TÌNH YÊU VÀ HOÀI NIỆM XỨ HUẾ TRONG TRUYỆN NGẮN QUẾ HƯƠNG doc - Pdf 12



121

TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, tập 72A, số 3, năm 2012 TÌNH YÊU VÀ HOÀI NIỆM XỨ HUẾ
TRONG TRUYỆN NGẮN QUẾ HƯƠNG
Lê Thị Minh Hiền

Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế

Tóm tắt. Trong rất nhiều sáng tác của mình, đặc biệt là truyện ngắn, Quế Hương
luôn dành phần lớn viết về tình yêu và những hoài niệm về xứ Huế - nơi lưu giữ
những kỷ niệm đẹp nhất một thời của chị. Truyện ngắn của Quế Hương là những
mảng hiện thực về tình yêu và những hoài niệm quá khứ được góp nhặt nâng niu từ
cuộc sống. Bằng vốn sống phong phú, và sự chiêm nghiệm sâu sắc về cuộc đời, đặc
biệt là về văn hóa, vùng đất xứ Huế, Quế Hương đã cắt nghĩa, lý giải đời sống tình
cảm con người theo sự cảm nhận tinh tế của một tâm hồn nhà văn nhạy cảm.
Bài viết cố gắng tập trung đi sâu phân tích, lý giải những đặc điểm truyện ngắn
của Quế Hương ở nội dung biểu hiện và phương thức nghệ thuật trên bình diện
Tình yêu và hoài niệm xứ Huế - một trong những đặc trưng nổi bật tạo nên cá tính
và phong cách trong sáng tác của Quế Hương.

Nhà văn Quế Hương (tên thật là Hoàng Thị Thương) sinh ra và lớn lên ở Huế,
hiện đang sống và làm việc tại Đà Nẵng. Yêu văn từ thuở còn là nữ sinh trường trung
học Đồng Khánh, lớn lên Quế Hương theo ngành văn, khoa Việt - Hán ở trường Đại học
Sư phạm Huế. Ra trường, Quế Hương dạy Việt Văn ở trường Trung học Thành Nội -
Huế, nhưng đến năm 1989 chị phải rời bỏ cái nghề yêu thích của mình vì lý do sức khỏe
và lui về với bộn bề việc nhà, đau ốm, những nỗi buồn xâm chiếm triền miên. Có lẽ

nghèo túng. Điều này thể hiện rõ trong truyện ngắn Quế Hương với việc nhà văn xây
dựng một thế giới đời thường với vô vàn những lo toan, trăn trở của những kiếp người.
Người đọc dễ dàng nhận thấy những trang văn của Quế Hương là những trang đời. Chị
trải lòng mình với vùng quê nghèo khó nhưng đầy ắp tình người; chị viết về xứ Huế yêu
thương với vô vàn cảm xúc từ ký ức của tuổi thơ hồn nhiên, trong trẻo (Một ngày ở biệt
thự Bát Nháo, Cô giáo Mim, Đám cưới cỏ); ở đó, những bức tranh vẽ những đời sống
xanh xao của những con người nhỏ bé, những thân phận cô đơn, lạc loài hay những kiếp
người nhỏ nhoi, cô đơn không chút đồng cảm (Tí bụi, Câu hát tìm nhau, Ả Ià âu?…) và
đó còn là những câu chuyện tình buồn khó có thể lãng quên (Tịnh Tâm viên, Chiếc lá
hình giọt lệ, Ngày nắng đầu tiên, Biển và Người, Cò gà, Cội mai lưu lạc, Đóa hoa
không gai và con cừu không rọ mõm…)
Nếu như các tác giả truyện ngắn đương đại cố gắng đào sâu và vén bức màn
hiện thực đang xoay chuyển xung quanh mình, cố phanh phui và “giải phẫu” những bức
bí, ngột ngạt trong tâm hồn và thể xác của con người hiện đại với khuynh hướng trần
tục hóa hiện thực cuộc sống thì Quế Hương lại đi theo một hướng hoàn toàn khác. Cảm
tưởng như "lạ hóa" không phải là yêu cầu tiên quyết trong văn chương của Quế Hương.
“Văn chương cần hay và mới, nhưng quan trọng hơn cả là sự cảm thông, đồng điệu.
Quế Hương viết văn như một sự sẻ chia, một nhu cầu tự thú. Văn của chị, theo đó,
không dung nạp những gì to tát, xa xôi, chỉ toàn những điều bé mọn. Vậy mà thế giới ấy
vẫn lột hiện biết bao hỉ- nộ -ái- ố của cuộc đời; nỗi da diết với các thân phận nhỏ bé vẫn
là nỗi day dứt chung cho kiếp người”[2].
Truyện ngắn của Quế Hương là những mảng hiện thực về tình yêu và những
hoài niệm quá khứ được góp nhặt nâng niu từng chút, từng chút một từ cuộc sống, mà
theo chị đó là những giấc mơ cuộc đời trên giấy. Ở đó, mọi thứ dù tầm thường nhất
cũng có thể “bay” bởi phép lạ ngôn từ, chiều sâu tư tưởng, khát vọng của người viết 123

