Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hải Lý
Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Hàn Mặc Tử là một gơng mặt thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Từ
trớc đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về Hàn Mặc Tử với những
đánh giá khác nhau, thậm chí trái ngợc nhau. Thế nhng đến nay câu hỏi Hàn
Mặc Tử anh là ai? vẫn cha đợc trả lời một cách đầy đủ, thấu đáo. Thơ Hàn
Mặc Tử đã đợc nghiên cứu ở nhiều phơng diện khác nhau, ở đây chúng tôi sẽ
đi sâu tìm hiểu vấn đề: "Cảm hứng tình yêu và cảm hứng tôn giáo trong thơ
Hàn Mặc Tử". Đây là một vấn đề không mới, thế nhng đồng thời cha đợc
quan tâm nghiên cứu một cách đúng mức. Vì vậy, với khoá luận này chúng tôi
hy vọng xây dựng một cách cơ bản, khái quát một hệ thống luận điểm để làm
rõ thêm vấn đề và giải đáp câu hỏi Hàn Mặc Tử anh là ai?, đồng thời nhằm
hiểu rõ đặc điểm của cái tôi trữ tình và hệ thống hình tợng thế giới trong thơ
Hàn Mặc Tử. Từ đó nhằm chỉ ra điểm chung, điểm độc đáo của cái tôi Hàn
Mặc Tử trong cái tôi Thơ mới nói chung.
2. Lịch sử vấn đề
Lịch sử nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử đã trải qua hai phần ba thế kỷ. Tìm
hiểu thơ Hàn Mặc Tử có hàng trăm công trình lớn nhỏ. Có thể chia quá trình
nghiên cứu Hàn Mặc Tử thành ba thời kỳ sau:
2.1. Thời kỳ trớc cách mạng tháng tám năm 1945
Năm 1940 Hàn Mặc Tử qua đời tại trại phong Quy Hoà. Thời gian sau
khi ông mất ngời ta nói nhiều về ông. Công trình đầu tiên phải kể đến là Hàn
Mặc Tử thân thế và thi văn (1941) của Trần Thanh Mại công trình này Trần
Thanh Mại đi sâu phân tích từng cử chỉ, tính tình của thi sĩ; từng giai đoạn
trong cuộc đời và xem đó là những nhân tố ảnh hởng đến sáng tác của Hàn
Mặc Tử. Mặt khác, tác giả còn nhấn mạnh yếu tố quê hơng, những giai thoại
tình yêu và đặc biệt là ảnh hởng của bệnh phong để từ đó giải thích tài năng,
trong việc chiếm lĩnh giá trị thơ Hàn Mặc Tử. Vấn đề tôn giáo, họ có đề cập
và đa ra một số nhận định tiêu biểu nh Hàn Mặc Tử đã dựng riêng một ngôi
đền để thờ chúa [23; 200]. Tuy nhiên, ở công trình này vấn đề cảm hứng tình
yêu, tôn giáo không đợc tìm hiểu, nghiên cứu một cách chuyên sâu.
Tiếp đến Vũ Ngọc Phan, trong công trình Nhà văn hiện đại (1942) tiếp
tục đi vào khám phá những khía cạnh xung quanh cảm hứng tình yêu, tôn giáo
trong thơ Hàn Mặc Tử. Trong công trình này, Vũ Ngọc Phan đã dung hoà kiểu
phê bình khách quan của Trần Thanh Mại và kiểu phê bình ấn tợng chủ quan
của Hoài Thanh, Hoài Chân. Vũ Ngọc Phan cho rằng ngời ta thấy bệnh
phong đã ảnh hởng đến t tởng Hàn Mặc Tử nh thế nào [19; 163]. Khi đề cập
vấn đề tình yêu ông nói cái quan niệm về tình yêu của Hàn Mặc Tử không đợc thanh cao nh của Thế Lữ [19; 157], còn khi viết về tôn giáo trong thơ Tử
theo ông Hàn Mặc Tử là ngời Việt Nam đầu tiên ca ngợi thánh nữ Đồng trinh
Maria và chúa Giêsu bằng thơ trớc nhất và là ngời ca tụng chúa với một
giọng rất chân thành chẳng khác nào một thi sĩ Âu Tây [19; 165]. Với công
trình này, Vũ Ngọc Phan vẫn nhìn nhận ở mức độ tác phẩm nhỏ lẻ, cụ thể mà
cha đi sâu tìm hiểu một cách hệ thống, khái quát.
