================================================================
================================================================
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Tr-êng ®¹i häc khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n
0
TRẦN THỊ PHƯƠNG LOAN THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT
TRUYỆN NGẮN SƯƠNG NGUYỆT MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60.22.34
================================================================
================================================================
3
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Lịch sử vấn đề 5
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 8
4. Cấu trúc luận văn 9
Chương 1: CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT 10
1. Cảm hứng nghệ thuật và cảm hứng nghệ thuật trong các tác phẩm
văn học Việt Nam sau 1986 10
2. Cảm hứng nghệ thuật truyện ngắn Sương Nguyệt Minh 13
2.1. Cảm hứng lãng mạn, ngợi ca đan xen với cảm hứng bi kịch trong
các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh 13
2.2.1. Bi kịch cộng đồng 25
2.2.2. Bi kịch cá nhân 28
2.3. Cảm hứng phê phán và cảm hứng trào lộng 35
2.4. Cảm hứng khám phá con người bản năng 43
Chương 2: THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN SƯƠNG
NGUYỆT MINH 52
1. Đặc điểm nhân vật trong văn học giai đoạn trước và sau 1986 và đặc
điểm nhân vật trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh 52
2. Các kiểu nhân vật trong truyện ngắn Sương Nguyệt Minh 55
2.1. Kiểu nhân vật truyền thống 55
2.2. Kiểu nhân vật đổi mới 60
2.2.1. Nhân vật cô đơn 60
2.2.2. Nhân vật dị biệt 65
2.2.3. Nhân vật giả huyền thoại, giả lịch sử 68
================================================================
================================================================
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn học Việt Nam thời kỳ sau đổi mới có nhiều thành tựu đáng kể
cả về nội dung lẫn hình thức. Góp phần không nhỏ vào thành tựu chung của
nền văn học hiện đại là những nhà văn - người lính. Thời kỳ văn học trước
năm 1975, họ là đội quân sáng tác chủ lực của văn chương Việt Nam, đến khi
bước vào thời kỳ đổi mới, những người lính cầm bút cũng vẫn là những tác
giả quan trọng của nền văn học dân tộc. Bên cạnh những “cây đa cây đề” của
các nhà văn quân đội mở đường tiên phong cho sự nghiệp đổi mới văn
chương như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu…, người ta còn thấy xuất hiện một
lớp nhà văn quân đội trẻ trung hơn xuất hiện và trưởng thành trong thời kì đổi
mới. Với những cái nhìn mới mẻ, họ có những đóng góp không nhỏ làm
phong phú, sâu sắc thêm cho những trang viết về chiến tranh và người lính, về
nhiều mặt bộn bề, phức tạp, sinh động của cuộc sống, con người hiện tại…
Việc tìm hiểu đóng góp của một nhà văn quân đội vào sự khởi sắc của văn
học thời kỳ này sẽ giúp chúng ta có cái nhìn khái quát hơn không chỉ về vai
trò của những nhà văn mặc áo lính trong công cuộc xây dựng nền văn học
mới, mà còn thấy được phần nào con đường phát triển của văn xuôi Việt Nam
những năm gần đây.
trong đời sống riêng tư con người… Đọc văn của Sương Nguyệt Minh, người
đọc được bước vào một thế giới nghệ thuật riêng, phong phú, đa chiều với
một phong cách văn chương giản dị nhưng luôn không ngừng tìm tòi, đổi
mới. Có thể nói truyện ngắn của Sương Nguyệt Minh vừa có cái trầm tĩnh,
đôn hậu của một người lính cầm bút vừa có cái sắc sảo của một nhà văn tinh
nhạy khi sống trong xã hội thời kinh tế thị trường đầy biến động, vì thế
nghiên cứu sự nghiệp sáng tác của nhà văn có thể thấy được phần nào sự phát
triển của thể loại truyện ngắn Việt Nam từ lúc đất nước bắt đầu bước vào
Thời kỳ đổi mới (1986) tới nay kể cả mặt đề tài, cảm hứng lẫn bút pháp…
Trong buổi tọa đàm giới thiệu tập truyện ngắn Dị hương tháng 10 năm 2009
với sự có mặt của đông đảo các nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà lý luận phê
bình, có nhiều ý kiến cho rằng Sương Nguyệt Minh là cây bút có mặt trong
tốp đầu hiện nay của đội ngũ nhà văn quân đội (Nhà văn Vũ Ngọc Tiến, và
nhà LLPB Yên Trang, Nguyễn Hoàng Đức…)
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài Thế giới nghệ thuật truyện
ngắn Sương Nguyệt Minh mong muốn qua việc tìm hiểu tường tận những giá
trị nghệ thuật trong sáng tác của một tác giả sẽ giúp làm nổi rõ hơn một số
phương diện trong văn học Việt Nam đương đại.