“Dù lạc lõng tôi vẫn thích tạo ra thứ văn chương sâu thẳm, đầy ánh sáng nhân văn hơn

kiếp người trong cơn tuyệt vọng vẫn mang một niềm tin sống.
Thế giới này đẹp hơn là nhờ có tình yêu, cuộc đời mỗi người ấm áp hơn là vì họ
đang yêu; tình yêu là thiêng liêng, là điều kỳ diệu nhất mà thượng đế trao tặng cho con
người. Vậy mà những người phụ nữ trong truyện ngắn Quế Hương lại ít nhận được điều
ấy, họ thường cô đơn, lạc lõng với tình yêu của mình. Trần gian có mưa là hình ảnh một
người đàn bà cam chịu với cuộc sống ép buộc bên người chồng mà không hề có tình
yêu. Bà phải dối lòng mình để sống với bổn phận của một người vợ. “Khế đang mùa
hoa. Rụng đầy. Mẹ thích thế nên chỉ quét buổi chiều để có một ngày nhìn sân tim tím. 124

Một người vậy phải lãng mạn. Thế nhưng tôi chỉ biết mẹ như một người đàn bà tất bật,
tẻ nhạt, còng lưng dưới ghánh nặng của cam chịu và số phận” [9, tr.109]. Một người đàn
bà mà mọi suy nghĩ, hành động, sự tồn tại đều hướng về tâm điểm chồng con, để rồi nửa
đêm tỉnh giấc, tóc đứa con lại ướt đẫm vì nước mắt của người mẹ. Những tâm tư, những
nghĩ suy đành chôn sâu, giấu kín trong tận đáy lòng, tạo nên những khoảng lặng trong
cuộc sống, mà đôi khi đi bên nhau suốt cuộc đời người chồng cũng không bao giờ có
thể hiểu được. Ngày tháng trôi đi đối với bà là những ngày buồn, tối tăm mặt mũi vì
cuộc sống đầy rẫy những lo toan. “Thượng đế cho người đàn bà đến ba đôi mắt! Đôi
đằng trước, đôi đằng sau, đôi trong tâm hồn để nhìn, cảm nhận và thấu suốt” [9, tr. 112].
Nhưng rồi họ chỉ được sống với đôi mắt duy nhất hướng về chồng con mà thôi. Với họ
những khuôn khổ, những lễ giáo là không thể vượt qua, để rồi chỉ dám xem “tình yêu là
trò chơi của người can đảm”[ 9, tr. 112]. Cuộc sống với họ vẫn mãi là những cuộc chiến
không cân sức, nó in hằn trên khuôn mặt và cả trong trái tim người đàn bà khốn khổ ấy
vô số những dấu vết của sự đè nén và cam chịu. Cũng giống như Thơm trong Khúc
chiều tà, cô sống trong một gia đình mà phán truyền và răm rắp nghe đã trở thành thứ
luật thâm căn cố đế. Chống là bất trung, cãi là bất hiếu. Để đến nỗi “những đứa con
không hề biết đến tình yêu. Đặt đâu ngồi đó, may nhờ rủi chịu” [9,tr. 166]. Thơm phải
lấy một gã trai xấu xí, nghiện ngập, trác táng đến bất lực rồi chết. Cô bị đuổi về với cái

