Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu qua hai tập thơ Một tiếng đờn và Ta với ta - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LƢƠNG THANH MAI CÁI TÔI TRỮ TÌNH TRONG THƠ TỐ HỮU
QUA HAI TẬP THƠ
“MỘT TIẾNG ĐỜN” VÀ “TA VỚI TA”
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Lý luận văn học
Mã số: 60 22 01 20

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Phạm Thành Hƣng

Hà Nội-2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

2. Lịch sử vấn đề 5
3. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 9
4. Phƣơng pháp nghiên cứu 10
5. Kết cấu luận văn 10
CHƢƠNG 1: CÁI TÔI TRỮ TÌNH VÀ NHỮNG CHẶNG ĐƢỜNG
THƠ TỐ HỮU 12
1.1. Khái niệm cái tôi, cái tôi trữ tình 11
1.1.1. Cái tôi 11
1.1.2. Cái tôi trong thơ trữ tình 18
1.1.3. Cái tôi trữ tình trong những chặng đƣờng thơ Tố Hữu 25
1.2.1. Trong giai đoạn Từ ấy 25
1.2.2. Trong các giai đoạn viết “Việt Bắc”,
“Gió lộng”, “Ra trận”, “Máu và hoa” 27
CHƢƠNG 2: CÁI TÔI TRỮ TÌNH TỐ HỮU TRONG
“MỘT TIẾNG ĐỜN” VÀ “TA VỚI TA” 34
2.1. Cái tôi hƣớng nội, cái tôi nội cảm 34
2.1.1. Trở về bản ngã với nỗi buồn và sự cô đơn 35
2.1.2. Chân tình, sâu sắc trong tình yêu 37
2.2. Cái tôi chiêm nghiệm, trăn trở 42
2.2.1. Day dứt về những đổi thay 42
2.2.2. Suy tƣ, triết lí trƣớc lẽ đời 46
2.3. Cái tôi lo toan, thảng thốt 50
2.3.1. Khẳng định bản lĩnh cá nhân 50
2.3.2. Nặng lòng với quá khứ, với nguồn cội 55

2
2.4. Cái tôi tin tƣởng, ngợi ca 60
2.4.1. Ngợi ca vẻ đẹp đất nƣớc thanh bình 61
2.4.2. Ngợi ca Đảng, ngợi ca Lãnh tụ 63
CHƢƠNG 3: NHỮNG HÌNH THỨC BIỂU HIỆN 69

ấy”. Từ nội dung đến hình thức, từ tƣ tƣởng đến nghệ thuật, thơ Tố Hữu là thơ
dân tộc và thơ nhân dân. Cùng các tác giả của phong trào Thơ mới, Tố Hữu
thuộc số những nhà thơ Việt Nam đầu tiên mang vào thơ phẩm chất mới mẻ
là trữ tình riêng tư. Mỗi tác phẩm của ông đều có tính biểu tƣợng cao và tinh
tế trong nắm bắt cảm giác đời sống. Các sáng tác của ông đều là động lực tinh

4
thần tác động tới đời sống xã hội và đánh dấu những sự kiện chính trị, lịch sử
của đất nƣớc: Từ ấy(1946), Việt Bắc(1954), Gió lộng(1961), Ra trận(1962-
1971), Máu và hoa(1977), Một tiếng đờn(1992), Ta với ta(1999)… luôn trong
sáng, giản dị, dù là đi vào cuộc chiến đấu long trời lở đất hay đi vào cuộc
sống làm lụng lo toan, xây dựng đất nƣớc, con ngƣời.
Sự nghiệp sáng tác của Tố Hữu gói gọn trong 7 tập thơ. So với một số nhà
thơ cùng thời thì số lƣợng đó chƣa phải là nhiều nhất. Tuy vậy, giá trị thơ ông
đã đƣợc khẳng định, đã “thực sự trở thành một bộ phận không thể tách rời đời
sống tâm hồn Việt Nam”. Thế giới nghệ thuật thơ Tố Hữu trở thành đối tƣợng
thu hút sự tìm hiểu, nghiên cứu của giới phê bình và bạn đọc yêu mến.
Hơn nửa thế kỉ qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, phê bình giới
thiệu thơ Tố Hữu. Thơ của ông hầu hết đã đƣợc đánh giá, phân tích về mọi
mặt từ nội dung tƣ tƣởng tới hình thức, phong cách; từ đề tài, chủ đề, hình
tƣợng tới phƣơng pháp sáng tác, thể loại, ngôn ngữ. Với vốn tri thức mà giới
nghiên cứu tích lũy đƣợc đã khẳng định sự phong phú về nội dung tƣ tƣởng
và hình thức nghệ thuật của thơ ông. Hầu nhƣ không còn tập thơ, bài thơ nào
có giá trị của ông mà không đƣợc bàn đến. Tƣởng nhƣ thế giới nghệ thuật thơ
Tố Hữu đã đƣợc khai thác đến cạn kiệt. Nhƣng chƣa có ai dám khẳng định đã
đi đến tận cùng vẻ đẹp thơ ông, Thơ Tố Hữu là một đối tƣợng đầy sức quyến
rũ, hấp dẫn với những ngƣời yêu văn học.
Tìm hiểu cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu qua hai tập thơ Một tiếng
đờn(1992), Ta với ta(1999) là cơ hội để ngƣời viết hiểu sâu hơn về thơ Tố
Hữu trong những năm tháng đất nƣớc đã hòa bình, thống nhất và đang trên


