MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 10
TÍNH LIÊN VĂN BẢN TRONG THƠ HÀN MẠC TỬ 10
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ TRÙNG LẶP VÀ TÁI SINH HÌNH TƯỢNG 10
!"#$%&'()*+,-.
./$%&01.2
32
CHƯƠNG 2 33
TÍNH LIÊN VĂN BẢN TRONG THƠ HÀN MẠC TỬ 33
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỦ PHÁP NGHỆ THUẬT, 33
SỰ PHA TRỘN THỂ LOẠI, KÍ ỨC NGÔN NGỮ 33
VÀ SỰ TÁI SINH CỦA CÁC TỪ/CỤM TỪ CỐ ĐỊNH 33
.,34567()*+,-!89:
.;4567'()*+,-!86<"#"
..;4567'()*+,-!86<4=
..:>'+'()*+,-?.
..;@@A>(BC ?.
...:D(+'()*+,-?
...ED(+?
....:D(+'()*+,-?
.,34567'()*+,-!83F$D
8G1@8 9HI
.,8G1@86B
..,8G1@80@
54
CHƯƠNG 3 55
TÍNH LIÊN VĂN BẢN TRONG THƠ HÀN MẠC TỬ 55
TỪ GÓC ĐỘ BIỂU TƯỢNG VÀ DẪN DỤ VĂN BẢN 55
QUAN NIỆM TÔN GIÁO 55
;4567'()*+,-8!6>"#
“Hơn nửa thế kỷ qua, không thể đếm xuể những con người thuộc mọi tầng
lớp, mọi trình độ, đã nghiêng mình kính cẩn trước anh linh Hàn Mạc Tử,
không thể đong được những dòng lệ mà người đời đã nhỏ xuống khóc người
thi sĩ tài hoa bạc mệnh ấy”. Khi đánh giá về thơ Hàn Mạc Tử, Vương Trí
Nhàn đã viết: “Trước mắt chúng ta có một giọng thơ độc đáo không chia sẻ
âm hưởng với ai hết. Thơ Hàn Mạc Tử đại diện cho một khuynh hướng thơ
độc đáo, với nhiều tìm tòi táo bạo”. Những nhận định trên đây cho thấy lòng
1
yêu mến, sự đồng cảm của công chúng đối với con người và thơ ca Hàn Mạc
Tử. Mặt khác, nó cũng cho ta thấy được sự độc đáo trong các sáng tác thơ Hàn
Mạc Tử mà những tác phẩm đó được đánh giá là “có một không hai” trong
làng thơ Việt Nam.
Từ trước tới nay đã có rất nhiều công trình, những cuộc hội thảo nghiên
cứu, phê bình thơ Hàn Mạc Tử. Tuy nhiên, trong phạm vi khảo sát tư liệu
sách, báo, tạp chí cho đến Bài tập lớn, Tiểu luận, Khóa luận ở trường Đại học
Sư phạm tôi chưa thấy công trình nào nghiên cứu sâu tác phẩm này dưới góc
nhìn liên văn bản. Việc nghiên cứu thơ Hàn Mạc Tử từ góc nhìn liên văn bản
là một hướng giải mã mới, phù hợp với xu thế nghiên cứu văn học hậu hiên
đại, là một phương thức tiếp cận tác phẩm đầy tiềm năng và thích ứng với mọi
văn bản nghệ thuật. Xuất phát từ những lý do trên tôi chọn đề tài: Tính liên
văn bản trong thơ Hàn Mạc Tử.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết liên văn bản
Liên văn bản là một lý thuyết được giới nghiên cứu phê bình phương
Tây rất quan tâm và không còn xa lạ gì với họ. Đây là thuật ngữ do nhà lý
luận hậu cấu trúc người Pháp gốc Bungari, Julia Kristeva đề xuất và xuất hiện
chính thức vào năm 1967. Đã có hàng loạt công trình chính thức xác lập cho
nó vị trí quan trọng trong hệ thống các lý thuyết nghiên cứu văn học như:
Palimpsestes: la litérature au second desgré (1982) của Gérand Genette,
Intertextuality - The New critical Idiom (2000) của Graham Allen,
Quốc); Bài Khoảng trống văn chương và tiếp cận liên văn bản của Nguyễn
Nam đăng trên Tạp chí văn học tháng 4 năm 2004, … Ngoài ra còn có các
công trình khóa luận của trường ĐHSP Huế, ví dụ: Tiểu thuyết Nỗi buồn
chiến tranh nhìn từ lí thuyết liên văn bản (Phạm Thị Thanh Hoa), Liên văn
bản trong tiểu thuyết Thoạt kì thủy của Nguyễn Bình Phương (Hà Thị Lan
Hương), Tên của đóa hồng của Umberto từ góc nhìn liên văn bản (Lê Thị
3
Bích Thủy),…Có thể khẳng định, việc giới thiệu, nghiên cứu lí thuyết và vận
dụng tiếp cận liên văn bản cho đến nay đã đạt những thành tựu nhất định, góp
phần vào đổi mới nghiên cứu phê bình văn học ở nước ta.