hữu như vừa mới hôm qua.
Trong những câu chuyện của Quế Hương, ta đã chứng kiến nhiều kiếp sống của
những mảnh đời bất hạnh. Họ sống với những dĩ vãng ngọt ngào của tình yêu rồi chết
trong tình yêu. Nhân vật của cô cứ theo một môtip như thế tạo nên một thế giới thật
phong phú, sống động khiến người đọc chìm đắm vào những dòng cảm xúc dường như
bất tận. Cuộc đời dẫu lắm bể dâu, con người vẫn giữ chút yêu thương đam mê nhớ về
nhau. Đó là lão Tầm Xuân vẫn đi tìm một nửa nhớ thương chưa trọn vẹn của mình trong
Câu hát tìm nhau. “Lão tìm trong cuộc đời nước chảy mây trôi như một bóng hình của
ký ức” [9,tr.242]. Tình yêu của lão vẫn thanh thoát bay xa dù nó thoát ra từ lồng ngực
hom hem phô những giẻ xương sườn; đó là người đàn bà điên sống trong đau khổ, ngơ
dại vì bị người tình phụ bạc trong Tịnh Tâm viên; là chú Di sống cô đơn suốt đời trong
nỗi day dứt về mưa trong Trần gian có mưa… Những vết thương lòng rồi sẽ qua đi
nhưng nó cũng có thể mở đầu cho một khoảng trống của hoài niệm. Hoài niệm sẽ chỉ là
hiện hữu bất thực trong sự trầm lặng của hư không.
Có ai đó đã từng nói rằng: Tình yêu chỉ đến với những người vẫn còn niềm tin
khi đã từng thất vọng. Nó chỉ đến với những con người vẫn còn muốn yêu khi đã từng
tổn thương. Chỉ cần thời gian một phút thì bạn đã có thể cảm thấy thích một người. Một
giờ để thương một người. Một ngày để yêu một người. Nhưng mà bạn sẽ mất cả đời để
quên một người. Thì những điều đó hoàn toàn đúng với truyện ngắn của Quế Hương.
Các nhân vật của chị “yêu chỉ biết yêu mà thôi”, nhưng “cách yêu” của họ không mãnh
liệt, cuồng bạo như trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư hay thiên về tính dục
như Bóng đè của Đỗ Hoàng Diệu. Một tâm hồn dịu dàng, mỏng manh thì những câu
chuyện tình yêu cũng nhẹ nhàng và đằm thắm chừng ấy. Cách yêu của các nhân vật
trong truyện ngắn của chị thường “lặng mà nặng” hơn. Đó không chỉ là tình yêu đơn
thuần mà đôi khi còn là tình thương giữa người và người với nhau nữa. Nhân vật của
chị cũng thế, không chỉ là những người phụ nữ yêu lặng thầm, mà còn là những người
đàn ông miệt mài dõi theo hình bóng của những tình yêu đã xa.
Truyện của chị thường là những mối tình đơn phương không dám ngỏ lời, không
chỉ của riêng tuổi trẻ, mà của trọn kiếp người. Để rồi họ mang tình yêu đó đi theo suốt
hành trình còn lại trên cõi đời. Trong Chiếc lá hình giọt lệ, Trần gian có mưa, Tre nở

chính là quà tặng của tình yêu. Nhưng không phải tình yêu nào cũng cập được bến bờ
hạnh phúc. Hầu hết truyện ngắn về đề tài tình yêu của Quế Hương thường trắc trở và
gợi cho ta nhiều nỗi buồn. Những tình cảm thiêng liêng và thầm kín đó thường được
chôn chặt vào tận đáy lòng của mỗi nhân vật. Những rào cản vô hình và hữu hình của
cuộc sống, của những mối quan hệ ràng buộc, đã khiến những mối tình phải sống kiếp
sống lặng câm. Đó là hình ảnh Lão-cây -ếm sống suốt đời trong Tịnh Tâm viên cô độc,
tới mức lão không nhớ cả tuổi của mình. Lão là kẻ nô bộc trông coi khu vườn, thuở xưa
lão thầm yêu cô chủ nhỏ và giờ là người đàn bà điên. Một tình yêu không bị giới hạn
tuổi tác nhưng nó lại bị giới hạn bởi đẳng cấp xã hội ở vùng đất cố đô vốn đậm chất
phong kiến này. Vì thế lão sống cuộc sống: “Lão không có chén trà thứ hai mời khách.
Trong nếp nhà quạnh vắng, đơn sơ mọi thứ đều đơn chiếc” [9, tr. 257]. Không có tình
yêu thì chắc hẳn con người ta không có niềm đam mê và thiết tha sống đến thế. Những
câu chuyện tình của chị đôi khi chỉ là cái tình vụng dại thoáng qua nhưng nó đi theo họ
suốt hết cuộc đời. Họ vẫn sống, đôi khi sống lay lắt với nỗi đau tình. Nhân vật của Quế
Hương đôi khi là gã Phước điên lang thang trên những con đường tới thư viện trường để
tìm lại dấu vết của người yêu xưa, hay những gã ôm mối tình đầu cô độc suốt đời như
Lão-cây-ếm… Nhưng tấm chân tình trong lòng họ trong sạch và cao quý biết bao nhiêu. 127

