Cảm hứng và chất liệu tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử và Huy Cận - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ YẾN CẢM HỨNG VÀ CHẤT LIỆU TÔN GIÁO
TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ VÀ HUY CẬN

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành: Lýluận văn học – Mã số 60 22 32

Người hướng dẫn khoa học: PGS, TS Trần Khánh Thành

Hà Nội - 2009

1
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3
1. Lý do chọn đề tài 3
2. Lịch sử vấn đề 4
2.1 Hàn Mặc Tử 4
2.2 Huy Cận 5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
4 .Phương pháp nghiên cứu 7

3.3. Cảm hứng và chất liệu tôn giáo trong thơ Huy Cận sau Cách mạng
Tháng Tám 58
KẾT LUẬN 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

3

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, ra đời sớm và có
ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần của nhân loại. Đã từ lâu, tôn giáo và
nghệ thuật có mối quan hệ gắn bó và thâm nhập lẫn nhau, đôi khi thật khó phân biệt
đâu là tác phẩm văn học và đâu là giáo lý của tôn giáo. Tôn giáo là đề tài hấp dẫn và
là nguồn cảm hứng vô tận của các nhà thơ, nhà văn. Nhiều kiệt tác nghệ thuật thế
giới hướng về đề tài tôn giáo. Tôn giáo là vùng lãnh địa hấp dẫn để các nhà thơ, nhà
văn thể hiện khao khát tột cùng của mình về cái đẹp và về miền bí ẩn khuất lấp trong
tâm hồn con người, góp phần hướng con người vươn tới cái thiện.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, mối quan hệ giữa văn học và tôn giáo
khá mật thiết. Thời kì trung đại, văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng khá đậm của
Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo. Đặc biệt thời Lý -Trần, Phật giáo chi phối rất sâu
rộng đề tài, cảm hứng văn học, tạo nên dấu ấn đặc sắc trong tiến trình văn học
Việt Nam.
Bước sang thời kỳ hiện đại, cùng với sự giao lưu văn hóa Đông – Tây,
mối quan hệ giữa văn học và tôn giáo có thêm nhiều sắc thái mới. Bên cạnh sự
ảnh hưởng qua lại giữa văn học và các tôn giáo truyền thống phương Đông, lại
có thêm sự ảnh hưởng không kém phần mạnh mẽ của Thiên Chúa giáo được
truyền bá từ phương Tây trong thế kỷ XIX vào đầu thế kỷ XX. Những nguồn
ảnh hưởng qua lại đó được thể hiện khá tập trung ở thơ Hàn Mặc Tử và Huy
Cận. Dù màu sắc và mức độ khác nhau nhưng Hàn Mặc Tử và Huy Cận đều sử
dụng khá nhiều chất liệu tôn giáo và lấy cảm hứng tôn giáo để sáng tạo những

còn khắt khe nên việc khẳng định còn dè dặt và chật hẹp. Trong khi đó ở phía
Nam lại có phần thái quá trong việc đề cao thơ Hàn Mặc Tử.
Từ 1987 đến nay, không khí đổi mới đã giải phóng tư duy, khơi nguồn
sáng tạo cho các nhà phê bình nghiên cứu văn học, việc đánh giá các hiện tượng
văn học trong quá khứ cởi mở và khách quan hơn. Nhiều nhà Thơ mới đã được
nhìn nhận theo một tinh thần mới. Lần đầu tiên Tuyển tập thơ Hàn Mặc Tử được
ấn hành trên toàn quốc. Nhà thơ Chế Lan Viên đánh giá rất cao người bạn thơ
cùng trường phái với mình. Từ đây, việc nghiên cứu Hàn Mặc Tử lại trở nên

