MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Phong trào “Thơ mới” đánh dấu bước thay đổi đột phá của thi ca Việt Nam hiện
đại. Phong trào này tạo nên dấu ấn ở chỗ không đi theo thi pháp truyền thống mà
tìm kiếm những hình thức vận – luận – học mới. Cách thay đổi ấy thích nghi với xu
hướng phát triển của tâm lý con người, của xã hội, chính điều ấy đã làm cho thơ
mới mở ra những chân trời khác lôi cuốn thế hệ trẻ. Bài thơ Tình già của Phan Khôi
công bố 1932, được coi là công trình đầu tiên của công cuộc cách mạng văn học ấy
và từ đó về sau đã có nhiều thi sĩ làm giàu thêm cho mảnh đất thi ca màu mỡ này.
Hàn Mặc Tử chính thức gia nhập phong trào “Thơ mới” năm 1936 với tập thơ Gái
quê, ông được xem là nhà thơ lạ nhất trong phong trào “Thơ mới” (1932-1945),
người “cai trị Trường thơ Loạn của các nhà thơ Bình Định”.
Trong bài viết “Hàn Mặc Tử, anh là ai?” (Văn Nghệ Bình Định.- 1998.- Số 18 (Xuân
Mậu Thìn) nhà thơ Chế Lan Viên đã phân tích rất hay về Hàn Mặc Tử khiến người
đọc phải đặt ra câu hỏi: Không biết sự tồn tại của ông là huyền thoại hay hiện thực?
Ông là thiên tài hay là kẻ mê hoặc điên loạn?. Nhưng dù Hàn Mặc Tử là người như
thế nào, có một điều không thể phủ nhận: ông đã để lại một dấu ấn không phai mờ
trong lịch sử văn chương Việt Nam thế kỉ XX.
Trên hành trình tinh thần của Hàn Mặc Tử, thơ ca chính là sự cứu rỗi của
linh hồn để anh hòa với thiên nhiên, tìm đến cõi vĩnh hằng của thể xác. Thế giới thi
ca của Hàn Mặc Tử luôn ám ảnh bởi các yếu tố trăng, hồn, máu. Đó là những hình
tượng nghệ thuật đặc sắc, xuyên suốt trong cảm hứng thi ca của Hàn Mặc Tử, chính
những điều ấy đã tạo ra một giọng thơ đặc biệt và không chia sẻ âm hưởng với bất
kì ai. Một nét đặc biệt làm nên sự đa dạng trong thi hứng của Hàn Mặc Tử là nguồn
thơ về đạo, về tôn giáo. Tính nhạc trong thơ cũng là một phần hết sức quan trọng
trong việc tác thành giá trị và nghệ thuật của thơ ông, ông là thi sĩ có cái nghệ thuật
âm nhạc tài tình nhất.
Hàn Mặc Tử không chỉ nổi tiếng về thi ca mà còn khiến người đọc nhớ đến
về những người phụ nữ đi ngang qua cuộc đời ông, đặc biệt là những mối tình tuyệt
vọng của thi nhân. Có lẽ không nhà thơ nào kể cả Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân
1
2
tiêu biểu có thể kể đến như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Thiện Giáp,
Hoàng Văn Hành, Diệp Quang Ban…
Trong cuốn “Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt”, Đỗ Hữu Châu đã đi sâu vào
phân tích mặt ngữ nghĩa của từ láy. Theo ông “ Láy là những từ được cấu tạo theo
phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết,
với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc
thanh điệu biến đổi theo hai nhóm: nhóm cao; thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang
và nhóm thanh thấp; thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng –của một hình vị hay đơn
vị có nghĩa” [3;34]
Tác giả cho rằng: ý nghĩa của các từ láy hình thành từ ý nghĩa của hình vị cơ
sở. Tuy ông đã phân tích khá kĩ về các nhóm từ láy, nhưng nhóm từ láy phỏng
thanh và từ láy âm cách điệu chưa được bàn tới nhiều.