6
chất”). Khái niệm cái tôi, cái tôi trữ tình đƣợc các nhà lý luận văn học hiện
đại vận dụng vào việc nghiên cứu thơ trữ tình, tiêu biểu là các công trình
nghiên cứu của Hoài Thanh, Lê Đình Kỵ, Hà Minh Đức, Nguyễn Xuân Nam,
Trân Đình Sử, Lê Lƣu Oanh, Mã Giang Lân, Nguyễn Bá Thành… Chúng tôi
đã tiếp thu một số ý kiến về cái tôi trữ tình trong các công trình trên để tìm
hiểu, nghiên cứu cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu qua hai tập thơ Một tiếng
đờn và Ta với ta.
2.2. Là một nhà thơ lớn của văn học Việt Nam, sáng tác của Tố Hữu
trở thành đề tài thu hút công sức nghiên cứu của đông đảo giới phê bình. So
với các nhà thơ cùng thời thì thơ Tố Hữu đƣợc nghiên cứu tìm hiểu rất nhiều,
rất sâu với số lƣợng bài phê bình nghiên cứu lớn và một số công trình nghiên
cứu có giá trị. Trong ngành nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại, sau mảng
thơ văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì thơ Tố Hữu là đề tài có nhiều thành tựu
đáng kể. Các công trình phê bình, giới thiệu của các nhà thơ, nhà văn nhƣ
Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông,… Các
chuyên luận và bài nghiên cứu của các tác giả Lê Đình Kỵ, Nguyễn Văn
Hạnh, Trần Đình Sử, Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh,…đều đã đề cập đến
nhiều mặt quan trọng khác nhau của thơ Tố Hữu.
Trƣớc hết phải nói đến chuyên luận Thơ Tố Hữu (NXB Đại học và trung
học chuyên nghiệp) của tác giả Lê Đình Kỵ xuất bản lần đầu vào năm 1979.
Đây có thể gọi là công trình đầu tiên nghiên cứu về thơ Tố Hữu một cách hệ
thống, toàn diện cả nội dung và nghệ thuật. Tác giả Lê Đình Kỵ nghiên cứu
thơ Tố Hữu qua các tập thơ: Từ ấy (1937-1946), Việt Bắc (1946-1954), Gió
lộng (1955-1961), Ra trận (1962-1971), Máu và Hoa (1972-1977). Tác giả đã
khái quát những chủ đề lớn trong thơ Tố Hữu nhƣ: Chủ đề về Nhân dân - Đất
nƣớc - Đảng - Lãnh tụ. Những đặc điểm phong cách tƣ tƣởng - nghệ thuật