Ngoài ba công trình nghiên cứu trên còn có một số công trình khác dới
dạng bài báo nh: Hàn Mặc Tử (Bích Khê), Những kỷ niệm về Hàn Mặc Tử
2
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hải Lý
(Chế Lan Viên), Thơ Hàn Mặc Tử (Trọng Miên), Những kỷ niệm về Hàn Mặc
Tử (Trần Thanh Địch), Thơ của ngời (Xuân Diệu). Nhìn chung, các bài báo
viết về Hàn Mặc Tử đều bày tỏ niềm xót thơng trớc những bất hạnh đồng thời
thể hiện sự ngợi ca khẳng định tài năng của thi nhân: Mai sau những cái tầm
thờng, mực thớc kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này chút gì đáng
3
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hải Lý
Với công trình Kinh nghiệm thơ và hành trình tinh thần của Hàn Mặc
Tử của Võ Long Tê (Tập san B.S.E.I 1972) đã viết: Ngời tín hữu công giáo ấy
về sau khi đã đi trọn đoạn đờng đau thơng và có một nhận thức do ân sủng
thúc đẩy mới trở thành một nhà thơ công giáo.
Sau ba công trình tiêu biểu trên phải kể đến công trình ảnh hởng đạo
Phật trong thơ Hàn Mặc Tử của Quách Tấn. Quách Tấn cho rằng thơ Hàn
Mặc Tử có nhiều bài ảnh hởng cả hình thức lẫn tinh thần Phật giáo. Ông viết:
Tử tìm đạo, vào đạo - đạo Thiên Chúa cũng nh đạo Phật chỉ để tìm nguồn
cảm hứng tìm nguồn an ủi khi bị tình đời phụ rẫy hoặc thể xác dày vò.
Nh vậy, có thể thấy rằng giai đoạn này các nhà nghiên cứu đã tiếp cận
thơ Hàn Mặc Tử ở một góc nhìn mới, góc nhìn tôn giáo. Còn ở phơng diện tình
yêu trong thơ Hàn Mặc Tử thì có rất ít công trình nghiên cứu. Tuy vậy, có thể kể
đến một số công trình tiêu biểu nh: Hàn Mặc Tử và Quách Thoại của Thế
Phong (1961). ở công trình này, Thế Phong đã đa những giai thoại tình yêu,
những mối tình, những Nàng thơ để minh chứng cho câu chuyện tình yêu trong
thơ Hàn Mặc Tử. Có thể thấy ngay rằng ở công trình này ngời nghiên cứu cha
chú ý đến vấn đề tình yêu ở phơng diện cảm hứng, sáng tạo. Ngoài ra còn một
số công trình khác gián tiếp hoặc trực tiếp đề cập đến phơng diện tình yêu nh:
Đôi nét về Hàn Mặc Tử của Quách Tấn (tạp chí Văn 1/1967), Hàn Mặc Tử, đau
thơng và sáng tạo của Nguyễn Kim Chơng (Văn học số 20, 1974).
Tóm lại, chúng ta thấy rằng thơ và đời Hàn Mặc Tử đợc nói đến khá
nhiều trong giai đoạn này. Nhng dờng nh càng khám phá thì ngời nghiên cứu,
ngời yêu thơ Hàn Mặc Tử lại thấy mình rơi vào một vờn thơ đầy bí hiểm mà
Tình yêu của Hàn Mặc Tử của Nguyễn Viết Lãm (Nhà xuất bản văn học
1997), Hàn Mặc Tử và những nàng thơ của anh của Trần Thanh Địch (Báo
văn nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh, 1995), Phan Thiết và sáu Xuân nữ Hàn
Mặc Tử yêu của Phạm Xuân Tuyển (1995), Ngời tình trong mộng của Hàn
Mặc Tử ở Quy Hòa của Nguyễn Thụy Kha (1993). Chúng ta thấy rằng sau
năm 1986 thơ Hàn Mặc Tử đợc nhìn nhận, đánh giá ở nhiều phơng diện hơn
với những hớng tìm tòi mới. Vấn đề tình yêu, tôn giáo đợc nghiên cứu nhiều
nhng xem ra những ngời nghiên cứu còn quá áp đặt, phụ thuộc vào quá nhiều
ở những giai thoại, những mối tình của Hàn Mặc Tử ở ngoài đời. Từ đó mà ít
đi sâu tìm hiểu trong văn bản trong mạch cấu trúc nội tại của tác phẩm thơ
Hàn Mặc Tử.
Tóm lại, tròn 65 năm qua (kể từ ngày mất của Hàn Mặc Tử) thơ Hàn
Mặc Tử đã khuấy động không khí phê bình văn học ở nớc ta. Đến nay Hàn
Mặc Tử vẫn là một hiện tợng lạ trong bầu trời thơ Việt Nam và dĩ nhiên vẫn
thử thách ngời nghiên cứu phê bình chiếm lĩnh, tìm hiểu.