5
hưng thịnh hơn bao giờ hết. Thơ Hàn Mặc Tử được đưa vào giảng dạy ở trường
phổ thông như một trong những gương mặt sáng giá nhất của phong trào Thơ
mới, được đưa vào giảng dạy ở Đại học như một tác gia của văn học Việt Nam
hiện đại. Thơ văn Hàn Mặc Tử được tái bản nhiều lần. Những công trình nghiên
cứu, sưu tầm, hồi ký, chuyên khảo, chuyên luận, bình giảng về tác phẩm của
Hàn Mặc Tử lần lượt ra đời. Các nhà nghiên cứu đã tìm tòi, khám phá ngày càng
sâu sắc hơn về những di sản tinh thần của Hàn Mặc Tử, có một số nhà nghiên
cứu đã tìm đến miền linh thiêng, bí ẩn trong thơ ông. Tiêu biểu là các bài: Ảnh
hưởng Đạo phật trong thơ Hàn Mặc Tử (Quách Tấn), Hàn Mặc Tử với đức tin,
Đạo và đời trong thơ Hàn Mặc Tử (Yến Lan). Những bài viết này bước đầu đã
phân tích mối quan hệ giữa tôn giáo và cảm hứng sáng tạo nghệ thuật trong thơ
Hàn Mặc Tử, tạo những điểm tựa quan trọng để tác giả thực hiện luận văn này.
Yếu tố tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử là điều dễ nhận thấy. Nhưng ảnh hưởng
của nó thuộc những phương diện nào trong thế giới nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử?
Thuộc phạm trù tình cảm (Đức tin tôn giáo?) hay tư duy nghệ thuật (Tư duy tôn
giáo)? Và tôn giáo ở Hàn Mặc Tử chỉ thuần là Công giáo hay gồm cả Phật giáo?
Từ những câu hỏi đó người viết có thể tìm câu trả lời trong khi đến với thế giới
nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử
2.2 Huy Cận
Huy Cận đã đi qua một chặng đường thơ dài hơn nửa thế kỷ. Thời kỳ nào

nghe trong hồn hơi gió lạnh buốt từ vô cùng đưa đến” [30]. Như vậy, bên cạnh
việc đánh giá Huy Cận như một tiếng thơ tiêu biểu, đặc sắc của phong trào Thơ
mới, các nhà phê bình nghiên đã chỉ ra được một số đặc điểm trong cảm quan
nghệ thuật của Huy Cận, bước đầu đã nhận ra cõi thiêng liêng, cổ kính, thanh
cao trong Lửa thiêng
Sau Cách mạng Tháng Tám, Huy Cận cho ra đời nhiều tập thơ: Trời mỗi
ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời, Hai bàn tay em, Những năm 60,
Chiến trường gần đến chiến trường xa, Ngày hằng sống ngày hằng thơ,… đã thu
hút được sự chú ý của đông đảo giới phê bình nghiên cứu. Hàng loạt các bài
báo, tiểu luận đã kịp thời khẳng định những thành quả mới của Huy Cận. Các
tác giả đều chủ yếu tâp trung đi sâu vào những đổi mới cơ bản, tích cực trong
hồn và trong thơ Huy Cận sau cách mạng. Có hai chuyên luận khá công phu về
toàn bộ sự nghiệp thơ của Huy Cận. Đó là Thế giới thơ Huy Cận (1987) của
Xuân Diệu và Thi pháp thơ Huy Cận (2002) của Trần Khánh Thành. Trong Thi
pháp thơ Huy Cận, Trần Khánh Thành đã phân tích quan niệm của Huy Cận về

7
phần hồn của con người trong cuộc sống và trong cõi trời xưa cõi biếc. Trong
nhiều tiểu luận viết về thơ Huy Cận, chúng tôi đặc biệt lưu tâm đến hai tiểu luận:
Ngọn lửa thiêng trong đời và trong thơ của Hà Minh Đức và Huy Cận, sự khắc
khoải không gian của Đỗ Lai Thúy. Giáo sư Hà Minh Đức tuy còn dè dặt nhưng
bước đầu đã đặt vấn đề “Phải chăng Huy Cận đã chịu ảnh hưởng của một tôn
giáo nào để rồi hình dung ra bên cạnh cõi đời là một địa ngục hay thiên
đường?‟‟ Còn Đỗ Lai Thúy cắt nghĩa nỗi khắc khoải không gian trong Lửa
thiêng là niềm tâm sự của kẻ mất Thiên đường. Ông đã chỉ ra ảnh hưởng của
Thiên chúa giáo trong nhiều bài thơ của Huy Cận. Đây cũng là những gợi mở
cần thiết để tác giả tìm hiểu cảm hứng và chất liệu tôn giáo trong thơ Huy Cận.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn này là cảm hứng và chất liệu tôn
giáo được thể hiện trong thơ Hàn Mặc Tử và thơ Huy Cận.