7

các tác giả khai thác một cách toàn diện, sâu sắc trong hai công trình này. Tuy
nhiên chƣa có tác giả nào có sự tìm hiểu, nghiên cứu cụ thể về. Hai tác phẩm
đó giúp định hƣớng tìm hiểu thơ Tố Hữu là chủ yếu.
Nếu nhƣ Lê Đình Kỵ khai thác nội dung nghệ thuật thơ Tố Hữu về mặt
chủ đề, đề tài, về những nét lớn trong phong cách nghệ thuật theo phƣơng
diện xã hội học thì Trần Đình Sử lại hƣớng đến cách tiếp cận thơ Tố Hữu ở
góc độ thi pháp. Chuyên luận Thi pháp thơ Tố Hữu đƣợc xuất bản lần đầu tiên
vào năm 1987 (NXB Hội Nhà văn), tái bản vào năm 1995 (NXB Giáo dục).
Với hƣớng nghiên cứu mới mẻ, tiếp cận tác phẩm ở góc độ thi pháp, chuyên
luận của Trần Đình Sử đã thực sự đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong việc
tìm hiểu, nghiên cứu thơ Tố Hữu. Chuyên luận không xem xét riêng phƣơng
pháp sáng tác - một trọng điểm sôi nổi của giới phê bình đƣơng thời mà chỉ đi
sâu vào bình diện thi pháp loại hình và tác giả. Theo tác giả của công trình thì
đây là “Thử nghiệm đầu tiên trong việc xác định nội hàm thơ trữ tình chính
trị, khái niệm kiểu nhà thơ, vận dụng các phạm trù thi pháp học hiện đại nhƣ
quan niệm nghệ thuật về con ngƣời, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ
thuật, các hình thức biểu hiện để xem xét thế giới nghệ thuật của nhà thơ”.
Chuyên luận thực sự có giá trị trong việc tìm hiểu sáng tác của Tố Hữu.
Trong khi bàn về tƣ duy thơ Việt Nam hiện đại, tác giả Nguyễn Bá Thành
đã đi sâu nghiên cứu sự vận động của tƣ duy thơ Tố Hữu từ trƣớc cách mạng
tháng Tám cho tới những năm 1980 qua tiêu đề Cái tôi trữ tình trong thơ Tố
Hữu. Tác giả đã đi sâu nghiên cứu sự vận động của cái tôi trữ tình theo hƣớng
biện chứng từ hƣớng nội đến hƣớng ngoại và sau đó lại trở về hƣớng nội của
tƣ duy thơ Tố Hữu. Sự vận động của tƣ duy thơ Tố Hữu luôn hƣớng về hƣớng
ánh sáng cách mạng. Từ đó tác giả nêu bật đƣợc nét khác biệt, nét đổi mới của
tƣ duy thơ nhà thơ so với các tác giả đƣơng thời cả về mức độ và hƣớng vận

9
động. Công trình nghiên cứu Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nạm đã
đóng góp nhiều giá trị trong việc tìm hiểu tƣ duy thơ của các nhà thơ Việt

coi là những tƣ liệu quan trọng dùng để tham khảo.

4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Phương pháp thống kê - phân loại
Khảo sát hai tập thơ cuối cùng của Tố Hữu, chúng tôi sử dụng phƣơng
pháp thống kê, hệ thống hóa theo từng nhóm tác phẩm nhằm tìm ra những
biểu hiện của cái tôi trữ tình.
4.2. Phương pháp phân tích - tổng hợp
Với khối lƣợng khá nhiều các bài thơ trong hai tập“Một tiếng đờn” và
“Ta với ta”,phƣơng pháp tổng hợp sẽ giúp ngƣời nghiên cứu khái quát lại, rút
ra đặc điểm chung của cái tôi trữ tình thể hiện trong thơ Tố Hữu, từ đó có
điều kiện đi sâu vào từng vấn đề.
4.3. Phương pháp so sánh - đối chiếu
Chúng tôi tiến hành so sánh, đối chiếu trên hai bình diện:
- So sánh đối chiếu cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu qua hai tập thơ
“Một tiếng đờn” và “Ta với ta” với cái tôi trữ tình trong các tập
thơ Từ ấy, Việt Bắc, Gió lộng, Ra trận, Máu và hoa.
- So sánh đối chiếu cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu với cái tôi trữ
tình của một số nhà thơ khác để tìm ra những nét chung mang tính
thời đại và những nét riêng mang phong cách cá nhân, độc đáo.
4.4. Phương pháp tiếp cận thi pháp học 11
1. KẾT CẤU LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, mục lục và kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn
đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:
Chương 1: Cái tôi trữ tình và những chặng đƣờng thơ Tố Hữu.

