiện trong đời sống văn học và
cố gắng tác động, thúc đẩy cho văn học phát triển. Việc các nhà nghiên
cứu, phê bình văn học như Kiều Thanh Quế thời bấy giờ, chờ đón và vui
mừng giới thiệu những đứa con tinh thần của nhà văn trên báo chí, đồng
thời chú ý tổng kết từng phong trào, từng thời kỳ văn học, từng năm, qua
bước chuyển của đời sống văn học, buộc những ai làm văn hóa, văn học
hôm nay đáng phải suy nghĩ. Trong khi, vào thời điểm đầu thế kỷ XX, giữa
sự bề bộn và phức tạp của đời sống văn học, báo chí, không ít nhà nghiên
cứu, phê bình tự hạ thấp giá trị và chức năng của nghiên cứu, phê bình văn
học thì Kiều Thanh Quế đã chỉ ra điều này: “Lối phê bình quảng cáo của
nhiều nhà báo nước ta (và cả nước Pháp nữa) chỉ giá trị bằng những lời rao
của bọn trẻ bán báo - không hơn không kém! Hoặc nhận tiền của nhà xuất
bản, hoặc cảm tình riêng với tác giả, các nhà phê bình quảng cáo hạ giá
ngòi bút, viết lên mạt báo những lời ca ngợi, xem hớ hênh đến buồn cười”
[45, 101].
Kiều Thanh Quế cũng định nghĩa thể văn nghiên cứu, phê bình, giới
thiệu khái quát tình hình đời sống nghiên cứu, phê bình văn chương đương