Còn Hoàng Văn Hành trong cuốn “Từ láy trong tiếng Việt” đã đi vào phân
tích khá sâu về mặt hình thức ngữ âm lẫn mặt ý nghĩa của từ láy. Bên cạnh đó, tác
giả còn nêu lên tác dụng, giá trị sử dụng của từ láy khi đưa nó vào văn cảnh bằng
việc chỉ ra giá trị gợi tả, giá trị biểu cảm và màu sắc phong cách của từ láy. Ông cho
rằng từ láy được sử dụng trong rất nhiều phong cách khác nhau, nhưng quan trọng
hơn ông đã nhấn mạnh vai trò của từ láy đối với phong cách văn chương. Ông cho
rằng: “Sở trường của từ láy là làm chất liệu để xây dựng văn bản nghệ thuật làm
phương tiện cho tư duy nghệ thuật. Sở dĩ như thế là vì từ láy là từ giàu giá trị gợi
tả, giá trị biểu cảm. Mà văn bản nghệ thuật rất cần những phương tiện ngôn ngữ
như thế để xây dựng hình tượng. Cho nên, các nhà văn, nhà thơ rất chú ý sử dụng
từ láy. Và lịch sử văn học Việt Nam đã từng quen biết những nhà thơ, nhà văn có
tài trong việc sử dụng ngôn ngữ, trong đó có từ láy, như: Nguyễn Du, Đoàn Thị
Điểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Thi, Tố Hữu, Nguyễn Tuân…” [8;142]
Hoàng Văn Hành đã tiến hành tổng kết những thành quả nghiên cứu về từ
láy tiếng việt từ trước đến nay. Trên cơ sở đó, tác giả cũng đưa ra những mặt tồn tại
và những mặt có thể kế thừa, phát huy và bổ sung, tiếp tục nghiên cứu và tìm hiểu
những vấn đề còn chưa được giải đáp chung quanh hiện từ láy trong tiếng Việt. Các
chuyển biến ý thức của lí luận nghiên cứu phê bình văn học Việt Nam. Ông là
người có công lớn giới thiệu Hàn Mặc Tử một cách khá quy mô, chi tiết trên thi đàn
thơ mới khi người ta chưa biết nhiều về thi sĩ.
4
Trong cuốn “Thi nhân Việt Nam”, Hoài Thanh và Hoài Chân đã thực hiện
một cuộc hành trình qua “Ngần ấy” thi phẩm của Hàn Mặc Tử và thừa nhận “Tôi
đã mệt lả”. Hai nhà nghiên cứu này đã khéo léo đưa dư luận về Hàn Mặc Tử và coi
đây là hiện tượng không bình thường của thơ mới, khả năng cảm thụ của “Thi nhân
Việt Nam” rất tinh tế nhạy bén khi đi vào cõi thơ Hàn Mặc Tử một cách tuần tự từ
thể thơ Đường luật đến Gái quê, Đau thương (Hương thơm, Mật đắng, Máu cuồng
và Hồn điên), Xuân như ý, Thượng thanh khí… mỗi thi phẩm, mỗi chặng đường
sáng tác của nhà thơ đã được phẩm bình kết tinh thành những ấn tượng cảm giác
sâu sắc độc đáo. Thậm chí nhà phê bình không cần nhắc đến yếu tố thời đại, chỉ để
ý xây dựng cho mình một siêu văn bản ấn tượng chủ quan trên văn bản của thi sĩ.
Kiểu phê bình chủ quan sẽ phong phú về ấn tượng cảm giác nhưng khó cắt nghĩa
một cách khoa học về tác phẩm, vì thế tác giả thi nhân Việt Nam có lúc cảm thấy
bất lực: “Một tác phẩm như thế ta không thể nói hay, hay dở. Nó đã ra ngoài vòng
nhân gian, nhân gian không có quyền phê phán”, bởi vậy kết thúc phần viết về Hàn
Mặc Tử mạch văn đột nhiên chuyển sang địa hạt cái tâm của nhà phê bình: “một
người đau khổ nhường ấy, lúc sống ta hờ hững bỏ quên bây giờ mất rồi ta xúm lại,
kẻ khen người chê. Chê hay khen tôi thấy có cái gì bất nhân” [6;660]. Tuy nhiên
vẫn phải thừa nhận là Hoài Thanh - Hoài Chân đã bộc lộ tài năng xuất chúng trong
việc cảm thụ cái thế giới nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử. Hai ông đã giành được kết
quả bước đầu đáng kể trong quá trình chiếm lĩnh những giá trị thơ Hàn Mặc Tử,
bằng sự phát giác ra một số cái “thần” của thi sĩ một cách sắc sảo, tinh tế.