1.1. Giới thuyết chung về tôn giáo
1.1.1. Tôn giáo và nguồn gốc của tôn giáo
Tôn giáo là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm trong lịch sử, thu hút
được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Đến nay, đã có nhiều cách trả lời
khác nhau cho câu hỏi “Tôn giáo là gì?”. Từ góc độ nhân loại học, Tylor cho rằng
“Tôn giáo là lòng tin vào những vật linh” [29, tr.16]; từ góc độ ngôn ngữ học,
Maxmuller xem "tôn giáo là niềm tin vào các vị thần" [29, tr.16]; trên bình diện văn
hoá học, AJ.Troibi quan niệm "Tôn giáo là một yếu tố của văn hoá, là một hiện
tượng văn hoá" [29, tr.17]; từ góc độ bản thể, Durkhein định nghĩa: Tôn giáo là hệ
thống cố kết những tín ngưỡng và thực hành có liên quan đến các sự vật thiêng
liêng, gắn với một cộng đồng tinh thần gọi là giáo hội. Nhìn chung các cách định
nghĩa trên đây do nhìn nhận tôn giáo một cách phiến diện nên chưa phản ánh được
một cách toàn diện hiện tượng tôn giáo.
Trên cơ sở tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, có
thể quan niệm, tôn giáo là một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, bao gồm ý thức
tôn giáo, hoạt động tôn giáo và tổ chức tôn giáo, mà sự tồn tại phát triển của nó là
do sự phản ánh hư ảo hiện thực khách quan vào trong đầu óc con người.
Như vậy, tôn giáo là sản phẩm của xã hội, của những mối quan hệ giữa
con người với tự nhiên và mối quan hệ giữa người với người. Chính con người
sinh ra tôn giáo chứ không phải tôn giáo sinh ra con người, tôn giáo không phải
là hiện tượng tự nhiên tồn tại trước con người, ngoài xã hội loài người.
Ph.Ăngghen khẳng định: “Bất cứ tôn giáo nào cũng đều là sự phản ánh hư ảo vào
đầu óc người ta những sức mạnh từ bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày của
họ; chỉ là sự phản ánh mà trong đó những sức mạnh của thế gian đã mang hình
thức sức mạnh siêu thế gian” [8, tr.544].
Một tôn giáo cụ thể thường bao gồm ba yếu tố: Ý thức tôn giáo, hoạt động
tôn giáo và tổ chức tôn giáo. Trong quá trình vận động, phát triển của tôn giáo,
ý thức tôn giáo, tổ chức tôn giáo và các hoạt động tôn giáo luôn luôn tác động

10

giác về sự phụ thuộc là cơ sở của tôn giáo" [20, tr.51], và một nguyên nhân khác của

11
lòng tin vào Thượng đế: con người áp dụng quan niệm về sự sáng tạo có tính mục đích
của mình vào giới tự nhiên. C.Mác và Ph.Ăngghen đánh giá rất cao cống hiến của Lút-
vích Phoiơbắc. Nhưng do lập trường duy tâm và phương pháp nhận thức siêu hình các
vấn đề xã hội, Lútvích Phoiơbắc đã không thấy được ý thức của con người nói chung,
tình cảm tôn giáo nói riêng cũng là sản phẩm xã hội lịch sử. Vì thế, ông đã không thấy
được nguồn gốc xã hội của tôn giáo.
Trên cơ sở thành tựu của các ngành khoa học, xuất phát từ lập trường của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các nhà kinh điển
của chủ nghĩa Mác - Lênin đã giải quyết khoa học, cách mạng vấn đề nguồn gốc
tôn giáo. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tôn giáo là một hiện
tượng xã hội mang tính lịch sử, ra đời từ nguồn gốc nhận thức, nguồn gốc xã hội
và nguồn gốc tâm lý
Để thực hiện quá trình lao động, con người phải dùng công cụ và phương
tiện lao động tác động vào giới tự nhiên, khi công cụ, phương tiện còn rất thô sơ
thì con người tỏ ra yếu đuối và bất lực trước giới tự nhiên, họ không giải thích nổi
những hiện tượng như: Sấm, sét, bão, lụt, bệnh tật nên họ khuất phục và sợ hãi.
Sự bất lực ấy đã tạo nên ở họ những biểu tượng hoang đường và họ thần thánh
hoá các lực lượng tự nhiên. Họ tưởng tượng ra thần sấm, thần sét, thần núi, thần
sông Họ tin rằng các lực lượng đó luôn chi phối cuộc đời họ. Như vậy, sự bất
lực của con người (nhận thức hạn chế) trước sức mạnh của giới tự nhiên là một
trong những nguồn gốc của tôn giáo.
Sự bất lực trong nhận thức của con người được biểu hiện trước hết ở sự thiếu
hiểu biết về tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình. Ph.Ăngghen viết: "Bất cứ tôn
giáo nào đều có gốc rễ trong các quan niệm thiển cận và ngu dốt của thời kỳ mông
muội" [9, tr.404], "từ những khái niệm hết sức sai lầm, nguyên thuỷ của con người
về bản chất của chính họ và về giới tự nhiên bên ngoài xung quanh họ" [9, tr. 443].
Nhưng sự thiếu hiểu biết tự nó chưa phải là nguồn gốc sinh ra tôn giáo, mà chỉ khi