2.2. Về thơ Hàn Mạc Tử
Về thơ Hàn Mạc Tử, từ trước đến nay có rất nhiều công trình nghiên
cứu: Hàn Mạc Tử về tác giả và tác phẩm NXB GD, 2003, Phan Cư Đệ tuyển
chọn; Đôi nét về thi pháp Hàn Mạc Tử của Phan Cư Đệ [6, tr.27]; Hàn Mạc
Tử - Một hồn thơ lạ mà rất quen Hà Minh Đức [6, tr.217]; Hàn Mạc Tử một
tư duy thơ độc đáo - Đỗ Lai Thúy [26, tr.217]; Hàn Mạc Tử: trăng và thơ-
Đào Trường Phúc [6, tr.507]; Đặc trưng của hồn thơ Hàn Mạc Tử - Phùng
Quý Nhâm [6, tr.524], Hàn Mạc Tử- một hiện tượng độc đáo của thi ca Việt
Nam thế kỉ XX - Bích Thu [6, tr.528]; Đôi điều suy nghĩ về đề tài trăng trong
thơ Hàn Mạc Tử - Nguyễn Toàn Thắng [4, tr.580]; Hàn Mạc Tử- sự tích hợp
kì lạ - Mã Giang Lân [6, tr.307]; Nỗi khắc khoải siêu hình trong thơ Hàn Mạc
Tử - Nguyễn Xuân Hoàng [6, tr.348]; Kinh nghiệm thơ và hành trình tinh
thần của Hàn Mạc Tử - Võ Long Tệ [6, tr.377]; Khí chất người miền Trung
và nhà thơ Hàn Mạc Tử - Lại Nguyên Ân [6, tr.543]; Thơ Điên - Hàn Mạc Tử
- thi học của cái tột cùng - Chu Văn Sơn [6, tr.553]; Một số dấu hiệu ảnh
hưởng thơ Pháp trong thơ Hàn Mạc Tử - Đào Trọng Thức [6, tr.573]; Cõi
mộng - cõi ảo trong quan niệm của Hàn Mạc Tử về thi ca - Cao Xuân Thử [6,
tr.596]; Con mắt tâm linh văn hóa phương Đông trong thơ Hàn Mạc Tử -
Đoàn Thị Đặng Hương[6, tr.670]; Ảnh hưởng của đạo Phật trong thơ Hàn
Mạc Tử - Quách Tấn; Cảm hứng và chất liệu tôn giáo trong thơ Hàn Mạc Tử
Phương pháp tiếp cận liên văn bản: Xem xét hệ thống hình tượng, thủ
pháp, ngôn ngữ, biểu tượng, ý nghĩa…trong thơ Hàn Mạc Tử từ góc độ quan
hệ trùng lặp, tái sinh, dẫn dụ, trầm tích các văn bản văn hóa và các vết tích
liên văn bản khác.
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng các thao tác phân tích và tổng hợp,
thống kê…trong quá trình thực hiện đề tài.