hƣớng con ngƣời đến đấng tối cao, quên đi cái tôi của mình. Song, để đạt
đƣợc điều đó, tôn giáo đòi hỏi mỗi cá nhân phải có một nghị lực phi thƣờng
để vƣợt qua chính mình. Để chế ngự cái tôi, vƣợt qua cái tôi, quên đi cái tôi,
suy cho cùng lại phải thực sự nhận biết tƣờng tận về cái tôi. Chính vì vậy mà
chủ trƣơng diệt ngã, vô ngã, xóa cái tôi cá nhân, tôn giáo cũng đã gián tiếp
thừa nhận có cái tôi tồn tại trong mỗi cá nhân. Duy có điều, quá trình sống

13
của con ngƣời là quá trình khẳng định cái tôi thì tôn giáo lại đi ngƣợc lại-xóa
bỏ cái tôi.
Các triết thuyết duy tâm khác cũng rất quan tâm đến cái tôi. Các nhà
triết học: Đêcactơ, Phichtê,Cantơ, Heeghen, Becxông, Phơrơt… đã “ giải
thích cái tôi như là căn nguyên có tính chất quan niệm” [11,66], và từ những
quan niệm này mà xây dựng thành hệ thống triết học duy tâm của mình
Đêcactơ(1595-1650) đƣa ra định nghĩa duy lý nổi tiếng: “ Tôi tư duy
vậy là tôi tồn tại”. Ông quan niệm cái tôi thể hiện ra nhƣ một cái thuộc về
thực thể biết tƣ duy, nhƣ là căn nguyên của nhận thức duy lý, do đó khẳng
định tính độc lập của mình[11,67-171] , [10(II),68].
Cantơ(1724-1804) cho rằng: Cái tôi bao gồm hai phƣơng diện: Thứ
nhất, cái tôi với tƣ cách chủ thể tƣ duy, chủ thể nhận thức thế giới. Thứ hai,
cái tôi với tƣ cách là khách thể của chính nhận thức.
Theo Cantơ, cái tôi cũng bắt đầu từ sự tự kỷ ý thức, bản thân nó cũng
chính là một đối tƣợng khám phá, tìm hiểu. Đây chính là một bƣớc tiến quan
trọng trong quan niệm cái tôi [10(II),165-166], [11,72].
Hêghen (1770-1831) coi cái tôi nhƣ là sự tha hóa của “ ý niệm tuyệt
đối” đồng thời nhấn mạnh vai trò to lớn của cái tôi. Cái tôi nhƣ là trung tâm
của tồn tại, cái tôi có khả năng, khát vọng và sức mạnh để thể hiện mình trong
hiện thực. Mọi cái đều tồn tại nhờ có cái tôi và cái tôi có thể chi phối toàn bộ
sự tồn tại và tiêu diệt của thê giới [10(II), 195-200], [11,67]
Hai nhà triết học cổ điển Đức( Cactơ và Hêghen) đã có những đóng

hoàn chỉnh về cái tôi: “ Cái tôi là trung tâm tinh thần của con người, của cá
tính người có quan hệ tích cực đối với thế giới và đối với chính bản thân
mình. Chỉ có con người độc lập kiểm soát những hành vi của mình và có khả
năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới có cái tôi của mình” [11,66]. Việc