================================================================
================================================================
7
2. Lịch sử vấn đề
Đã có rất nhiều bài phê bình đánh giá về truyện ngắn Sương Nguyệt
Minh trên các báo viết, báo mạng…với nhiều ý kiến đánh giá khác nhau. Điều
đó chứng tỏ sáng tác của Sương Nguyệt Minh đã được nhiều bạn đọc chú ý và
tìm hiểu.
Ngay từ khi truyện ngắn đầu tiên của anh (Nỗi đau dòng họ) được in
trên báo đã có ý kiến đánh giá đó là những trang văn “có mùi có vị, rõ ra tư
cái “không thông thường” ấy thể hiện sự tìm tòi không mệt mỏi của tác giả
Sương Nguyệt Minh trong quá trình sáng tác. Chính nhờ sự tìm tòi ấy mà các
tác phẩm của anh luôn không ngừng đổi mới, mang lại nhiều phong vị khác
nhau trong từng giai đoạn sáng tác.
Nhìn nhận khái quát về quá trình sáng tác của Sương Nguyệt Minh, các
nhà phê bình đều nhận ra những bước chuyển đáng mừng trong văn phong
của nhà văn quân đội này. Nếu trong những tập truyện đầu tay như Đêm
làng Trọng Nhân, Người ở bến sông Châu, Đi qua đồng chiều, Sương
Nguyệt Minh được đánh giá là: “mang đến cho người đọc một khuôn mặt văn
chương theo lối truyền thống, nhuần nhụy từ giọng văn cho tới tên của các
nhân vật trong tác phẩm” (Thu Phố, Tạp chí tuyên giáo, 10/2009), thì càng về
sau với các tập truyện Mười ba bến nước, Chợ tình và đặc biệt là Dị hương,
Sương Nguyệt Minh càng thể hiện những tìm tòi, bứt phá mới như chính anh
quan niệm: Nhà văn là người sáng tạo không ngừng như dòng sông chảy liên
tục chở nặng phù sa tươi tốt bồi đắp cho bờ bãi, ruộng đồng. Dòng sông
không chảy là dòng sông lấp, sông chết. Nhà văn ngừng sáng tạo là nhà văn
rơi vào lãng quên trong lòng bạn đọc. Các nhà phê bình quan tâm tới sáng tác
của Sương Nguyệt Minh đã tìm ra con đường vận động trong văn chương của
Sương Nguyệt Minh là đi từ “hiện thực - lãng mạn” đến “hiện thực - lãng mạn
và kỳ ảo”. Nhà lý luận phê bình Phạm Xuân Nguyên đã khẳng định “Nhà văn
không nhất thiết phải viết hay hơn người khác, nhưng đến một lúc nào đó, nhà
văn phải viết khác mình. Nhà văn Sương Nguyệt Minh đã làm được điều này”
(Phát biểu nhân buổi tọa đàm ra mắt tập truyện ngắn Dị hương). Nhà văn Di
Li trên tờ An ninh thủ đô ( Số ngày 18/10/2009) cho rằng: “Trước nay, cái tên
Sương Nguyệt Minh thường gắn liền với những câu chuyện viết về đề tài
chiến tranh và nông thôn bằng ngòi bút dù dữ dội vẫn lung linh, trữ tình, nên
việc ra đời những truyện ngắn ma mị và nhiều tính dục với bút pháp huyền ảo
và giả tưởng trong tập Dị hương khiến nhiều người đọc lạ lẫm, bất ngờ.”