5
5. Đóng góp của khóa luận
Qua cách tiếp cận liên văn bản giúp người đọc nắm bắt được tư duy nghệ
thuật, phong cách nghệ thuật thơ Hàn Mạc Tử từ các góc độ hình tượng, bút
pháp nghệ thuật, ngôn ngữ, thể loại, phương cách dẫn dụ các văn bản tôn giáo,
văn hóa. Nói cách khác, thông qua việc tiếp cận liên văn bản thơ Hàn Mạc Tử
giúp ta thấy được nội dung tư tưởng xuyên suốt hành trình thơ của anh trong
dòng chảy thi ca dân tộc và nhân loại…Đề tài góp phần khẳng định tài năng
của Hàn Mạc Tử - một tư duy thơ và phong cách nghệ thuật độc đáo - một
Người thơ tiêu biểu trong làng thơ Việt Nam.
6. Cấu trúc của khóa luận
Đề tài được cấu trúc thành 3 phần: mở đầu, nội dung, kết luận. Phần nội
dung gồm 3chương:
Chương 1: Tính liên văn bản trong thơ Hàn Mạc Tử nhìn từ góc độ trùng
lặp và tái sinh hình tượng
Chương 2: Tính liên văn bản trong thơ Hàn Mạc Tử nhìn từ góc độ thủ
pháp nghệ thuật, sự pha trộn thể loại, kí ức ngôn ngữ và sự tái sinh của các
cụm từ cố định
Chương 3: Tính liên văn bản trong thơ Hàn Mạc Tử từ góc độ biểu tượng
và dẫn dụ văn bản, dẫn dụ thuật ngữ, quan niệm tôn giáo
6
B. NỘI DUNG
GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM LIÊN VĂN BẢN
Liên văn bản (Intertext/ Intertextuality) là một trong những thuật ngữ
mình với văn cảnh người”. Với tư cách là một kiểu lời nói, tác phẩm văn học
tất yếu có quan hệ đối thoại với những tác phẩm khác ra đời trước đó và mời
gọi sự đối thoại ở những tác phẩm ra đời sau nó. Ông cũng cho rằng: “không
có vật thể nào vô danh, cũng không có từ nào không được sử dụng rồi”, không
từ nào còn “trinh nguyên” khi lần đầu tiên được vang lên, được gán nghĩa.
Mỗi từ ngữ, mỗi lời nói đều có quá khứ, kí ức, sức ỳ, vết tích riêng được tạo
nên bởi những từ ngữ và lời nói khác, bởi những cách dùng trước đó” [dẫn
theo Nguyễn Văn Thuấn, Dẫn luận lí thuyết liên văn bản]. Như vậy, liên văn
bản là sự tương tác giữa các văn bản với nhau, một văn bản được dẫn dụ từ
nhiều ý tưởng của văn bản trước đó. Trong một khung cảnh văn bản có nhiều
thông tin được vay mượn “từ những tiền văn bản”, ở đó chúng tự “đối thoại’
và “đáp ứng” lẫn nhau. Mối quan hệ liên văn bản của các văn bản nằm trong
mạng lưới từ cấp độ vi mô đến vĩ mô: kí ức ngôn ngữ, sự biến tấu và tái sinh
các thủ pháp, mô-tip, hình tượng, sự mô phỏng, giễu nhại, nhại, vay mượn,
trích dẫn, chuyển thể, chuyển dịch, biến đổi, ảnh hưởng, đọc sai, ám chỉ, đạo
văn, pha trộn thể loại, …
Đồng thời, khi đặt ra tính liên văn bản, các nhà lí luận cũng đã lần lượt
tuyên cáo “cái chết của chủ thể/ tác giả”. Barthes chỉ ra rằng, khi tác giả được
đẩy lên địa vị “Thượng đế”, nó trở nên có tầm quan trọng đặc biệt, được hưởng
vinh quang của người sáng tạo và ngược lại dễ thành nạn nhân, bị quy chụp, kết
án bởi độc giả và nhà phê bình. Theo Barthes, việc gán cho văn bản tên tác giả
là “áp đặt cho văn bản ấy một giới hạn, là trang bị cho văn bản một ý nghĩa sau
cùng, là khép lại sự viết”. Ông chống lại vai trò Thượng đế của tác giả và cho
rằng trong các văn bản hiện đại tác giả vắng mặt. “Tác giả chẳng qua chỉ là chủ
thể của hành động viết”, hệt như “tôi” chẳng qua là kẻ thốt lên “tôi”.