Trong cuốn “Nhà văn hiện đại”, Vũ Ngọc Phan đã nhận xét hai kiểu phê
bình của Thi Nhân Việt Nam và Hàn Mặc Tử -Thân Thế và Thi Văn, để tìm con
đường tiếp cận riêng về Hàn Mặc Tử. Ông phê bình Trần Thanh Mại và cho rằng
“Quyển Hàn Mặc Tử” là quyển truyện kí, là vì Vũ Ngọc Phan đứng về trường phái
phê bình thủ cựu chủ quan cổ điển (nghĩa là nhà phê bình phải lấy cái khen chê
phương thức láy hết sức đặc biệt, từ một từ gốc mang ý nghĩa xác định nó có thể
biến tấu thành những từ gợi tả âm thanh, hình ảnh, sắc thái biểu cảm hết sức đặc
biệt. Cho nên, trong hầu hết các tác phẩm văn học nghệ thuật các nhà văn, nhà thơ
đã đánh giá được tầm quan trọng của từ láy, biến nó thành một công cụ đắc lực để
tạo nên nét độc đáo trong cách sáng tác của mình. Chính vì thế, việc Hàn Mặc Tử
sử dụng khá nhiều từ láy trong các tác phẩm thơ của ông cũng là điều dễ hiểu.
6
Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, vai trò của từ láy là rất quan trọng. Nó
không những gợi tả âm thanh hình ảnh, sắc thái biểu cảm mà còn giúp ta thấy được
sự đa dạng và phong phú của tiếng Việt. Hơn nữa, ta cũng có thể hiểu rõ hơn về
nghệ thuật sử dụng ngôn từ của Hàn Mặc Tử.
Nghiên cứu đề tài này, người viết hướng đến yêu cầu là phải thống kê số
lượng từ láy trong thơ Hàn mặc Tử. Qua đó phân tích làm sáng rõ dụng ý của Hàn
Mặc Tử, thông qua việc sử dụng các kiểu láy. Từ đó ta có thể thấy được nét độc
đáo, nét mới trong thơ Hàn Mặc Tử. Điều này có tác dụng thiết thực, giúp ta nhận
ra tài năng sử dụng ngôn từ điêu luyện của ông.
4. Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, người viết chỉ quan tâm đến vấn đề sử dụng từ láy trong thơ
của Hàn Mặc Tử. Tuy nhiên, khối lượng tác phẩm thơ của Hàn Mặc Tử khá đồ sộ.
Trong khuôn khổ của một luận văn tốt nghiệp, người viết không thể hết tất cả các
tập thơ mà chỉ dừng lại ở 5 tập thơ tiêu biểu. Năm tập thơ đó là: “Lệ Thanh Thi
Tập, Gái quê, Thơ điên (Hương thơm, Mật đắng, Máu cuồng và Hồn điên), Xuân
Như Ý, Thượng Thanh Khí…” Bởi vì, trong những tập thơ này chứa bao nhiêu niềm
thương yêu, ước mơ và khát vọng của Hàn Mặc Tử.
Do thời gian nghiên cứu có hạn mà số lượng các tác phẩm thơ Hàn Mặc Tử
khá nhiều, nên người viết chỉ tập trung vào một số bài thơ tiêu biểu nhất nằm trong
năm tập thơ trên. Trong đó có những từ láy được tác giả sử dụng mang lại hiệu quả
cao về mặt nội dung cũng như nghệ thuật để khảo sát.
5. Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, trước hết người viết sẽ sưu tầm các tài liệu nghiên cứu
quan hệ ngữ âm được thể hiện ra là các thành tố phải có sự tương ứng với nhau về
hai mặt. Mặt yếu tố siêu đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm
đầu, âm giữa và âm cuối )”[2;109]
8
Ở quan niệm này, không cho chúng ta thấy được sự độc đáo về mặt ngữ nghĩa
của kiểu cấu tạo từ láy, không thấy được sự sáng tạo từ ngữ của nhân dân ta.
1.1.2. Quan niệm coi láy là sự hoà phối ngữ âm
Theo Đỗ Hữu Châu: “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy,
đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết, với thanh điệu giữ
nguyên hay biến đổi theo qui tắc biến thanh, tức là qui tắc thanh điệu biến đổi theo
hai nhóm. Nhóm cao: (thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh
huyền, thanh ngã, thanh nặng) của hình vị hay đơn vị có nghĩa [3;34]
Mặt khác, tác giả Hoàng Văn Hành cho rằng: “Từ láy là từ đa tiết (thường
gồm hai âm tiết) được tạo ra bằng phương thức hoà phối ngữ âm giữa các âm tiết
với hiệu ứng tạo ra nghĩa biểu trưng” [9;73]
Ông khẳng định: “Đối với từ láy, việc các thành tố (các tiếng) tạo nên nó tự
thân có nghĩa hay vô nghĩa không quan trọng. Cái quan trọng là hình thức ngữ âm
đặc thù cho sự hoà phối âm thanh giữa các tiếng, cái quyết định cái diện mạo của từ
láy. Hơn nữa, ý nghĩa của từ láy là ý nghĩa biểu trưng do sự hoà phối ngữ âm tạo ra,
chứ không phải là phép cộng giản đơn nghĩa của từng thành tố trong từ láy, ngay cả
với các từ láy có thành tố có nghĩa tự thân và có khả năng hoạt động độc lập như
một từ” [9;73]
Quan điểm này được sự ủng hộ, tán đồng của nhiều nhà nghiên cứu khi khảo sát
hiệng tượng láy trong tiếng Việt. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng: nếu coi
láy là sự hoà phối ngữ âm thì sản phẩm sản sinh sẽ là cả hệ thống từ láy trong tiếng
Việt. Nhìn chung, nếu đứng trên quan điểm chung nhất thì ta có thể đưa ra khái niệm
từ láy: từ láy là những từ gồm hai tiếng, ba tiếng, bốn tiếng, giữa các tiếng trong một
từ có quan hệ về ngữ âm và có tác dụng tạo nghĩa, tạo sắc thái.
1.2. PHÂN LOẠI TỪ LÁY
Từ láy được cấu tạo theo phương thức hoà phối ngữ âm. Vì vậy, mặt ngữ âm phải
biệt theo hai đặc trưng.
Bằng Trắc
Âm vực cao – / ?
10
Âm vực thấp \ ~ .
Bằng - trắc: thanh bằng gồm có thanh huyền và thanh ngang; thanh trắc gồm
thanh sắc thanh hỏi, thanh ngã, và thanh nặng.
Âm vực cao – Âm vực thấp: âm vực cao là thanh ngang, thanh hỏi, thanh sắc;
âm vực thấp là thanh ngã, thanh huyền, thanh nặng.
Sự phối hợp thanh điệu như trên hình thành quy tắc hài thanh: Đối thanh điệu
trắc với thanh điệu bằng cùng âm vực.
Ví dụ: Lạnh lạnh → lành lạnh.
Tím tím → tim tím.
Trẵn trẵn → trằn trẵn.
Đỏ đỏ → đo đỏ.