================================================================
Cũng trong buổi tọa đàm về sự ra đời của Dị hương, nhà phê bình Văn
Giá đã gói gọn phong cách văn chương của Sương Nguyệt Minh trong ba từ
Hoạt - Phiêu - Thõa (linh hoạt, phong phú về chất liệu và sự trẻ trung). Ba từ
================================================================
================================================================
10
ấy đã phản ánh khá đầy đủ điểm mạnh trong truyện ngắn của tác giả quân đội
này.
Những nhận định, ý kiến của các nhà phê bình, nghiên cứu văn học
đã góp phần giúp bạn đọc dần dần khám phá những nét đặc sắc trong sáng
tác của Sương Nguyệt Minh. Tuy nhiên hiện chưa có một công trình nghiên
cứu nào hệ thống lại những đặc điểm nổi bật trong thế giới nghệ thuật truyện
ngắn Sương Nguyệt Minh hay đánh giá một cách tổng quan về phong cách
riêng của tác giả này. Hầu hết các nhà phê bình đề chỉ đi vào một khía cạnh
hoặc một tác phẩm cụ thể mà chưa có cái nhìn khái quát về đóng góp của
Sương Nguyệt Minh hay phân tích những đặc điểm chung của thời kỳ văn học
phản ánh qua những sáng tác của nhà văn. Tuy nhiên, những bài viết ấy vẫn
là những gợi ý quý báu cho chúng tôi thực hiện luận văn này.
3. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu chính: Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn
Sương Nguyệt Minh với những nét chính: Cảm hứng nghệ thuật; Thế giới
nhân vật và Các phương diện nghệ thuật đặc sắc.
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là truyện ngắn Sương Nguyệt Minh,
nhưng để có một cái nhìn tổng thể, trọn vẹn về thế giới nghệ thuật trong
truyện ngắn Sương Nguyệt Minh chúng tôi có liên hệ, so sánh với thể loại
khác của nhà văn như bút ký, cũng như so sánh với truyện ngắn của một số
Chương 1: Cảm hứng nghệ thuật
Chương 2: Thế giới nhân vật
Chương 3: Một số phương diện nghệ thuật trong truyện ngắn Sương
Nguyệt Minh
================================================================
================================================================
12
Chương I
CẢM HỨNG NGHỆ THUẬT
1. Cảm hứng nghệ thuật và cảm hứng nghệ thuật trong các tác phẩm
văn học Việt Nam sau 1986.
Từ trước đến nay có nhiều cách hiểu về khái niệm “cảm hứng nghệ
thuật”, song hầu hết các nhận định đều khẳng định vai trò quan trọng của cảm
hứng nghệ thuật trong sáng tác. Vì cảm hứng nghệ thuật giống như một sợi
chỉ đỏ xâu chuỗi các yếu tố trong văn bản, tạo nên một sự gắn kết bền vững.
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đưa ra khái niệm về cảm hứng nghệ
thuật (hay còn gọi là cảm hứng chủ đạo) là “trạng thái tình cảm mãnh liệt,
say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định,
một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp
nhận tác phẩm.”[6, tr 32]. Cảm hứng nghệ thuật trong tác phẩm văn học với
niềm say mê khẳng định cái tốt, cái tích cực; phủ nhận những điều xấu xa giả
dối sẽ đem lại cho tác phẩm một luồng sinh khí, biến những tư tưởng khô
khan thành các hình tượng sinh động, tạo ra một bầu khí quyển nóng bỏng,
biến tác phẩm trở thành một sợi dây truyền tình cảm của tác giả đến người
tiếp nhận. Sự nhiệt thành trong việc bộc lộ cảm xúc của nhà văn, nhà thơ sẽ
có vai trò quan trọng, có vai trò không thể thiếu, như Bêlinxki đã nói, bởi nó
“biến sự chiếm lĩnh thuần túy trí óc đối với tư tưởng thành tình yêu đối với tư
tưởng, một tình yêu mạnh mẽ, một khát vọng nhiệt thành”.