8
“Một khi Tác giả - Thượng đế (Author- God) đã chết, văn bản trở thành
một không gian đa chiều kích, trong đó: “nhiều lối viết khác nhau cùng hòa
trộn và đụng độ, không lối viết nào hoàn toàn mới mẻ”, “văn bản được làm
nên từ nhiều lối viết, xuất phát từ nhiều nền tảng văn hóa khác biệt; được đưa
tồn tại trong triết học, tôn giáo và văn hóa Bởi lẽ đó, R.Barthes cho rằng,
trong bối cảnh ngày nay, “mọi thứ đều ngờ ngợ như đã được đọc/được viết ở
đâu đó rồi”. Trước đó, các nhà Hình thức luận Nga cũng viết: “Hình tượng hầu
như vẫn cố định; từ thế kỉ này sang thế kỉ khác, từ miền này sang miền khác, từ
nhà thơ này sang nhà thơ khác, các hình tượng này vẫn thế, không thay đổi. Các
hình tượng vừa “không của ai cả”, vừa là của “thần thánh”. Bạn càng biết rõ thời
đại mình, thì càng thấy rõ rằng những hình tượng mà bạn coi là của một nhà thơ
nào đó tạo ra, thật ra anh ta mượn từ những nhà thơ khác và chúng hầu như
không thay đổi” [dẫn theo Nguyễn Văn Thuấn, Liên văn bản trong quan niệm
của các nhà hình thức luận Nga, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 7/2012]. Từ
những gợi ý này, có thể thấy, thơ Hàn Mạc Tử có hệ thống hình tượng khá độc
đáo, đầy nhất quán nhưng hệ thống hình tượng ấy luôn có sự kế thừa, tái sinh,
trùng lặp các hình tượng cũ đồng thời có thêm những tầng nghĩa mới dưới
“nhãn quan” riêng của tác giả.
10
1.1.Sự trùng lặp và tái sinh hệ thống hình tượng cái tôi trong thơ
Hàn Mạc Tử
1.1.1. Cái tôi khao khát tình yêu
Tình yêu là nguồn cảm hứng sáng tạo bất tận của thi nhân. Từ xưa tới
nay đã có không ít nhà thơ thể hiện cái tôi khao khát tình yêu trong các sáng
tác của mình.
Ta biết đến một Hồ Xuân Hương đầy chất “ngông ngạo” nhưng luôn đau
đáu nỗi niềm tình duyên. Một con người đã từng nếm trải nỗi đau khổ tột độ
trên bước đường kiếm tìm hạnh phúc, luôn hoài vọng về một tình yêu vĩnh
viễn, đủ đầy nhưng toàn gặp trắc trở và khổ đau. Thơ bà bộc lộ hầu hết những
cung bậc, với những nỗi khát khao về một tình yêu trọn vẹn: “Quả cau nho
nhỏ miếng trầu hôi/ Này của Xuân Hương mới quệt rồi/ Có phải duyên nhau
thì thắm lại/ Đừng xanh như lá bạc như vôi” (Mời trầu). Bài Mời trầu đã thể
hiện khát khao cháy bỏng trong tình yêu của Hồ Xuân Hương. Bao giờ, lúc
nào, ở đâu và làm gì, bà cũng muốn khẳng định mình, cũng cố vươn lên trên
Trong “trường thơ Loạn”, cái tôi thể hiện những đối cực giữa khát khao
tình yêu và tuyệt vọng. Bích khê bước vào vườn tình ái với tất cả sự thèm muốn
rạo rực: “Anh tính ôm cầm lấy mắt mơ/ Lấy môi lấy má… lấy ngây thơ/ Để anh
nút ớn mùi hương ấm/ Của một tình yêu giận hững hờ” (Ảnh ấy- Tinh huyết).