Trên đây là sơ lợc về quá trình nghiên cứu thơ Hàn Mặc Tử. Vấn đề
Cảm hứng tình yêu và tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử cha đợc đề cập một
cách thấu đáo. Trên cơ sở tiếp thu những công trình nghiên cứu kể trên và dựa
vào vốn hiểu biết, cảm nhận của chúng tôi về Hàn Mặc Tử chúng tôi sẽ đi sâu
nghiên cứu vấn đề này một cách có hệ thống, toàn diện hơn.
3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của đề tài khoá luận này là: Cảm hứng tình yêu và
cảm hứng tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử.
3.2. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Khoá luận đi sâu tìm hiểu cảm hứng tình yêu và cảm hứng tôn giáo
5
Khoá luận tốt nghiệp
đồng thời sử dụng các phơng pháp khác nh: Thống kê, phân tích - tổng hợp,
đối chiếu, so sánh để tìm hiểu vấn đề.
6. Đóng góp của khoá luận
Có thể xem khoá luận là công trình có tính chất đầu tiên đi sâu tìm hiểu
vấn đề cảm hứng tình yêu, tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử một cách hệ thống,
toàn diện.
7. Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận khoá luận gồm ba chơng
Chơng I: Nhìn chung về cảm hứng tình yêu và cảm hứng tôn giáo
6
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hải Lý
trong thơ Hàn Mặc Tử
Chơng II: Cảm hứng tình yêu trong thơ Hàn Mặc Tử
Chơng III: Cảm hứng tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử
7
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hải Lý
Nội dung
Chơng I: Nhìn chung về cảm hứng tình yêu và cảm
hứng tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử
cánh cho cái tôi bơ vơ cô độc của mình. Bên cạnh đặc trng này chúng ta cần lu
ý một trong những dạng thức đặc biệt của cái tôi trữ tình là sự thống nhất giữa
thi nhân và tín đồ. Cái tôi ở đây có niềm tin tôn giáo và họ phản ánh đời sống
bằng kiểu t duy khác với t duy thông thờng, đó là t duy tôn giáo. Vì thế, nhà
thơ lãng mạn vừa là thi nhân vừa là ngời sùng đạo. Tôn giáo trở thành đối tợng
cho những sáng tạo nghệ thuật.
Tóm lại, cảm hứng tình yêu và cảm hứng tôn giáo là hai phơng diện, hai
nội dung chính mà cái tôi lãng mạn hớng đến. Tìm hiểu hai phơng diện này
chúng ta phần nào định hình đợc đặc trng của hồn thơ lãng mạn.
1.2. Nhìn chung về cảm hứng tình yêu và tôn giáo trong Thơ mới 1932
1945
Thơ mới 1932 1945 là một phong trào thơ ca hội tụ nhiều cây bút,
nhiều phong cách khác nhau. Đến với Thơ mới chúng ta thấy xuyên suốt ở đó
9
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hải Lý
là ba nguồn cảm hứng chủ đạo: thiên nhiên, tình yêu, tôn giáo. Ba cảm hứng
này đã khơi nguồn cho những sáng tạo thơ ca độc đáo của các thi nhân.
Trong đó phải thấy rằng cảm hứng tình yêu là cảm hứng xuyên suốt sâu
đậm nhất trong phong trào Thơ mới. Cơ sở xuất hiện của nguồn cảm hứng này,
đó chính là sự xâm nhập của nền kinh tế t bản chủ nghĩa cộng với ảnh hởng
của văn hoá Phơng Tây đã đa đến sự ra đời của cái tôi cá nhân. Có thể nói hầu
hết các nhà thơ nổi tiếng của phong trào Thơ mới đều là các cây bút viết rất
hay về tình yêu, tiêu biểu nh: Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Lu Trọng
L, Hàn Mặc Tử Điểm chung của các nhà thơ khi viết về tình yêu là đều bộc
lộ một cái tôi chân thành, khát khao yêu và đợc yêu. Đó còn là một cái tôi
Nguyễn Thị Hải Lý
nguồn sống thiêng liêng nhất, là ớc ao của một con ngời khát khao sống, khát
khao yêu. Trong đoạn tựa tập "Thơ điên" Hàn Mặc Tử viết rằng: "Tôi đã sống
mãnh liệt và đầy đủ, sống bằng tim bằng phổi, bằng máu, bằng lệ bằng hồn.