với khả năng hiện có của con người luôn luôn gắn liền với nhau trong một thể
thống nhất. Nhưng vai trò của những bất lực này trong việc hình thành tín ngưỡng,
tôn giáo, là không ngang bằng nhau ở mỗi thời kỳ lịch sử.
Trong thời kỳ nguyên thuỷ, khi lực lượng sản xuất kém phát triển, xã hội
chưa phân chia thành giai cấp, chưa có hiện tượng người bóc lột người, thì sự bất
lực của con người trong quá trình cải tạo các hiện tượng tự nhiên là nguồn gốc chủ
yếu tạo nên tín ngưỡng, tôn giáo.

13
Khi xã hội xuất hiện chế độ người bóc lột người thì sự bất lực của con người
trong quá trình cải tạo các mối quan hệ xã hội trở thành nguồn gốc cơ bản, chủ yếu
tạo nên tôn giáo. Bởi vì, khi xã hội có giai cấp, lực lượng sản xuất ngày càng phát
triển tạo điều kiện để con người giảm đi những bất lực trong quá trình cải tạo các
hiện tượng tự nhiên. Đồng thời, do chế độ tư hữu làm cho con người khai thác cạn
kiệt tài nguyên, làm môi trường sinh thái ngày càng ô nhiễm. Vì thế, thiên nhiên
ngày càng "trả thù" con người với quy mô lớn hơn, cường độ mạnh hơn. Do vậy,
con người ngày càng bất lực nhiều hơn trong việc cải tạo thiên nhiên.
Mặt khác, chế độ bóc lột là thủ phạm gây ra những tai hoạ ngày càng to lớn,
khủng khiếp hơn đối với nhân dân lao động. Chế độ bóc lột về thực chất là chế độ
cướp bóc của kẻ mạnh đối với người yếu. Với pháp luật, nhà tù, toà án, quân đội
cùng biết bao thủ đoạn xảo quyệt khác, nhà nước của giai cấp bóc lột không chỉ
thống trị nhân dân lao động về kinh tế, mà còn áp bức về tinh thần tư tưởng, không
chỉ bóc lột cá nhân từng người lao động mà còn áp bức bóc lột cả một giai cấp, một
dân tộc. Người lao động không chỉ bị một tên tư bản bóc lột mà còn bị cả giai cấp
tư sản cướp bóc. Chế độ bóc lột không chỉ đe doạ miếng cơm, manh áo hàng ngày,
mà còn đe doạ cả sự sống còn của mỗi con người, cả cộng đồng người và toàn thể
nhân loại Đúng như V.I.Lênin nhận xét, giai cấp bóc lột đang hàng ngày, hàng giờ
gây ra cho những người lao động bình thường những nỗi thống khổ cực kỳ ghê
gớm, những sự đau thương thật là khủng khiếp, nhiều gấp nghìn lần so với những
biến cố phi thường như chiến tranh, động đất.