Tình yêu trong truyện của chị thường đi kèm với mưa, dường như mưa làm
chứng cho những xúc cảm tình yêu đôi lứa. Nói đến xứ Huế là nói ngay tới xứ sở của
những cơn mưa, ai đã từng ở Huế sẽ không quên được những tháng dài đằng đẵng
không có bóng mặt trời. Mưa muôn đời vẫn vậy, vẫn da diết và nồng nàn, mưa cuốn trôi
đi nhiều thứ nhưng nó đọng mãi dư vị của mối tình đầu. Chất trữ tình tha thiết in đậm
trong truyện ngắn của cô ở việc khắc họa những cơn mưa xứ Huế. Nó cũng nhẹ nhàng,
da diết như chính tâm hồn nhân vật và cả tâm hồn nhà văn. Đó là những Giọt sầu trong
vắt của lứa tuổi học trò: “Những giọt mưa nhẹ nhàng chi lạ trên nón lá quai nhung. Cái
đuôi đầu trần, áo mưa cầm tay bước theo tôi” [5, tr. 130]. Những cô gái bước qua tuổi
128

như cây tre nở hoa, kết tụ đằng đẵng bung nở rồi chết” [9, tr. 341]. Hay Tịnh Tâm Viên
với “những con đường nhỏ sỏi trắng trải đầy… Ở đó, những bông hoa súng kiều diễm
đang phô trọn sắc tím choáng ngợp trên mặt hồ chan hòa ánh sáng… Lau bạc đầu ngả
ngớn bên lũ cỏ non tơ…” [9, tr. 256]. Khu vườn tuyệt đẹp với tâm hồn của một con
người thuần khiết khi hưởng thụ cái đẹp. Nhưng nó cũng quạnh vắng, cũng cô đơn như
chủ nhân với mối tình đơn phương dài đằng đẵng.
Không gian vườn nhà gắn bó với cuộc đời các nhân vật, đó là nơi họ sống và
bộc lộ những nét tính cách, tâm lý của mình. Kiểu không gian này vừa có tính chất gợi
mở vừa lại như thu hẹp bó buộc nhân vật trong những giới hạn cụ thể, khoanh vùng hoạt
động của những cuộc đời, những số phận. Người đọc cảm thấy vừa thân quen, vừa gần
gũi như đã từng sống, đã từng trải qua. Không gian đó gợi lên trong tâm thức mỗi người
về những kỉ niệm đã xa mà đôi khi ta quên không để ý tới. Thời gian trong truyện ngắn
của Quế Hương được thể hiện chủ yếu ở dạng thức thời gian hoài niệm, đó là những
thoáng hồi tưởng, hoài cổ về những gì đã qua khi hiện tại nhân vật đã không thể quay
trở lại được. Điều này bộc lộ sâu sắc tâm trạng, đặc biệt là tâm lý của nhân vật trong tác
phẩm: có ăn năn, hối hận, có buồn tủi, có khổ đau và cả những hạnh phúc thoáng qua,
mà Cội mai lưu lạc là một truyện ngắn giản dị đầy hoài cổ như thế của Quế Hương. Vì
ước nguyện trước khi mất của mẹ mà người con gái đã từ Pháp trở về quê hương sau
bao năm xa cách, cố tìm lại cội mai lưu lạc hàng chục năm trước, rồi lặng lẽ gây dựng
một mảnh vườn như trong ký ức của người thiên cổ Đó là những gì ấm áp còn lại, là
những gì thiêng liêng và thân thương nhất mà người con gái tìm lại được trong hành
trình tìm về nguồn cội.
Cho dù sống xa Huế nhưng những hoài niệm tình yêu về một xứ Huế mộng mơ
dường như vẫn luôn thấm đẫm trong mỗi trang văn của Quế Hương. Chính sự am hiểu,
gắn bó máu thịt với văn hóa Huế từ nếp sống, nếp nghĩ, thói quen về con người nơi đây
đã tạo dấu ấn riêng biệt đầy sức sống cho truyện ngắn của Quế Hương. Và sức hấp dẫn

experience and deeply contemplation about life, especially about the culture and
the land of Hue, Que Huong explains human emotional life with the subtle sense of
a sensitive writer’s soul.
This article focused on analyzing and explaining the characteristics of Que
Huong’s short stories in content and method of art on the aspect of love and
memories of Hue - one of the most important features that make Que Huong’s
personality and style in her writing.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status