Tôi đã phát triển hết cả cảm giác của tình yêu. Tôi đã vui, buồn, giận hờn đến
gần đứt sự sống". Thơ tình Hàn Mặc Tử là sự minh chứng cho cách sống đó,
cho hồn thơ đó.
Tóm lại, cùng với các nhà thơ mới khác thơ tình Hàn Mặc Tử đã góp
phần tạo nên diện mạo riêng cho phong trào Thơ mới. Đánh giá về điều này
Hà Minh Đức trong Một thời đại trong thi ca đã nhận định rằng: "Thơ tình của
họ là chứng tích của tuổi trẻ và một thời yêu đơng vẫn còn đó, không già đi
với thời gian và cũng không cũ trớc những đổi thay của cuộc đời [8; 120] Và
thơ Hàn Mặc Tử là một minh chứng tiêu biểu.
Bên cạnh cảm hứng tình yêu - cảm hứng xuyên suốt và sâu đậm nhất thì
cảm hứng tôn giáo cũng đóng vai trò quan trọng tạo nên diện mạo riêng cho
phong trào Thơ mới. Tuy nhiên cảm hứng tôn giáo chỉ tồn tại ở một vài hiện tợng cá biệt nh Chế Lan Viên, Huy Cận... Chỉ đến Hàn Mặc Tử, tôn giáo mới
trở thành một nguồn cảm hứng mãnh liệt góp phần tạo nên sự độc đáo trong
những sáng tác của ông.
1.3. Nhìn chung về cảm hứng tình yêu và cảm hứng tôn giáo trong thơ
Hàn Mặc Tử
Hàn Mặc Tử cũng giống với các nhà thơ trong phong trào Thơ mới đều
lấy tình yêu, thiên nhiên, tôn giáo làm cảm hứng cho những sáng tác của
mình. Nhng cảm hứng thơ của Hàn Mặc Tử cũng có những đặc điểm riêng.
Nhìn nhận một cách khái quát nhất cảm hứng tình yêu và cảm hứng tôn giáo
trong thơ Hàn Mặc Tử có những điểm nổi bật sau: Trớc tiên chúng ta phải
khẳng định rằng cảm hứng tình yêu và cảm hứng tôn giáo là hai nguồn cảm
hứng xuyên suốt, chủ đạo trong thơ Hàn Mặc Tử.
ở phơng diện cảm hứng tình yêu ta thấy ông vừa có những nét chung
Chơng 2: Cảm hứng tình yêu trong thơ
Hàn Mặc Tử
2.1. Cảm hứng tình yêu cảm hứng xuyên suốt thơ Hàn Mặc Tử
Nh chúng ta đã nói ở phần trớc cảm hứng tình yêu là một trong những
phơng diện chính của cảm hứng sáng tạo. Trong phong trào Thơ mới 1932
1945 thì đây là nguồn cảm hứng chủ đạo, mãnh liệt nhất. Với Hàn Mặc Tử
cũng vậy cảm hứng tình yêu là cảm hứng xuyên suốt, là nguồn thi hứng bất
tận của thi nhân. Từ tập thơ đầu tay Lệ Thanh thi tập đến các tập thơ Gái quê,
Đau thơng, Xuân nh ý, Thợng thanh khí, Cẩm châu duyên thi sĩ luôn lấy tình
yêu là nguồn cảm hứng cho mình. Tình yêu nh một dòng sông bất tận tơi mát
cho nguồn thơ ông. Tình yêu với Hàn Mặc Tử không đơn thuần là tình yêu đôi
lứa mà sâu sắc, xúc động hơn đó còn là tình đời, tình ngời. Trong cuộc đời
(dẫu rất ngắn ngủi) của mình dù vui, buồn, hạnh phúc, đau đớn, hy vọng, thất
vọng thì Hàn Mặc Tử luôn sống thực với mình. Thơ ông là tâm hồn ông, là
niềm vui khôn xiết, là nỗi đau khôn cùng của ông trớc cuộc đời.