Hay “Cho tôi nàng! cho tôi nàng! tất cả?… Tôi miên man uống lại mộng quỳnh
dao” (Tranh lõa thể). Khát khao yêu, đam mê đến cuồng vọng nhưng cuối cùng
thi nhân lại rơi vào hố sâu tuyệt vọng, tự tìm đến với nàng “ngọc nữ” trong
mộng. Với Chế Lan Viên, tình yêu trong thơ anh khi thì như con sóng ngầm có
lúc lại dâng trào mãnh liệt: “Khoan đã em, nép mình vào bóng lá/ Riết lấy anh
cho chặt kẻo hồn bay”. Thi sĩ bám riết lấy tình yêu để quên đi thực tại đau buồn
và tự ru mình bằng tình yêu mộng ảo cùng nàng Chiêm nương xinh đẹp của đất
nước Chiêm Thành nhưng tình yêu ấy rồi cũng nhanh chóng tuyệt vọng: “Lời
chưa dứt bóng đêm đã vụt biến/ Tình chưa nồng đã sắp phải phôi pha” (Đêm
tàn). “Khát khao để mà tuyệt vọng, tha thiết đến cuồng si để mà đớn đau đến rồ
12
dại, thi nhân thơ Loạn đã vượt qua ngưỡng bình thường mà vươn tới tình yêu
tuyệt đích: Hạnh phúc ngoài đời nhiều vẻ đẹp/ Em đừng bận bịu ái ân
xưa/ Lòng anh chẳng muốn cho em phải/ Lẻ tẻ chân trời bóng nhạn thưa (Bích
Khê)” [Dẫn theo Nguyễn Thị Quyên- Trường thơ Loạn những cái tôi đầy đỗi
cực]. Với Yến Lan, một thi sĩ cùng “trường Thơ Loạn”, người ta cho
rằng “Thơ Yến Lan không nằm ngoài qui luật đó. Nhưng thơ tình Yến Lan
với cái riêng trong phong cách đã cho ra đời nhiều bài thơ tuyệt tác” và nói
như Hoài Thanh “có cái không khí là lạ nhưng nhẹ nhàng dễ khiến người ta
thích”. Khác với Bích Khê, Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên trong thơ Yến Lan
thể hiện nỗi buồn ngậm ngùi về những cuộc tình dang dở và là nỗi khát khao
được yêu âm thầm mà mãnh liệt, thiết tha: “Em đi bờ bãi cũng theo đi/ Sóng
lặng trường giang trải phẳng lì/ Từ ấy lòng anh làm cố độ/ Câu thờ chờ đợi
hóa chòm si” (Cố độ). Hay “Em đi, ngày tháng biệt mùi tăm/ Kén đã luân sinh
mấy kiếp tằm”/ Một mảnh hồn ta còn đọng mãi/ Trên vành nong úa sắc thời
gian” (Mùa xuân này lạnh lắm em ơi). Với “tính cách hiền hòa, kín đáo và tế
Sóng xao mặt nước rung rinh
Lòng ta khát miếng chung tình từ lâu
Uống đi cho bớt khô hầu
Uống đi cho bớt cái sầu mênh mang [31, tr.71]
Trong Hàn luôn mang một nỗi day dứt: Không yêu làm sao sống! Và nhà
thơ nguyện cầu: Đến chết vẫn còn yêu. Nhưng có lẽ càng khát khao tình yêu
bao nhiêu, thi nhân lại càng chìm trong đau đớn, xót xa. “Một khối tình nức
nở giữa âm u/ Một hồn đau rã lần theo hương khói”. Trải qua những mối tình
với Mai Đình, Ngọc Sương, Hoàng Cúc, …đặc biệt là Mộng Cầm, Hàn lại
mang thêm những thương tổn: “Nghệ hỡi nghệ, muôn năm sầu thảm/ Nhớ
thương còn một nắm xương thôi/ Thân tàn ma dại đi rồi/ Rầu rầu nước mắt
bời bời ruột gan” [31, tr.102]. Nhưng dẫu cho có lúc tình yêu đã đẩy thi nhân
xuống vực thẳm tuyệt vọng, dẫu cho những đớn đau bệnh tật giày vò Hàn vẫn
14
bám riết lấy sự sống, bám lấy tình yêu, yêu và sống hết mình. “Trăm năm vẫn
một lòng yêu/ Và còn yêu nữa rất nhiều em ơi”.
Cũng giống như Hồ Xuân Hương, Xuân Diệu, Bích Khê, Chế Lan Viên,
Yến Lan cái tôi trong thơ Hàn cũng khao khát tình yêu đến say đắm, mãnh liệt
và gặp gỡ với một số nhà thơ ở sự pha trộn chất nhục cảm nhưng thơ Hàn cái
tôi ấy thể hiện ở cung bậc, trạng thái cao hơn, có lúc đến điên cuồng, mê dại.