15
khẳng định cái tôi là trung tâm tinh thần, cá tính con ngƣời cho thấy đời sống
tinh thần của con ngƣời không phải do một đấng siêu nhiên nào thổi vào mà
đƣợc hình thành và phát triển cùng với quá trình sống của con ngƣời, do con
ngƣời định đoạt. Mặt khác, cái tôi “ quan hệ tích cực với thế giới và với chính
bản thân mình”, có nghĩa là cái tôi vừa mang bản chất xã hội, có quan hệ gắn
bó, khăng khít với hoàn cảnh, vừa mang bản chất cá nhân độc đáo. Cấu trúc
của cái tôi gồm hai phần: Cái cá nhân và cái xã hội nhƣng không phải là phép
cộng, cũng không phải là một sự gắn kết cơ giới, máy móc mà hòa hợp,
xuyên thấm lẫn nhau nhƣ một hợp chất hữu cơ vậy. Nhƣ vậy, không thể có
một cái tôi hoàn toàn duy lý đến mức cực đoan, cũng không thể chấp nhận
một cái tôi thụ động, buông xuôi mà “ chỉ có con người độc lập kiểm soát
những hành vi của mình và có khả năng thể hiện tính chủ động toàn diện mới
có cái tôi của mình”( Các Mác) [11,66]. Cái tôi đòi hỏi con ngƣời phải ý thức
và tự ý thức cùng với những khả năng quan sát, phân tích , tổng hợp… để tự
điều chỉnh sao cho phù hợp với quy luật đời sống.
Trên cơ sở, quan niệm của các nhà triết học, tâm lý học nhân cách,
đặc biệt dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác, chúng tôi tạm thời có một vài
kết luận về cái tôi:
Thứ nhất: Cái tôi là trung tâm tinh thần của con ngƣời, là trung tâm
làm nên cấu trúc nhân cách, hình thành cá tính, phẩm chất, năng lực, sự năng
động của ý thức… của con ngƣời.
Thứ hai: Cái tôi vừa mang bản chất xã hội, lịch sử vừa mang bản chất
cá nhân riêng biệt,độc đáo… Con ngƣời là tổng hòa các mối quan hệ xã hội.
Do vậy, cái tôi vừa là chủ thể, vừa là khách thể của hoạt động nhận thức.

nhạy cảm đặc biệt, cái tôi, trung tâm tinh thần diễn ra một quá trình phân tích,

17
tổng hợp. Những gì đƣợc giữ lại trong trí nhớ sẽ trở thành các ấn tƣợng có sức
sống lâu bền. Quá trình này diễn ra hết sức chủ quan và từ ấn tƣợng đến sáng
tạo có một khoảng cách , ở đó cái chủ quan có thể thay đổi. Sự thay đổi này
làm cải biến các ấn tƣợng. Các ấn tƣợng tồn tại trong trí nhớ ở dạng rời rạc,
khi đi vào tƣ duy hình tƣợng, sáng tạo chúng đƣợc tổ hợp nhờ liên tƣởng
thành một chỉnh thể phức hợp, hoàn chỉnh. Từ góc độ cái tôi tác giả, cái tôi
nghệ sĩ tham gia vào toàn bộ quá trình này với chức năng điều chỉnh, điều
khiển tƣ duy đi đúng với quy luật nhận thức và đặc trƣng sáng tạo nghệ thuật.
Cái tôi nghệ sĩ nội cảm hóa thế giới thực tại và tự biểu hiện mình qua hình
tƣợng. Khi cái tôi biểu hiện dƣới dạng cảm xúc trực tiếp, ta có các hình tƣợng
của một cái tôi trữ tình. Độc giả đến với tác phẩm văn học do nhu cầu của đời
sống tinh thần. Câu chuyện văn chƣơng là câu chuyện của tâm hồn. Cho nên,
không phải không có lý khi có ngƣời đặt nhà thơ ngang với ngƣời mộng du,
có thiên hƣớng phóng chiếu cái tôi của mình ra ngoài,còn độc giả có thiên
hƣớng chủ quan hóa xúc động của ngƣời khác. M.Arnauđôp gọi “ quá trình
sáng tạo của người nghệ sĩ là quá trình “ giải thoát nội tâm” và ông quan
niệm, những đau khổ bất hạnh sẽ làm cho nghệ sĩ “ năng sản” hơn là những
gì nghệ sĩ cảm thấy hạnh phúc”. Tônxtôi, Puskin, Lamactin, Banzăc, Gơt…
đều cho nhƣ vậy.
Chính nhờ có sự đồng cảm trong sáng tạo mà ở nghệ sĩ thƣờng có sự nhập
thân vào đối tƣợng nhƣng mức độ khác nhau. Song, nhờ có cái tôi tự ý thức,
nhà văn luôn có sự tỉnh táo nhất định. Sự nhạy cảm, cảm xúc khi dâng lên
mãnh liệt, thì lý trí có nguy cơ làm nô lệ cho trí tƣởng tƣợng, khi đó nhà văn
sẽ rơi vào “ảo mộng”, không còn ý thức về cái tôi của bản thân nữa. Nhà văn
phải dùng đến một cái tôi tỉnh táo, luôn tự ý thức, tự quan sát, biết phân tích
và dùng lý sự can thiệp vào quá trình sáng tạo. Một sự nhập thân hoàn hảo là
vừa phải biết quên mình đi vừa biết mình là một nhà văn.