Thơ tình Hàn Mặc Tử là thơ của một con ngời cô độc và đau thơng. Là
thơ của một con ngời luôn luôn theo đuổi một tình yêu vĩnh cửu, trinh khiết
nhng lại nhận về mình sự đau thơng tuyệt vọng. ở thơ Tử niềm hạnh phúc hay
nỗi khổ đau đều đợc đẩy đến mức tột cùng. Chúng nh hai thái cực đối nghịch
nhau nhng thực chất thống nhất trong hồn thơ lãng mạn Hàn Mặc Tử. Thơ viết
về tình yêu của Tử thờng đợc lấy cảm hứng từ những mối tình thực ngoài đời
(Hoàng Cúc, Mộng Cầm, Mai Đình ) nhng có khi đợc tác giả tởng tợng ra
(Ngọc Sơng, Thơng Thơng). Nhng có thể nói dù thực hay mộng thì đều bộc lộ
một cách chân thành, mãnh liệt nhất. Tình yêu vì vậy trở thành nguồn cảm
hứng xuyên suốt đời thơ của ông. Khi đọc thơ Tử chúng ta thấy ở đó luôn luôn
có sự vận động, biến đổi của hồn thơ qua mỗi chặng đờng thơ. Cụ thể là thông
qua các tập thơ của Tử từ Gái quê, Đau thơng, Xuân nh ý, Thợng thanh khí
đến Cẩm châu duyên Vì thế mà khi khám phá cảm hứng tình yêu trong thơ
Hàn Mặc Tử ngoài việc nhìn nhận một cách tổng thể chúng tôi còn đi vào tìm
bệnh tật quá sức chịu đựng đến mức tột cùng khiến thi nhân tìm đến chốn
chiêm bao ngoài sự thực để quên đi nỗi đau hiện hữu để đợc giải thoát? Nếu
vậy thì đó là nguyên nhân khiến Tử theo đuổi tình yêu một thứ tình yêu gần
nh ảo tởng. Dờng nh đó là cuộc tìm kiếm vô vọng của một con ngời luôn
muốn sống mãi với cõi đời này.
Suốt chặng đờng thơ của mình bao giờ thi sĩ cũng lấy tình yêu làm
nguồn thi hứng của mình. Đó có thể là tình yêu thực hoặc có thể là tình yêu
trọng mộng nhng thi nhân lúc nào cũng thiết tha, chân thành. Đọc thơ tình của
Tử chúng ta thấy đợc những bóng dáng khuynh thi đi vàơ đời thơ ông khá
nhiều. Đó chính là những ngời tình là đối tợng trực tiếp, là nguồn cảm
hứng sáng tạo của Tử đợc thi sĩ gọi bằng nhiều cái tên: em, nàng,
trăng và nhiều khi đợc tác giả gọi bằng tên thật: Hoàng Hoa, Lệ Kiều,
Nghệ, Ngọc Sơng, Thanh Huy, Thơng Thơng. Trong thơ Tử hình ảnh ngời tình
(hình ảnh em) lúc nào cũng đẹp và đợc thi nhân tạo ra với nhiều cung bậc
tình cảm khác nhau. Hình ảnh em lúc thì gần gũi, thân thiết lúc thì xa vời
nh ảo ảnh. Đó là hiện thân của niềm hạnh phúc nhng có khi là chứng tích của
nỗi đau đớn tột cùng của thi nhân trong tình yêu. Đọc thơ tình của Tử ta còn
thấy ở đó không gian tình yêu rất độc đáo. Nếu ở Gái quê là không gian của
làng quê yên bình thì đến Đau thơng không gian nhuốm màu đau thơng,
không gian của nỗi đau chia lìa tuyệt vọng. Không gian đó đến Xuân nh ý, Th14
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hải Lý
ợng thanh khí, Cẩm châu duyên trở thành không gian siêu thoát mang mầu sắc
tôn giáo. Nh vậy, không chỉ cái tôi trữ tình, hình tợng trữ tình mà không gian
trong thơ Hàn Mặc Tử luôn có sự vận động, biến chuyển. Sự biến chuyển, vận
động đó biểu hiện trong toàn bộ chặng đờng thơ và còn thể hiện ngay trong
vừa khao khát chiếm lĩnh tình yêu:
15
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hải Lý
Xuân trẻ xuân non xuân lịch sự
Tôi đều nhận thấy trên môi em
Làn môi mong mỏng tơi nh máu
Đã khiến môi tôi mấp máy thèm
Chủ thể tình yêu Hàn Mặc Tử không chỉ khao khát mà còn rộn rã yêu
thơng bởi ở mùa xuân, em xuất hiện:
Lá xuân sột soạt trong làn nắng
Ta ngỡ, em ơi, vạt áo hờng
Thứ áo ngày xuân em mới mặc
Lòng ta rộn rã nỗi yêu thơng
(Nắng tơi)
Không chỉ làn môi tơi trẻ mà chiếc áo mùa xuân đầy sức sống của em