Cảm hứng chủ đạo trong văn chương Việt Nam trước năm 1975 gắn
liền với những sự kiện lớn lao có liên quan tới vận mệnh dân tộc: công cuộc
kháng chiến chống ngoại xâm và sự nghiệp xây dựng Tổ quốc. Sau ngày đất
nước thống nhất (1975), đời sống con người đổi khác, tư tưởng, tâm lí, nhu
cầu vật chất và tinh thần của con người cũng không còn như trước, vì vậy văn
học cũng không thể chỉ mang mãi cảm hứng cũ. Hiện thực cuộc sống đời
thường sau chiến tranh mở ra những vùng đất mới, khơi gợi những nguồn
cảm hứng mới mẻ cho các nhà văn. Thêm vào đó, Báo cáo chính trị của Ban
chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội Đại biểu toàn
quốc lần thứ VI của Đảng đã mở ra con đường cho các văn nghệ sĩ “nhìn
thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Và từ đó, một
khuynh hướng văn học mới phát triển mạnh mẽ với cái nhìn hiện thực thẳng
thắn hơn, đa chiều hơn. Công cuộc đổi mới càng ngày càng phát triển cả ở
chiều rộng lẫn bề sâu, sự đổi mới diễn ra từ tư tưởng thẩm mĩ đến hệ thống
thể loại, thi pháp và phong cách nghệ thuật. Các nhà văn không còn “nhìn đời
================================================================
================================================================
14
và nhìn người một phía”, họ không chỉ dừng lại ở cảm hứng ngợi ca mà nhận
thức được rằng “hiện thực không phải là một cái gì đơn giản, xuôi chiều; con
người là một sinh thể phong phú, phức tạp, còn nhiều bí ẩn phải khám phá;
nhà văn phải là người có tư tưởng, phải nhập cuộc bằng tư tưởng chứ không
chỉ bằng nhiệt tình và trong tìm tòi sáng tạo không chỉ dựa vào kinh nghiệm
cộng đồng mà còn phải dựa vào kinh nghiệm của cá nhân mình
nữa…”[18,16]. Với cái nhìn đa chiều ấy, văn học đồng thời cũng xuất hiện
văn chương với cảm hứng nhân đạo sâu sắc [27, tr.3].
Việc tìm hiểu những đặc điểm tiêu biểu của văn học Việt Nam sau năm
1975 là một điều quan trọng, vì trong bài Khái quát về văn học Việt Nam từ
cách mạng tháng tám 1975 đến hết thế kỷ XX [18, tr.17] có nhận xét về văn
học thời kỳ đổi mới như sau “cảm hứng thế sự tăng mạnh, trong khi cảm hứng
sử thi lãng mạn giảm dần; từ đó văn học quan tâm nhiều hơn tới số phận cá
nhân trong những quy luật phức tạp của đời thường; nội tâm của nhân vật
được khai thác sâu hơn, bút pháp hướng nội được phát huy, không gian đời tư
được chú ý, thời gian tâm lý ngày càng mở rộng, phương thức trần thuật trở
nên đa dạng, giọng điệu trần thuật trở nên phong phú hơn; ngôn ngữ văn học
cũng gần với hiện thực đời thường hơn…”[18, tr.18]. Từ đó có thể thấy sự tác
động to lớn của cảm hứng nghệ thuật với các thành tố khác trong văn chương.
Tìm hiểu được kỹ cảm hứng nghệ thuật người nghiên cứu sẽ hiểu rõ thế giới
nghệ thuật, quan niệm sáng tác, phong cách nhà văn, thậm chí của cả một giai
đoạn văn học.
Sương Nguyệt Minh vốn là một nhà văn quân đội luôn biết đổi mới văn
chương của mình, trong sáng tác của anh vừa có những cảm hứng văn chương
thời chiến tranh (cảm hứng lãng mạn, ngợi ca) vừa có những cảm hứng của
văn chương thời đổi mới (cảm hứng bi kịch, cảm hứng trào lộng…). Chính vì
thế anh đã tạo được một phong cách văn chương đa dạng, một thế giới nghệ
thuật đa chiều, tiếp thu và sáng tạo không ngừng.