1.1.2. Cái tôi cô đơn, đau đớn
Con người cô đơn - đau đớn là một mô-tip quen thuộc của thơ lãng mạn.
Trong bài Về cái buồn trong Thơ mới, Hoài Chân cho rằng: “Đúng là Thơ mới
buồn, buồn nhiều”, “Cái buồn của Thơ mới không phải là cái buồn ủy mị, bạc
nhược mà là cái buồn của những người có tâm huyết, đau buồn vì bị bế tắc
chưa tìm thấy lối ra”. Cái tôi trong Thơ mới trốn vào nhiều nẻo đường khác
nhau, ở đâu cũng thấy buồn và cô đơn. Phải thừa nhận rằng, nỗi buồn cô đơn
là cảm hứng của chủ nghĩa lãng mạn. Với các nhà Thơ mới, nỗi buồn ấy còn
là cách giải thoát tâm hồn, là niềm mong ước được trải lòng với đời và với
chính mình.
trở lại nữa làm chi?”. Khi thì trong hiện tại lạc lõng, là kẻ du khách “Ở Ngự
Viên mà nhớ Ngự Viên” (Dẫn theo Đỗ Lai Thúy, Con mắt thơ, tr113). Trong
thơ Nguyễn Bính luôn tồn tại mối sầu đô thị, cô đơn, lạc lõng giữa môi trường
sống. Và để giải thoát nỗi cô đơn, làm tan loãng nỗi sầu ấy, nhà thơ “phải
quay về với nông thôn như một đối cực”, tìm đến với những tương tư, mơ
mộng, chiêm bao. Và khi những thứ ấy đã hết, con người lại trở về với thực
tại, với buồn khổ và cô đơn đã trở nên đặc quánh và vón cục.
Gần với Hàn Mạc Tử nhất có lẽ là nhà thơ Chế Lan Viên - những nhà
thơ của “trường thơ Loạn” cô đơn, đau đớn có lúc đến điên cuồng: “Ngụp lặn
trong ánh vàng hỗn độn/ Cho trăng ghì, trăng riết cả làn da”. Rồi kêu lên:
“Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta?/ Ý của ai trào lên trong đáy óc/ Để bay đi theo
tiếng cười, điệu khóc?”. Một nỗi cô đơn, cô độc khôn cùng: “Đường về thu
trước xa lăm lắm/ Mà kẻ đi về chỉ một tôi!” . Trước thực tại đó thi nhân muốn
16
“trốn đời”, quên đi tất cả: “Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/ Một vì sao trơ
trọi cuối trời xa/ Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh/ Những ưu phiền, đau
khổ với buồn lo”. Khác với Hàn Mạc Tử - nỗi đau đời được diễn đạt bằng nỗi
đau người, một nỗi đau trải nghiệm của “ thịt da tôi sượng sần và tê điếng”,
“Chế Lan Viên nhức nhối một nỗi đau trí tuệ sâu sắc. Đó là cơn vật vã của suy
tưởng chiêm nghiệm về xác tín, về niềm tin, về sự tồn tại của con người trên
mặt đất và về cái Tôi bị vong thân giữa đời”.
Như vậy, con người cô đơn, đau đớn là một mô - típ quen thuộc của thơ
lãng mạn. Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính cô đơn vì không tìm
thấy sự chia sẻ, cảm thông của ngoại giới, đau đớn tinh thần giày xéo. Còn
Hàn Mặc Tử cô đơn vì bị cách ly khỏi thế giới: “Anh nằm ngoài sự thực/ Em
nằm trong chiêm bao”. Khoảng cách chia ly trong thơ anh không phải là sự
chia cắt trong một không gian giới hạn như: “ bên ấy”, “ bên này”, “ thôn
Đoài”, “ thôn Đông” mà là sự chia cắt trong hai không gian hoàn toàn cách
biệt “ngoài sự thực”, “trong chiêm bao”, “ngoài mây nước”, “bên kia trời”, …
Chính vì khoảng cách không gian vô cùng như vậy mà nỗi cô liêu của con
tinh thần cùng đau đớn thân xác chuyển hóa lẫn nhau. “Trời hỡi bao giờ tôi
chết đi / Bao giờ tôi hết được yêu vì / Bao giờ mặt nhật tan thành máu / Và
khối lòng tôi cứng tợ si / Tôi đang còn đây hay ở đâu / Ai đem tôi bỏ dưới trời
sâu / Sao bông phượng nở trong màu huyết / Nhỏ xuống lòng tôi những giọt
châu”[31,tr.111].