cũng gợi cho thi sĩ sự khao khát đợc chiếm lĩnh tình yêu. Sau này trong bài
Mùa xuân chín thì hình ảnh tà áo biếc của cô thôn nữ lại một lần nữa trở lại
và trở thành một hình ảnh nghệ thuật đầy ý vị. Có thể nói cảm hứng tình yêu
trong Tử thời kỳ này xuất phát từ mối tình quê trong sáng, nhng không kém
phần thiết tha, rạo rực. Tuy nhiên, trong Gái quê tình yêu của Hàn Mặc Tử đợc
biểu hiện với nhiều cung bậc khác nhau. Có lúc sôi nổi, vồn vã có lúc lại mơ
màng, ngợng ngùng; có lúc xót xa và có lúc gần nh cuồng điên. Đúng vậy tình
yêu của Tử lúc thì vồn vã, quấn quýt nh muốn chiếm lĩnh thật mau thật nhanh:
Lòng ta dào dạt nh làn sóng
Trớc sân anh thơ thẩn
Đăm đắm trông nhạn về
Lòng anh dờng đê mê
Lòng xuân cũng não nề
(Tình quê)
Cảnh và tình ở đây dờng nh cũng đồng cảm với nhau. Bài thơ mang
phong vị Đờng thi nhng không vì thế mà cái tình ở đây kém phần ý vị. Mối
tình quê đó có lúc đợc đẩy đến mức xót xa:
Nghe tin em sắp lấy chồng
Anh cời đã lắm, anh buồn cũng ghê
(Em sắp lấy chồng)
Tử gửi gắm bao thiết tha, bao hy vọng của mình cho mối tình quê nhng
sự thực thật phũ phàng, phũ phàng đến xót đau:
Ngày mai tôi bỏ làm thi sĩ
Em lấy chồng rồi hết ớc mơ
Em "lấy chồng rồi em lỡ bớc sang ngang đã chấm dứt ớc mơ hy
vọng của một đời thi sĩ. ở đây, chúng ta không còn bắt gặp tình yêu ban đầu
sôi nổi, thiết tha mà ta bắt gặp một tình yêu chua xót, ngậm ngùi. Thiết tởng
sự phũ phàng kia sẽ giết chết tình yêu trong Tử, nhng ngợc lại dù bị phũ phàng
nhng trái tim Tử vẫn cuồng điên:
Đêm nay ta lại phát điên cuồng
Quên cả hổ ngơi, cả thẹn thuồng
(Tình thu)
Có thể nói Tử vẫn yêu, yêu một tình yêu tuyệt vọng. Nhng hơn hết Tử
hiểu ra cánh cửa hạnh phúc không đến với mình. Tử xót xa cho mình:
Ta lau nớc mắt, mắt không ráo
Ta lẩy tình nơng rửa biệt ly
17
yêu đơng nh con ngời vậy. Nhà thơ còn phát hiện ở trăng:
Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dới đáy khe
(Bẽn lẽn)
Chúng ta nhận thấy dù cái tình của Hàn Mặc Tử đợc gián tiếp bộc lộ
qua hình ảnh thiên nhiên nhng không vì thế mà kém phần rạo rực. Đúng nh
Hoài Thanh nhận xét: một thứ tình nồng nàn, lơi lả, rạo rực và đầy hình ảnh
khêu gợi (Thi nhân Việt Nam).
Có nhiều ngời cho rằng đây là những câu thơ đầy tính nhục thể nhng
theo tôi chúng không đơn thuần là nh vậy. Điều cơ bản là những câu thơ ấy đã
18
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hải Lý
nói lên sự táo bạo của Hàn Mặc Tử, nhng cái tài tình hơn ở Hàn Mặc Tử là
táo bạo đến đâu vẫn còn ý nhị, một lối suồng sã mà không sống sợng (Đức
tin trong Hàn Mặc Tử - Đặng Tiến). Cũng cần phải bàn thêm rằng đã có một
số ngời cho rằng những câu thơ trong bài Bẽn lẽn là dẫn chứng tiêu biểu cho
văn chơng tính dục - đó là những nhận định mà chúng ta cần nhìn nhận lại. Võ
Long Tê trong Kinh nghiệm thơ và hành trình tinh thần của Hàn Mặc Tử đã
rất đúng đắn khi lý giải rằng: Đây là một lối giải toả ẩn ức bằng ngôn từ chứ
không phải là văn chơng kích dục. Thiết nghĩ đây là cơ sở để chúng ta phần
nào lý giải thơ Hàn Mặc Tử và tránh đợc hiện tợng đồng nhất thơ Hàn Mặc Tử
với văn chơng kích dục.
Tóm lại, tình yêu trong Gái quê là tình yêu thiết tha, rạo rực có hy vọng
có thất vọng là tình yêu rất đời và rất ngời. Dù có nhiều ý kiến khác nhau
nhng tình yêu ấy cho chúng ta hiểu phần nào về con ngời và hồn thơ Hàn Mặc
nhau và ngợc lại gắn chặt, hoà vào nhau tạo nên một cái tôi Hàn Mặc Tử - đau
thơng và sáng tạo.