đế" [31, tr.51].
Bên cạnh những lực lượng xã hội, những hiện tượng thiên nhiên gieo tai hoạ,
luôn tồn tại những hiện tượng tự nhiên tạo ra điều kiện thuận lợi, đáp ứng nhu cầu
nguyện vọng con người và cả những lực lượng xã hội, những cá nhân anh hùng, dũng
cảm xả thân cứu giúp đồng loại. Những sự kiện đó là lý do nảy sinh lòng biết ơn, kính
trọng. Tâm trạng cô đơn, sợ hãi, tuyệt vọng và lòng biết ơn, kính trọng là những trạng
thái tâm lý khác nhau, nhưng liên hệ mật thiết với nhau. Tất cả đều trở thành nguồn
gốc trực tiếp để hình thành ý thức tín ngưỡng, tôn giáo.
Trong thực tế, những nguồn gốc dẫn đến sự ra đời, tồn tại của tôn giáo luôn
quan hệ chặt chẽ, thành một thể thống nhất không tách rời nhau. Song vai trò của
chúng không ngang bằng nhau. Vai trò đó phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể.
Tuy nhiên, ở bất cứ đâu, trong bất cứ thời điểm nào, nguồn gốc xã hội, vẫn là cơ
bản, chủ yếu nhất. Nó quyết định xu hướng, nội dung, hình thức, tồn tại phát triển
của nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý; quyết định sự ra đời của tôn giáo.
Ngược lại, nguồn gốc nhận thức, nguồn gốc tâm lý cũng tác động trở lại rất to lớn

15
đến sự hình thành, phát triển của tôn giáo và góp phần làm sâu sắc, phong phú hơn
nguồn gốc xã hội.
1.1.2. Bản chất của tôn giáo
Trước C.Mác, các nhà tư tưởng đã nghiên cứu bản chất tôn giáo dưới nhiều
góc độ khác nhau. Các nhà duy tâm và các nhà thần học, đều thần bí hoá tôn giáo
coi tôn giáo như một hiện tượng kỳ bí, vĩnh hằng, có trước con người.
Các nhà duy vật trước C.Mác, đỉnh cao là Lútvích Phoiơbắc đã có những
nhận định đúng khi cho rằng: "Bí mật của tôn giáo, xét đến cùng, chỉ là bí mật của
sự kết hợp trong cùng một thực thể, ý thức và cái vô thức, ý chí và cái không ý chí"
[31, tr.70], là: "Sự đồng nhất cái chủ quan và cái khách quan" [31, tr. 70]. Song, do
cách nhìn duy tâm, siêu hình về xã hội, Lútvích Phoiơbắc đã không giải quyết được
vấn đề bản chất tôn giáo một cách triệt để.
Kế thừa quan điểm của các nhà duy vật, các nhà kinh điển của chủ nghĩa

hay "Thiên đàng" của đạo Kitô chẳng qua chỉ là một bức tranh sinh động, miêu tả cuộc
sống no đủ của những cư dân sản xuất nông nghiệp trong những năm tháng mưa thuận
gió hoà, mùa màng tươi tốt bội thu.
Thượng đế, Thiên Chúa, Ngọc hoàng chỉ là hình ảnh hoàn thiện, hoàn
mỹ, tập trung tất cả mọi sự tinh tuý, tốt đẹp nhất cả về thể chất và tinh thần
của những con người hiện thực. Thực chất, đó là sự thần thánh hoá một ông
vua chuyên chế với quyền lực vô hạn, cai quản, điều khiển đất nước, thần dân
của mình.
Tuy nhiên, sự phản ánh của tôn giáo đối với hiện thực khách quan không
phải là sự phản ánh bình thường, phản ánh đúng đắn, trung thực, mà là sự phản ánh
hư ảo, bịa đặt. Đây là nội dung cơ bản nhất cấu thành bản chất của tôn giáo, quyết
định sự ra đời, tồn tại và những chức năng đặc thù của tôn giáo. Thiếu nội dung cơ
bản này mọi tín ngưỡng, tôn giáo, mọi yếu tố cấu thành tôn giáo sẽ không tồn tại.
Tôn giáo không chỉ đảo lộn, xem: "Bản chất khách quan coi như là chủ
quan, bản chất của giới tự nhiên là khác với giới tự nhiên, coi như bản chất của
con người, bản chất của con người như khác với người, coi như là bản chất
không phải người" [20, tr.71], mà còn phủ nhận mọi quy luật khách quan, mọi
suy nghĩ và hành động sáng tạo của con người. Mặt khác, tôn giáo còn quy mọi
sự tồn tại, vận động, biến đổi của thế giới, từ hoạt động nhận thức của con người
tới sự vận động của các thiên hà bao la đều phụ thuộc vào ý chí của đấng siêu
nhiên, phục vụ đấng siêu nhiên. Cho nên, tôn giáo không chỉ phản ánh xuyên tạc
tình hình, khả năng khách quan mà còn phủ nhận quy luật khách quan, không