Có lẽ không có một người thơ nào trong phong trào Thơ mới nói riêng
và thi ca Việt Nam nói chung lại mang trong mình một nỗi đau thương quằn
quại về thân xác cũng như về tinh thần, bị dồn ép, tàn phá khốc liệt về mọi
phương diện như Hàn Mặc Tử.
Nỗi buồn, cô đơn là tâm trạng chung của nhiều thanh niên trí thức thời
bấy giờ, người ta gọi đó là “tâm bệnh của thời đại”. Nỗi buồn ấy thấm sâu vào
cảm quan nghệ thuật trở thành lý tưởng thẩm mỹ, chi phối hoạt động sáng tạo
của các nhà thơ lãng mạn. Nhưng khác với các nhà thơ cùng thời khác, Hàn
18
còn bị chi phối bởi căn bệnh của mình, phải cách ly với thế giới người, bị giày
vò về tinh thần và thân xác cho nên nỗi sầu, cô đơn, sự đau đớn trong thơ Hàn
biểu lộ đến cùng cực, anh tìm đến với những thế giới siêu nhân, hòa trộn, vùi
mình vào đấy.
1.2.Sự trùng lặp và tái sinh hệ thống hình tượng người phụ nữ trong
thơ Hàn Mạc Tử
Trong thơ văn dân tộc, hình tượng người phụ nữ đã trở nên quen thuộc,
trở thành cảm hứng sáng tạo của biết bao thi sĩ. Trong văn học trung đại, có
rất nhiều áng văn viết về những hình tượng này đã trở nên bất hủ như Cung
oán ngâm, Chinh phụ ngâm, Truyện Kiều, … Đến với Thơ mới hình tượng
người phụ nữ rất thi vị, đầy mới mẻ so với giai đoạn văn học trước đó. Cụ thể
là hình tượng người con gái quê duyên dáng và hình tượng người phụ nữ lả
lơi. Như vậy, chúng ta thấy hình tượng người phụ nữ không hề mới, nó là yếu
tố lặp lại có sự kế thừa nhưng mỗi nhà văn lại có cách sử dụng, tái sinh, tạo ra
nét riêng không giống ai. Hình tượng người phụ nữ trong thơ Hàn Mạc Tử là
sự minh chứng cho điều đó.
trái tim các cô thôn nữ vang trên đồi giữa thiên nhiên, lan toả vào đất trời,
vọng trong không gian tự do, khoáng đạt mang nhiều cung bậc. Tiếng hát ấy
là tiếng lòng của tuổi trẻ với nhiều ẩn ý sâu sắc nhưng không giấu được vẻ
ngây thơ, trong sáng. Và từ hình ảnh những cô thôn nữ ấy bất giác thi sĩ lại
nhớ về “người chị” của mình “Chị ấy năm nay còn gánh thóc/ Dọc bờ sông
trắng nắng chang chang”. Quả thật, người con gái - người chị thi nhân hiện ra
trong khung cảnh lao động vất vả nhưng đầy thi vị. Trong tập Gái quê, hình
ảnh những cô gái tuổi niên thiếu được nhà thơ khắc họa rất đẹp, dào dạt tình
xuân và đầy duyên dáng:
Từ khi đôi má đỏ hây hây
Em tập thêu thùa, tập vá may
Chim sáo trước sân bay tới đậu
Em mừng: sắp được lấy chồng đây [31, tr.73]
20
Hay:
Xuân em hơ hớ như đào non
Chàng đã thương thương muốn kết hôn
Từ ấy xuân em càng chín ửng
Ngày ngày giặt lụa bên sông con [31, tr.72]
Có một sự vận động trong thơ Hàn so với thơ ca truyền thống, hình
tượng những người con gái quê không chỉ mộc mạc, e ấp, duyên dáng mà còn
mang vẻ đẹp nhục thể của lứa tuổi đang độ căng tròn nhất. Trong bài Nụ cười