Tập thơ Đau thơng có 43 bài thơ đợc thi sĩ chia làm ba phần: phần một:
Hơng thơm, phần hai: Mật đắng, phần ba: Máu cuồng và hồn điên. Hoài
Thanh trong Thi nhân Việt Nam nhận xét: Hơng thơm ta bắt đầu bớc vào
một nơi ánh trăng, ánh nắng và cả ngời yêu đều muốn bớc ra hơng khói, một
trời tình ái mới dụng lên đâu. Đến Mật đắng: Thất vọng trong tình yêu
chuyện ấy trong thơ ta không thiếu gì nhng thờng là một thứ buồn sầu có thấm
thía vẫn dìu dịu. Chỉ trong thơ Hàn Mặc Tử mới thấy một nỗi đau thơng mãnh
liệt nh thế. Lời thơ nh dính máu. Máu cuồng và hồn điên: một ngời sợng
sần vì bệnh hoạn, điên cuồng vì quá đau khổ trong tình yêu
Những nhận xét đó phần nào giúp ta hình dung đợc cái tôi Hàn Mặc Tử
trong Đau thơng. Đến đây cảm hứng tình yêu không còn bắt nguồn từ những
mối tình quê trong sáng, thiết tha mà nó bắt nguồn từ nỗi đau đớn của thi
nhân. Đó là nỗi đau vì tình yêu không thành, là nỗi đau vì bệnh tật giày vò.
Tuy nhiên, chúng ta vẫn thấy trong Đau thơng, cụ thể là trong phần đầu Hơng thơm vẫn còn bóng dáng của một cái tôi rạo rực, đầy khát khao chiếm
lĩnh tình yêu. Cái tôi đó trớc vẻ đẹp của ngời thôn nữ, ngời thiếu nữ sột soạt
gió trêu tà áo biếc, bao cô thôn nữ hát trên đồi, Đêm nay trăng đứng tuổi/
Năm nay em dậy thì thì tự hỏi mình: Làm sao không quyến luyến (Sáng
trăng).
Và trớc vẻ đẹp của ngời đẹp Tây Thi Tây Thi nàng hỡi bao nhiêu tuổi /
Vẻ đẹp mê tơi vẫn nõn nà? thì trào dâng khát khao tình tự, ân ái. Thi sĩ say sa
vẻ đẹp:
Tôi yêu trời nguyệt bạch
Tôi say màu thanh thiên
Tôi ng ả thuyền quyên
ở trong pho tình sử
(Cao hứng)
Thi sĩ thiết tha cầu mong cho thời gian, không gian đừng luân chuyển:
Tôi lạy muôn vì tinh tú nhé
(Lu luyến)
thì thi sĩ Hàn Mặc Tử: Anh điên anh nói nh ngời dại
Van lạy không gian xoá những ngày
Nhà thơ muốn xoá nhoà không gian, thời gian, muốn thực tại tan biến
đi bởi lúc này là những chuỗi ngày đau đớn, phũ phàng nhất. Và có lẽ vì bệnh
tật, vì tình yêu không thành mà ở Hàn Mặc Tử bắt đầu xuất hiện mặc cảm chia
lìa, đó là việc thi sĩ tách mình ra ngoài cuộc sống:
Anh đứng cách xa hàng thế giới
Lặng nhìn trong mộng miệng em cời
(Lu luyến)
đồng thời nhận ra hoàn cảnh của mình ở đây sơng khói mờ nhân ảnh
(Đây thôn Vĩ Dạ).
Sang Mật đắng, Máu cuồng và hồn điên nỗi đau mới thể hiện một
cách rõ rệt và mãnh liệt hơn hết. Có thể nói đến đây nỗi đau vì tình yêu đã mất
cùng với sự giày vò của nỗi đau bệnh tật đã tạo nên một cái tôi đau thơng, một
cái tôi mang trong mình nỗi đau đớn tuyệt vọng hơn lúc nào hết. Nỗi đau đớn
21
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hải Lý
tuyệt vọng của nhà thơ trớc hết biểu hiện trong tình yêu. Nếu trớc đây Tử có
một tình yêu trong sáng thiết tha thì lúc này Tử nhận về cho mình sự dang dở,
chia lìa. Bây giờ với Tử chỉ có thực tại phũ phàng: Họ đã đi rồi khôn níu lại /
Tình thơng cha đã, mến cha ba và nỗi mất mát khôn nguôi:
Ngời đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ
Trớc thực tại đầy đau đớn đó Tử không rõ sự tồn tại của mình. Dờng nh
càng mãnh liệt. Vì vậy mà có ý kiến cho rằng ở thơ Tử càng đau đớn thì càng
mãnh liệt, càng mãnh liệt thì càng đau đớn. Tuy nhiên, nỗi đau thơng không
22
Khoá luận tốt nghiệp
Nguyễn Thị Hải Lý
giết chết linh hồn Tử, sự tuyệt vọng không giết niềm hy vọng trong Tử. Sự tột
cùng của Đau thơng chính là ở chỗ đó.