19
1.1.2.1. Khái niệm cái tôi trữ tình
Thơ trữ tình là tiếng hát của tâm hồn, có khả năng thể hiện những biểu
hiện phức tạp của thế giới nội tâm con ngƣời, “là phương tiện để con người tự
khẳng định bản chất tinh thần của mình so với tồn tại vật chất, là phương tiện
để tự đồng nhất mình, xây dựng hình tượng về mình, xác định ý chí, chí
hướng, lập trường giá trị trước cuộc sống, đồng thời là phương tiện để xây
dựng thế giới tinh thần phong phú cho con người” [13,112]. Thơ trữ tình luôn
gắn với cái tôi trữ tình bởi nó dựa trên sự rung động của cái tôi cá nhân mang
số phận, cá tính riêng tƣ trong các tình huống trữ tình. Lê Lƣu Oanh cho rằng:
“Cái tôi trữ tình là thế giới chủ quan, thế giới tinh thần của con người được
thể hiện trong tác phẩm trữ tình bằng các phương tiện của thơ trữ tình”
[12,18], “có thể quan niệm rằng cái tôi trữ tình là nội dung, đối tượng cũng
như bản chất của thơ trữ tình”[12,19]
Có thể nói, cái tôi trữ tình là gƣơng mặt tinh thần của nhà thơ trong tác
phẩm; Đó cũng chính là cái tôi tác giả nhƣng đã đƣợc nghệ thuật hóa trong
thơ. Chính vì vậy cái tôi trữ tình thống nhất với cái tôi trong đời nhƣng không
đồng nhất. Giữa hai cái có khoảng cách do những quy luật đặc thù của sáng
tạo nghệ thuật tạo ra ( nhƣ sự hóa thân, nhập thân, hƣ cấu, điển hình hóa,
thậm xƣng…)
1.1.2.2. Nhà thơ và cái tôi trữ tình trong thơ.
Bản chất của cái tôi trữ tình là bản chất chủ quan, cá nhân. Cái tôi trữ tình
càng tự ý thức sâu sắc thì thơ trữ tình càng đặc sắc. Nhƣng cái tôi trữ tình
không hoàn toàn đồng nhất và trùng khít với cái tôi nhà thơ mà là sự thể hiện
đời sống tinh thần và tƣ duy sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ. Đó là phiên bản
mới mẻ, chọn lọc, kết tinh và thăng hoa những suy tƣ, cảm xúc và trải nghiệm
của cái tôi nhà thơ. “Có nhiều cuộc đời thi sĩ gắn liền với đời thơ như hình với
bóng. Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng trung tâm, là cái tôi bao quát