2. Cảm hứng nghệ thuật truyện ngắn Sương Nguyệt Minh
2.1. Cảm hứng lãng mạn, ngợi ca đan xen với cảm hứng bi kịch
trong các tác phẩm viết về đề tài chiến tranh
Vốn là một cây bút quân đội, một trong những quan tâm hàng đầu của
Sương Nguyệt Minh là đề tài chiến tranh và những người lính. Điều này cũng
không có gì là khó hiểu, nhất là với một cây bút vốn xuất thân từ quân đội
như anh. Sương Nguyệt Minh đã từng trực tiếp cầm súng trên chiến trường
Campuchia trong nhiều năm, từng ngày từng giờ chìm lút trong biển lửa trận
mạc, chứng kiến nhiều cái chết trẻ trong nỗi bi quan tuyệt vọng, anh cũng đã
viết về cùng đề tài, bởi hiện thực trong đó được gợi lại nóng hổi, bởi đó chính
là vùng kí ức sâu đậm khi anh là lính, chứ không chỉ là những ấn tượng lờ mờ
qua những câu chuyện nghe được, đọc được. Ví như ký ức không thể nào
quên của thời son trẻ ở mặt trận biên giới Tây Nam (Quãng đời xưa in dấu);
hay cuộc sống binh ngũ trong thời kỳ đất nước ổn định, khi những người lính
thời bình dù không còn phải đối mặt với những hiểm nguy của bom đạn
================================================================
================================================================
17
chiến tranh, song đời sống quân ngũ vất vả nhọc nhằn, luôn đòi hỏi họ phải hy
sinh những tình cảm riêng tư, phải luôn ở tư thế sẵn sàng phục vụ (Khi chúng
tôi là lính, Khi cơn lũ đi qua, Hai người lính và tôi ). Đọc những tác phẩm
này thấy rõ những ưu thế của một nhà văn lính viết về những đồng đội của
mình.
Càng giai đoạn sáng tác sau, những truyện ngắn của Sương Nguyệt
Minh khai thác những sự kiện, con người trong các cuộc chiến càng không
dừng lại ở cái nhìn xuôi chiều, phiến diện. Với chỗ đứng của một người đã có
độ lùi khoảng cách thời gian với “một thời đã qua”, Sương Nguyệt Minh nhìn
chiến tranh và những người đi ra từ chiến tranh với một cái nhìn sâu hơn, đa
chiều hơn. Yêu cầu tái hiện lịch sử giờ chỉ là một phần, nhà văn còn khám
phá được thế giới tâm lý con người, số phận con người trong và sau cuộc
chiến. Sương Nguyệt Minh biết đặt cuộc chiến trong tương quan với cuộc
sống hôm nay, từ đó có những đóng góp không nhỏ vào mảng đề tài viết về
chiến tranh.
Sự đan xen cảm hứng ở những tác phẩm viết về chiến tranh tạo ra
những mảng màu đa dạng trong tác phẩm của Sương Nguyệt Minh. Đọc
những câu chuyện của anh viết về thời kỳ khói lửa, người đọc vừa được cảm
nhận vẻ đẹp lung linh của những mối tình thời chiến, vừa thấy cái khốc liệt
Thậm chí họ còn dễ lầm lỗi hơn vì có một thời họ sống quá trong sáng và
luôn ở trong một “bầu không khí vô trùng”, khi kết thúc chiến tranh, tâm lý
hưởng lạc cùng với những ấu trĩ trong suy nghĩ dễ khiến họ không giữ được
mình. Kết thúc truyện là một cái kết mở mang không khí lãng mạn, song nỗi
buồn hậu chiến thì khó ai có thể khẳng định sẽ nguôi ngoai.