Quả thực trong Đau thơng không chỉ bộc lộ một cái tôi đau thơng mà
còn bộc lộ một cái tôi thiết tha yêu đời, mong muốn níu kéo sự sống. Dù bị
ngời tình phụ rẫy, dù chịu nỗi đau chia lìa Dẫu đau đớn vì lời phụ rẫy nhng
Hàn Mặc Tử vẫn:
Trăm năm vẫn một lòng yêu
Và còn yêu mãi rất nhiều em ơi
(Muôn năm sầu thảm)
Cái tôi đó chỉ biết đến hiện tại:
Chỉ biết có đôi ta là đang sống
Đang cho nhau ngọt ngào và đang mộng
Cố làm ngơ không biết đến thời gian
Đến bóng hoa tàn tạ với trăng ngàn
Đến những tình duyên chung quanh thất vọng
(Đôi ta)
và khắc khoải khôn nguôi:
Nhớ lắm lúc nh si nh dại
Nhớ làm sao bải hoải chân tay
Nhớ hàm răng, nhớ hàm răng
Mà ngày nào đó vẫn khăng khít nhiều
Cứ để ta ngất ng trong vũng huyết
Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh
(Rớm máu)
Nỗi đau thơng ấy là nỗi bất lực trớc cái chết của một con ngời khát
khao đợc sống, đợc yêu, là nỗi tuyệt vọng của một con ngời quằn quại trong
đau đớn thể xác, tinh thần. Dù biết trớc cái chết sẽ đến nhng Tử vẫn nặng lòng
với cuộc đời:
Ta còn trìu mến biết bao ngời
Vẻ đẹp xa hoa của một thời
Đầy lệ, đầy thơng, đầy tuyệt vọng
Ôi giờ hấp hối sắp chia phôi
(Trút linh hồn)
Dờng nh đây là lời trăn trối của một con ngời sắp đi vào cõi chết, là lời
từ biệt của một con chiên sắp lìa đời vừa xót xa, vừa bi thiết.
Nhng rồi Tử đau xót nhận ra thực tại của mình:
Ôi ngông cuồng! ôi rồ dại, rồ dại
Ta đi thuyền trên mặt nớc lòng ta
Ôi ngông cuồng! ôi rồ dại, rồ dại
Ta cắm thuyền chính giữa vũng hồn ta!
(Biển hồn ta)
và
Chao ôi! ghê quá trong t tởng
Một vũng cô liêu cũ vạn đời
(Cô liêu)
Đó là một thực tại cô đơn không còn nơi để bấu víu. Và phải chăng vì
nỗi đau đớn tột cùng đó, Hàn Mặc Tử đã phân thân thành hai nửa hồn/xác.
Trong Đau thơng đặc biệt trong Máu cuồng và hồn điên, hình ảnh hồn xuất
hiện nhiều lần trở thành một nỗi ám ảnh, một hình ảnh kỳ dị mang tính nghệ
thuật. Phải chăng sự phân thân đó là cách để ông thoát khỏi nỗi đau đớn tuyệt
vọng, là cách ông chống chọi với bệnh tật với nỗi đau tinh thần. Hay sự phân
Gió làm nên tội buổi chia phôi
(Một nửa trăng)
Hay:
Làm sao giết đợc ngời trong mộng
Để trả thù duyên kiếp phũ phàng
(Lang thang)
và cái tôi đó còn bộc lộ nỗi thiết tha yêu ngời
Tôi ng quá! Tôi ng nàng
Nàng xa xăm lắm, ơi nàng trăng ơi
(Ưng trăng)
Nàng hỡi nàng sao nàng cha thấy đến
Ngời tình của Tử bấy giờ không phải là Hoàng Cúc, Mộng Cầm, Mai
Đình hay bất kỳ ai cụ thể mà ngời tình lúc này là nàng trăng. Tình yêu của
Tử lúc này là tình yêu trong tởng tợng. Thi sĩ nh một ngời lãng du đi tìm tình
yêu trong cõi mơ.
25