20

(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)
Giữa cái tôi nhà thơ và cái tôi trữ tình trong thơ không đồng nhất nhƣng
hoàn toàn thống nhất. Cái tôi trữ tình trong thơ không phải là cái tôi nhà thơ
trong đời mà là cái tôi nhà thơ đã đƣợc nghệ thuật hóa. Cho nên sự thống nhất
giữa cái tôi nhà thơ và cái tôi trữ tình trong thơ là hiện tƣợng thƣờng gặp. Thơ
trữ tình từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, đến Hồ Xuân Hƣơng, Cao Bá
Quát, Phan Bội Châu, Tố Hữu… đều biểu hiện rõ nét sự thống nhất đó. Đọc
thơ Nguyễn Trãi, ta bắt gặp cuộc đời của một ngƣời có khí tiết thanh cao, suốt
đời vì nƣớc, vì dân. Dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Nguyễn Trãi vẫn luôn là
một cây trúc hiên ngang, cƣơng trực giữa chốn “vườn Quỳnh” đầy rẫy những
kẻ xu nịnh hiểm độc. Đọc thơ Hồ Xuân Hƣơng, ta lại thấy một cái tôi duyên
phận hẩm hiu, một cuộc đời lận đận, bảy nổi ba chìm luôn khao khát hạnh
phúc, tình yêu chƣa bao giờ đƣợc nhƣ ý nguyện; một cái tôi phóng túng, táo
bạo, quyết liệt, đầy bản lĩnh, nghị lực, sẵn sàng lên án những bậc “hiền quân
nhân tử” và cả những lễ nghĩa, lề lối đạo đức giả; lớn tiếng bênh vực đòi
quyền sống cho những ngƣời phụ nữ. Đồng thời, đó là cái tôi đằm thắm,
duyên dáng thiết tha, rất phụ nữ. Thơ Phan Bội Châu là những lời tâm huyết,
chứa chan tinh thần yêu nƣớc, gắn liền với cuộc đời chiến sỹ cách mạng…
Từ những quan điểm lý luận về thơ trữ tình, nhà thơ và cái tôi trữ tình
trong thơ, chúng ta có thể khẳng định: Sự biểu hiện của cái tôi trữ tình trong
thơ là đa dạng, muôn hình, muôn vẻ. Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức đã chỉ ra
những dạng thức bộc lộ của cái tôi trữ tình nhƣ sau:
Thứ nhất, dạng trực tiếp của một tình cảm riêng tƣ, một câu chuyện,
một cảnh ngộ, một sự việc gắn với cuộc đời riêng của ngƣời viết. Trong
những trƣờng hợp ấy, cái tôi trữ tình gần hoặc chính là cái tôi của tác giả và
nhà thơ thƣờng sử dụng một cách bộc lộ trực tiếp qua chữ “tôi”: “Từ ấy trong

22
tôi bừng năng hạ” (Tố Hữu), hoặc từ “ta”: “ Huế ơi, quê mẹ của ta ơi” (Tố
Hữu)( chữ “ta” rộng hơn bản thân cái tôi của ngƣời viết) có khi là anh em ta,

định”.
Vũ Tuấn Anh cũng đã giành nhiều tâm sức để nghiên cứu về bản chất
và sự thể hiện của cai tôi trữ tình trong thơ. Ông nhận định: “ Cái tôi trữ tình
là một sự tổng hòa nhiều yếu tố, là sự hội tụ thăng hoa theo quy luật nghệ
thuật cả ba phương diện cá nhân- xã hội- thẩm mỹ trong hình thức thể loại
trữ tình”[2,33]
Bản chất thứ nhất của cái tôi trữ tình là bản chất chử quan- cá nhân, bộc lộ
qua các thuộc tính sau:
Cái tôi trữ tình trở thành hệ quy chiếu thẩm mỹ đặc biệt mang tính chủ
quan, chuyển đổi hiện thực khách quan thành hiện thực chủ thể, mang đậm
dấu ấn cá nhân nhƣ một thực hiện độc đáo, duy nhất không lặp lại.
Cái tôi trữ tình biểu hiện, khai thác và phơi bầy thế giới nội tâm cảu cá
nhân, đồng thời qua đó xây dựng một hình ảnh mang tính quan niệm về chủ
thể. Cái tôi trữ tình khác về chất lƣợng với cái tôi nhà thơ, nó là cái tôi thứ hai
hoặc cái tôi đã đƣợc khách thể hóa trong nghệ thuật và bằng nghệ thuật. Bởi
vậy cái tôi trữ tình còn có thể là cái tôi trữ tình nhập vai hoặc nhiều vai.
Bản chất thứ hai của cái tôi trữ tình là bản chất của xã hôi nhân loại.
Cái tôi trữ tình tồn tại trong phức hợp các mối quan hệ: Truyền thống văn
hóa,lịch sử, đạo đức, thời đại nhân loại,… nên bao giờ cũng mang giá trị xã
hội. Cái tô trữ tình đồng hóa vào mình những gì tốt đẹp đƣợc kết tin trong đời
sông tinh thần nhân dân, cộng đồng, nhân loại, đồng thời luôn có xu hƣớng
đào thải những gì lỗi thời, lạc hậu. Đây là cơ sở giải thích vì saomang bản
chất cá nhân mà cái tôi trữ tình không hề đơn điệu. bởi vì nôi dung thơ trữ

Trích đoạn Khẳng định bản lĩnh cá nhân Nặng lòng với quá khứ, với nguồn cội Cái tôi tin tƣởng, ngợi ca Ngợi ca Đảng, ngợi ca Lãnh tụ
Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status