Ngay bên cạnh cảm hứng ngợi ca những tình cảm tốt đẹp giữa những
người đồng đội trong kháng chiến, là những dòng viết rất tỉnh táo về sự đổi
thay đen bạc của con người sau chiến tranh. Có nhiều tác phẩm của anh có
những dòng viết say sưa về một mối tình đẹp thời chiến, rồi sau đó lại xen vào
cảm xúc đau đớn khi có những con người không giữ được lòng thủy chung,
không giữ được bản chất tốt đẹp mà mình từng có. Nếu trước đây, bạn đọc
nào đã quá quen với những tác phẩm chỉ mang không khí ngợi ca, miêu tả
những người chiến sĩ anh hùng, lý tưởng hẳn sẽ không khỏi ngỡ ngàng trước
những tác phẩm mà hình tượng trung tâm vẫn là những người lính, song hoặc
những tính cách tốt đẹp của họ bị biến chất trong cơ chế thị trường, hoặc họ bị
rơi vào “hội chứng lãng quên chiến tranh” hoặc họ không còn là những con
người chủ động mà trở thành nạn nhân của một cuộc sống thực dụng, khi
đồng tiền đóng vai trò chủ đạo. Môtip về những người đi qua chiến tranh với
================================================================
================================================================
19
những kỉ niệm sâu đậm nghĩa tình rồi dần lãng quên, hờ hững, quay lưng lại
với những gì mình từng tôn thờ và chịu ơn lặp đi lặp lại trong một số tác
phẩm. Chuyến tàu đêm viết về một người lính đi du lịch cùng vợ qua miền
đất đầy kỉ niệm. Kí ức làm anh ta nhớ lại kỉ niệm sâu nặng với H’Linh - cô
gái dân tộc trong sáng và nhân hậu đã cứu sống anh trong một trận lũ rừng.
Vậy mà, anh đã lãng quên cô. Cái lãng quên ấy cũng lặp lại ở nhân vật ông
họa sĩ trong Những tháng ngày đã qua và lãng quên đến mức tha hóa, đánh
như kiểu xây dựng nhân vật của văn học thời kỳ trước. Ông đã lách sâu ngòi
bút để làm rõ thêm những biến dạng nhân cách của những con người ngay ở
hàng ngũ “quân ta”. Vì thế mà nhân vật của Sương Nguyệt Minh trở nên thật
hơn, gần hơn với đời thường và cũng có sức thuyết phục hơn.
Cùng cảm hứng với những tác phẩm viết về sự lạc lõng của những
người lính trở về sau chiến tranh rất nổi tiếng cùng thời như Tướng về hưu
(Nguyễn Huy Thiệp), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai)…Sương Nguyệt Minh cũng
có cái nhìn đầy cảm thông với những người lính vốn từng giữ vai trò chủ chốt
trong một giai đoạn lịch sử, giờ không thể hòa nhập với cuộc sống bon chen
đời thường. Đó là nhân vật Bùi Như Lạc trong Chuyện gia đình bạn tôi hay
nhân vật người cha trong Bản kháng án bằng văn, Cha tôi. Họ vốn là những
người lính đã cống hiến cả tuổi thanh xuân của mình cho quân ngũ, về với
cuộc sống đời thường, họ chỉ có hai bàn tay trắng. Có người thì cố gắng bằng
mọi cách chạy đua với đời để kiếm miếng cơm manh áo cho vợ con mà không
sao làm nổi, có kẻ thì sống trong nhà mình mà cứ như lạc vào đảo hoang. Họ
không hiểu những gì đang diễn ra quanh mình, không làm chủ được gia đình
mình đành cứ đứng nhìn những người thân trong gia đình bị vòng xoáy của
kinh tế thị trường, của cuộc sống hiện đại kéo tuột khỏi tay mình. Đọc loạt
truyện ngắn này của Sương Nguyệt Minh cũng như của Nguyễn Huy Thiệp,
Ma Văn Kháng, Chu Lai… người đọc dễ có liên tưởng tới những tác phẩm
viết về “thế hệ vứt đi” của nhà văn Mỹ Hêminguây khi ông rời khỏi quân ngũ
sau Đại chiến thế giới thứ nhất.