Tử đã miêu tả đầy tinh tế: “Một nường con gái trông xinh xinh” với “Ống
quần vo xắn lên đầu gối”, “Da thịt”, “trắng rợn mình”. Những cô gái ấy
mang vẻ đẹp ngây thơ nhưng đầy lẳng lơ: “Cô gái ngây thơ nhìn xuống hồ/
Nước trong nổi bật hình dung cô/ Nụ cười dưới ấy và trên ấy/ Không hẹn
đồng nhau nở lẳng lơ” [31, tr.63]. Những cô gái quê ngây thơ không ý thức
được vẻ đẹp của mình - một vẻ đẹp xuân tình, “lẳng lơ tự phát”: “Tôi cũng
trông thấy người tôi yêu/ Ngồi cạnh suối trong cởi yếm đào/ Len lén đưa tay
vốc nước rửa/ Trong khi cành trúc động và xao” [31, tr.70]. Đúng vậy, hình
đôi dòng suối sữa trắng như tinh” (Sắc đẹp). Trong thơ Baudelaire- bậc thầy
thi ca của nhiều nhà Thơ mới, hình tượng người phụ nữ được miêu tả với vẻ
đẹp đầy nhục cảm qua bài Nàng khổng lồ với “thân thể nở hoa”, “Với những
dải sương ẩm ướt bơi trong mắt”, “Thoải mái dạo khắp những hình thù mỹ
miều của nàng/ Trườn bò trên sườn dốc của hai đầu gối kếch xù”, và đôi khi
“Khiến nàng mệt mỏi nằm xoài trên cánh đồng/ Thì tôi ngủ biếng lười dưới
bóng đôi bầu vú”. Có thể nói, nhiều góc độ khác nhau trong cảm hứng về cái
đẹp nhục thể của hình tượng người phụ nữ lả lơi đã trở đi trở lại trong thi ca
dân tộc và nhân loại.
Trong thơ Hàn Mạc Tử, những người con gái quê mộc mạc nhưng cũng
rất lả lơi, đậm vẻ xuân tình như chúng tôi đã nói ở trên. Đó là những người
phụ nữ rất đẹp, rào rạt sức sống: “Tôi hằng muốn thấy người tôi yêu/ Nhơ
22
nhởn đồi thông lúc xế chiều/ Để ngực phập phồng cho gió rỡn/ Đưa tay hứng
lấy tình thanh cao” [31, tr.69]. Ngoài ra, hình tượng người phụ nữ lả lơi được
thể hiện thông qua hình tượng trăng: “Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm/ Lộ
cái khuôn vàng dưới đáy khe/ Vô tình để gió hôn lên má/ Em sợ lang quân em
biết được/ Nghi ngờ tới cái tiết trinh em” [31, tr.68]. “Bóng Hằng trong chén
ngả nghiêng/ Lả lơi tắm mát làm duyên gợi tình” [31, tr.71].
Hình tượng người phụ nữ lả lơi trong thơ Hàn Mạc Tử có sự kế thừa từ
Hồ Xuân Hương, rất gần với Bích Khê, Baudelaire nhưng thi sĩ vẫn có sự sáng
tạo riêng, tái sinh thêm những nét nghĩa mới cho hình tượng này tạo nên sự độc
đáo trong thế giới nghệ thuật thi ca. Cụ thể, nét mới trong thơ Hàn Mạc Tử ta
thấy hình tượng người phụ nữ lả lơi nổi bật ở đây là những cô nàng thiếu nữ
tuổi vừa lớn ngây thơ, trong sáng, đầy thuần khiết, phải chăng qua đó thể hiện
sự khao khát tình yêu đầy thanh cao, trong trẻo của thi sĩ, đặc biệt hình tượng
người phụ nữ lả lơi còn được miêu tả qua các khách thể như trăng, gió.
1.3.Sự trùng lặp và tái sinh hệ thống hình tượng không- thời gian
trong thơ Hàn Mạc Tử
Trong thơ Hàn, có một sự kết hợp rất độc đáo quan niệm không - thời