17
chỉ xuyên tạc quy luật của tự nhiên, xã hội, mà còn xuyên tạc quy luật vận động
của tư duy; tôn giáo không chỉ sai lầm trong cách đặt vấn đề, giải quyết vấn đề
mà còn sai lầm trong kết thúc vấn đề. Đó là chuỗi dài của những phản ánh sai
lầm liên tiếp cả về nội dung và phương pháp. Vì thế, những nội dung phản ánh
của tôn giáo về cơ bản không có giá trị về lý luận và thực tiễn, thậm chí nó còn
là nguồn gốc gây nên những tai hoạ to lớn cho sự phát triển của tự nhiên, xã hội

. Hơn nữa, toàn bộ quá trình ra đời, tồn tại, vận động, phát triển
của tôn giáo cũng như các hoạt động tôn giáo vừa là sự biểu hiện, vừa là quá trình
giải quyết mâu thuẫn giữa cái hư và cái thực.
1.2. Cảm hứng tôn giáo trong văn học
Không phải ngẫu nhiên, không phải chỉ kinh thánh mà kinh Coran, kinh
veda đều là những kiệt tác văn học. Đạo đức, triết học, tôn giáo và nghệ thuật là
những đối tượng thuộc thượng tầng kiến trúc, từ lâu đã có mối quan hệ mật thiết
và qua lại. Đạo đức, nhất là triết học tác động mạnh mẽ đến nghệ thuật, nhưng
Tôn giáo lại gắn bó chặt chẽ với nghệ thuật theo một con đường riêng. Triết học
dù có sâu sắc bao nhiêu, đạo đức dù có cao cả đến đâu, cũng là nhằm giải thích
thế giới hoặc hướng đạo cuộc sống thực tại. Còn tôn giáo bao giờ cũng hướng về
một thế giới khác, cho nên nó dễ bắt gặp tính chất lý tưởng vươn lên trên thực tế
của nghệ thuật. Feurerbach đã có một nhận xét khá sâu sắc: Tôn giáo là thơ,
người ta có thể nói như vậy bởi vì lòng tin bằng sản phẩm của tưởng tượng.
Văn học chân chính bao giờ cũng hướng con người vươn tới cái đẹp, cái
thiện, làm cho con người càng ngày càng hoàn thiện hơn. Nghệ thuật ra đời
trong thời kỳ bình minh của lịch sử nhân loại. Xuất phát từ nhu cầu lao động và
nhận thức thế giới, xuất phát từ nhu cầu giao tiếp tư tưởng tình cảm, nghệ thuật
đã hình thành và phát triển không ngừng. Khi tư duy của con người phát triển,
nền nghệ thuật phát triển đến trình độ cao thì tác phẩm nghệ thuật trở thành món
ăn tinh thần cho con người.
Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực cuộc sống của con người nơi
trần thế, nơi con người sống với ngổn ngang những suy tư dằn vặt, với những
niềm vui, nỗi buồn, nơi con người có sinh thành, phát triển và có già cỗi, mất
đi, nơi những kiếp người có sinh có diệt. Văn học nghệ thuật không bao giờ
thoát li đời sống. Nó lấy chất liệu từ đời sống phong phú phức tạp rồi sàng lọc
qua quá trình sáng tạo của nhà văn để xây nên những hình tượng nghệ thuật.
Khác với nghệ thuật, Tôn giáo là hình thức phủ nhận thực tại, là cuộc trốn
chạy hiện thực đời sống trần thế. Tôn giáo hướng con người đến thế giới thiêng
liêng cao cả, nơi trú ngụ của thần thánh cao sang, bất diệt. Thế giới của Tôn giáo

Tôn giáo mà hai nhà thơ này hướng tới không phải là giáo phái nào khác
mà chính là Phật giáo và Thiên chúa giáo. Đây là hai trong số những Tôn giáo
lớn nhất trên thế giới và có hệ thống tín đồ đông đảo.