Không chỉ thay đổi cách nhìn những người lính, Sương Nguyệt Minh
cũng có cách đánh giá chiến tranh không theo lối mòn. Giờ đây, sau một thời
gian dừng lại để suy ngẫm anh cũng như các nhà văn, nhà thơ và cả công
chúng đều không còn ngợi ca một chiều chiến thắng vẻ vang của dân tộc
trong các cuộc chiến tranh. Đúng là thắng lợi huy hoàng thật đáng tự hào,
nhưng để giành được thắng lợi ấy chúng ta cũng mất rất nhiều. Cái mất mát
tính bằng người bằng của thì đã có rất nhiều tác phẩm nói tới, song những di
chứng nặng nề tạo nên những bi kịch hậu chiến âm ỉ thì phải đợi đến giai
thật buồn diễn ra trong đời sống tình cảm của con người. Chuyện tình của
Chương và Saly - cô gái Campuchia xinh đẹp không chỉ bị đứt đoạn bởi hành
động đố kị ghen tuông tức thời của Kiên mà chủ yếu là bởi sự cấm đoán của
chiến tranh. Kỷ luật dân vận thời đó buộc đôi bạn trẻ phải “tạm gác hạnh phúc
riêng tư và chờ đợi” ngay cả khi tình cảm của họ chẳng có tội lỗi gì. Rồi sau
đó, sự thuyên chuyển công tác cùng với cái nghiệt ngã của chiến tranh khiến
================================================================
================================================================
22
cho họ xa nhau vĩnh viễn: Chương chết thật thảm khốc, còn Saly thì mãi mãi
không bao giờ nguôi quên những mất mát đau lòng. Phải sống trong hoàn
cảnh chiến tranh bất thường, con người không thể có cuộc sống bình thường
yên ổn, và cái không bình thường ấy còn đeo bám họ đến cả thời hòa bình,
độc lập.
Chiến tranh với mỗi người mang một khuôn mặt khác nhau và bi kịch
do chiến tranh gây nên cũng không ai giống ai, nhất là những bi kịch hậu
chiến. Cũng giống như nhiều tác giả khác thời kỳ đổi mới, Sương Nguyệt
Minh cũng có một cái nhìn khác hơn, sâu hơn về chiến tranh, khi nhà văn phát
hiện ra cuộc chiến không dừng lại ở những mất mát có thể tính được bằng số
người, số của, mà còn có những tổn tâm lý, những thương tật “què quặt” tâm
hồn, những di chứng nặng nề nhất vẫn tồn tại âm ỷ, dai dẳng, khi chiến tranh
qua rồi còn để lại những bi kịch gia đình, những đứa con quái thai…Truyện
ngắn Người ở bến sông Châu được người đọc đánh giá cao ở một cái nhìn có
chiều sâu khi Sương Nguyệt Minh viết về những người nữ chiến sĩ sau ngày
rời khỏi chiến trường, họ phải chịu nhiều sự thiệt thòi hơn cả những người
đồng đội khác giới. Nhân vật Mây xuất ngũ trở về đúng cái ngày đau khổ
nhất: ngày người yêu đi lấy vợ. Chiến tranh đã lấy mất của chị tuổi trẻ, nhan
sắc. Khi đi chị là cô gái xinh đẹp nhất làng, còn khi về là hình hài “cái chân
đọc một niềm tin đầy nhân hậu.
Đọc kỹ các tác phẩm của Sương Nguyệt Minh, người đọc sẽ thấy, mặc
dù là một nhà văn đã từng trải qua những tháng ngày cầm súng, song truyện
của Sương Nguyệt Minh không có nhiều những cảnh tượng chiến tranh dữ
dội, những cuộc chiến tương tàn với tiếng súng, tiếng bom. Anh viết nhiều
hơn về những bi kịch lặng thầm mà âm ỉ. Những bi kịch chiến tranh trong
truyện của anh không gây ấn tượng ghê sợ như những tác phẩm Ăn mày dĩ
vãng (Chu Lai), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh)… song nó ám ảnh người
đọc bằng chính những sự lặng im đầy đau đớn. Tác phẩm được nhắc tới nhiều
hơn cả của Sương Nguyệt Minh theo đề tài bi kịch hậu chiến là Mười ba bến
nước… Truyện bắt đầu bằng một sự việc đầy nghịch lý, hiếm có trên đời:
nhân vật tôi trong truyện lấy vợ cho chồng. Tình tiết ấy là hệ quả của một
chuỗi những bi kịch của người đàn bà “mười ba bến nước”. Cứ mượn nhan đề
của tác phẩm mà ứng với những khổ đau người phụ nữ trong truyện phải trải
qua, người đọc mới thấm thía câu “đời là bể khổ”. Bến nước đầu tiên của Sao
có lẽ là bến nước thời con gái, khi trót nặng lòng yêu Tào rồi khi Tào nhập
ngũ, họ phải xa nhau. Cái bến nước này trong thời chiến, hỏi có bao nhiêu
người con gái đã phải đi qua? Song nỗi đau của Sao còn nhiều hơn thế, đó là
================================================================
================================================================
24
lúc nghe tin Tào mất, Sao đi lấy chồng và đúng cái ngày cô vu quy, thì là
ngày Tào bị áp giải đi khắp xóm, trước ngực treo một cái mẹt tròn ghi dòng
chữ “Thanh niên như tôi thì mất nước” và bao lời đồn thổi về việc trốn chạy
của Tào. Bến nước thứ hai cũng không phải là chuyện buồn nhỏ, dù nó âm ỉ
và khó ngỏ cùng ai, vì đây là chuyện riêng tư khó nói của một người phụ nữ
có chồng đi chiến trận. Cưới nhau song, ngày hôm sau Lãng - chồng Sao lại
lên đường ra trận sau một đêm tân hôn không trọn vẹn. Mô típ về người
“nhưng” oan nghiệt!), bi kịch chưa dừng lại, điều khủng khiếp liên tiếp xảy ra
- Sao 5 lần đẻ và cả 5 lần đều là những đứa con dị dạng, quái thai. Còn bi kịch
nào đau đớn hơn cho người phụ nữ khi sau mỗi lần mang nặng đẻ đau, lại
sinh ra những hài nhi không mang hình dạng con người. Chất độc hóa học đã
cướp mất quyền làm cha làm mẹ của Sao và Lãng, gây nên những giấc mơ ám
ảnh kinh hoàng. Người ta có nhiều cách để đo đếm những mất mát thương
vong của chiến tranh, nhưng biết lấy gì để đong đếm những giọt nước mắt của
những người vợ, người mẹ khi sinh ra những đứa con quái thai, dị dạng; lấy
gì để đo những nỗi đau đến điên loạn khi nhìn thấy những chã đất, liễn sành,
những bè chuối chở những hài nhi không được làm người! Có lẽ mỗi lần Sao
đẻ con quái thái là một lần cô đi qua bến nước của sự tột cùng đớn đau. Bất
hạnh dồn dập đổ xuống đầu Sao, cũng là bất hạnh mà chiến tranh gieo xuống
những gia đình Việt Nam, ngay cả khi tiếng súng đạn đã ngừng. Mười ba bến
nước ấy vừa là những bến nước mà người phụ nữ nông thôn nào cũng phải
qua, vừa có những bến nước mới mà chỉ có người phụ nữ kinh qua chiến
tranh mới phải nếm trải. Bến nước thứ mười ba đưa Sao trở về với gánh nặng
gia đình mà chị đã yêu thương gắn bó, song không biết đó có phải là bến nước
cuối cùng của đời chị không?
Đã có nhiều tác phẩm viết về nỗi đau da cam, song truyện ngắn Mười
ba bến nước của Sương Nguyệt Minh được đánh giá cao bởi một lối viết giàu
cảm xúc, nhiều chi tiết và nhất là những khung cảnh ám ảnh vừa rất thực mà
cũng rất giàu tính biểu tượng mang đậm chất điện ảnh. Truyện tuy ngắn song
lại có chồng lớp những thân phận con người, đan xen giữa yếu tố ảo và thực,
giữa hiện thực khốc liệt và trữ tình lung linh . Chính vì thế, Mười ba bến nước
đã được chuyển thể thành bộ phim truyền hình đạt giải cao trong Liên hoan
phim Việt Nam 2010. Và cũng không quá khi nhiều người đánh giá Mười ba
bến nước là tác phẩm xuất sắc của Sương Nguyệt Minh viết về những bi kịch
hậu chiến.
Những tác phẩm viết về chiến tranh của Sương Nguyệt Minh chiếm
phần không nhỏ trong các sáng tác của anh, mỗi tác phẩm phản ánh một vấn