20
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, ngay từ đầu Công
nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử học đạo của một nhà sư Ấn Độ. Luy
Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trị sở của quận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâm
Phật giáo quan trọng. Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man Nương
Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La (Ksudra) trong
khoảng các năm 168-189.
Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (bậc giác ngộ) được
phiên âm trực tiếp thành "Bụt", từ "Bụt" được dùng nhiều trong các truyện dân
gian. Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Tiểu thừa, Bụt được coi như
một vị thần chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu. Sau này, vào thế kỷ thứ
4-5, do ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ "Bụt" bị mất đi và được
thay thế bởi từ "Phật". Trong tiếng Hán, từ Buddha được phiên âm thành "Phật đà",
"Phật đồ" rồi được rút gọn thành "Phật".
Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến đời nhà Lý, nhà
Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả
mọi vấn đề trong cuộc sống. Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc
giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái. Đến đầu thế kỷ 17, vua Quang
Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên
việc này không có nhiều kết quả. Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của
quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô
thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện
Chiếu.
Thành tựu lớn nhất của Phật giáo là đã tìm ra Tứ diệu đế: Đạo Phật quan
niệm cuộc đời là bể khổ(Khổ đế), tất cả mọi ham muốn của con người không đạt
được đều khổ. Nguyên nhân sinh ra khổ là ái dục và vô minh (Tập đế). Đạo Phật

1932 – 1945, nếu Xuân Diệu được xem là “mới nhất”, Nguyễn Bính là “quen
nhất”, thì ngôi vị của Hàn Mặc Tử hẳn phải là “lạ nhất” và phức tạp nhất (Chu
Văn Sơn).
Hơn nửa thế kỷ trước, Chế Lan Viên đã từng tiên tri về Hàn Mặc Tử như
một nhà cách tân duy nhất còn lại với mai hậu “Tôi xin hứa hẹn với các người
rằng, mai sau những cái tầm thường mực thước sẽ biến tan đi và còn lại cái thời
kỳ này chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử” [42]. Không còn nghi ngờ gì nữa,
Hàn Mặc Tử chính là một hiện tượng văn học sử có sức sống mãnh liệt và luôn
đòi hỏi được khám phá, chiếm lĩnh. Hẳn linh hồn thi sĩ sau khi về với Chúa sẽ
được thanh thản. Tấm lòng độc giả sẽ thay thế nàng tiên rửa vết thương lòng cho
thi sĩ:
“Một mai kia ở bên khe nước ngọc
Với sao sương anh nằm chết như trăng
Không tìm thấy nàng tiên mô đến khóc
Đến hôn anh và rửa vết thương tâm”
(Lời chàng trong duyên kỳ ngộ)
Cuộc đời bênh tật, mà tâm hồn thanh sạch. Thơ Hàn Mặc Tử là cả một
dòng tinh huyết sáng láng, thấm đượm một dòng cảm hứng bao giờ cũng đắm

23
say, cuồng nhiệt, có lúc cả hồn ông, thơ ông đã bay lên cõi ước mơ, một vùng
trời tinh khiết đến Thiên đàng, nơi có Đức Chúa trời, có mẹ Maria nhân từ, có
cuộc sống vĩnh cửu.
Thơ Hàn Mặc Tử là sinh lực trong con người,là chính cuộc đời bạc mệnh
đau khổ của nhà thơ. Nên để hiểu được thơ Hàn Mặc tử, ta phải tìm hiểu ông,
Và đời ông sẽ giúp ta hiểu kỹ hơn về thơ ông. Chính dòng thơ đời nóng hổi này
đã làm nên một Hàn Mặc Tử - thi sĩ tài hoa.
Có người so sánh quá trình hoạt động của con gấu và của các nhà thơ, nhà
văn là quá trình hoạt động ngược chiều nhau. Con gấu ăn bao nhiêu cỏ ngọt để
rồi tiết ra thứ đắng nhất trên đời đấy là mật gấu, còn các nhà văn, nhà thơ lại


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status