Ngoài những từ láy hoàn toàn có thanh điệu phù hợp với quy tắc hài thanh vừa
nêu, còn có một số từ láy cũng được xếp vào từ láy hoàn toàn, nhưng biến thanh
không theo quy tắc đã nêu, như: Tí tị, rát rạt, cuống cuồng, lép lẹp, mướt mượt… Ở
những trường hợp như thế dấu hiệu đổi thanh bằng / trắc cùng âm vực hay sự đối lập
âm vực đều bị phá vỡ. Hơn thế nữa, người ta còn gọi những từ láy như trên là dạng
rút gọn của từ láy ba: cuống cuồng cuồng, mướt mườn mượt, khít khìn khịt, lép lèm
lẹp, rát ràn rạt…
Từ láy hoàn toàn có sự khác biệt nhau về phụ âm cuối
Tiếng độc lập của phụ âm cuối tận cùng là phụ âm tắc – vô thanh, sẽ biến
thành phụ âm mũi – hữu thanh ở tiếng không độc lập. Dạng biến đổi này bị chi phối
bởi quy luật dị hóa.
Phụ âm tắc –vô thanh: p/ t/ k
Phụ âm mũi –hữu thanh: m/ n/
η
Phụ âm tắc –vô thanh có âm / k/ gồm: “ch” và “c”
Ch – nh / b/ l / : Chòm nhòm, chành bành, cheo leo,…
H – đ / t/ m/ : Hồ đồ, hấp tấp, hoang mang,…
Kh –l / r/ n/ : khéo léo, khọm rọm, khép nép,…
1.2.2. Từ láy ba
12
Từ láy ba là từ gồm ba âm tiết có sự hòa phối ngữ âm với nhau. Trong hệ thống từ
tiếng Việt, từ láy ba không nhiều, có nhiều từ láy ba khi chúng ta bỏ âm tiết ở giữa sẽ
cho một từ láy đôi tương ứng. Quy tắc biến đổi thanh điệu ở từ láy ba thường gặp
như sau:
Từ láy ba có âm tiết thứ hai thường mang thanh bằng.
Ví dụ: Tuốt tuồn tuột
Tẻo tèo teo
Tửng từng tưng
Dửng dừng dưng
Từ láy ba có âm tiết thứ nhất và âm tiết thứ ba đối lập nhau về bằng – trắc
hoặc đối lập nhau về âm vực cao – thấp.
Ví dụ: Tỉ tì ti
Mảy mày may
Sạch sành sanh
Tỏng tòng tong
Từ láy ba dạng láy bộ phận chiếm số lượng rất ít.
Ví dụ: Tơ lơ mơ, tù lù mù
1.2.3. Từ láy tư
Từ láy tư là từ láy chứa bốn âm tiết trong thành phần cấu tạo của nó. Phần lớn
từ láy tư dựa trên cơ sở từ láy đôi, còn lại một số ít có phần gốc là từ ghép. Có thể
phân từ láy tư thành hai loại:
• Từ láy tư được tạo thành trên cơ sở từ láy đôi bộ phận.
• Từ láy tư được tạo thành không trên cơ sở từ láy đôi bộ phận.
1.2.3.1. Một số kiểu láy thường gặp của loại từ láy thứ nhất
o Lặp lại hai lần từ láy đôi cơ sở, kết hợp đổi vần của âm tiết thứ hai
về nghĩa.
Ví dụ: Xa → xa lắc xa lơ
14
Buồn → buồn thỉu buồn thiu
Khuya → khuya lắc khuya lơ
Kiểu aabb: Trong kiểu láy này, ab là một từ ghép hoặc là một tổ hợp từ.
Ví dụ: Trùng điệp → trùng trùng điệp điệp
Tầng lớp → tầng tầng lớp lớp
Cười nói → cười cười nói nói
1.3. Ý NGHĨA, VAI TRÒ CỦA CÁC TỪ LÁY
1.3.2. Ý nghĩa của các nhóm láy
Căn cứ vào bản chất của hiện tượng láy là sự hòa phối ngữ âm có tác dụng tạo
nghĩa, thì ta có thể căn cứ vào đặc điểm, vai trò của yếu tố trong việc tạo nghĩa cho từ
láy để phân loại. Có thể chia từ láy thành ba nhóm sau:
1.3.1.1. Nhóm từ láy phỏng thanh
Là từ láy mà trong đó các tiếng được hình thành và được ghép lại dựa vào sự
mô phỏng âm thanh của các sự vật, hiện tượng trong thực tế.
Từ láy tượng thanh nhại lại âm thanh của đối tượng.
Ví dụ: oa oa, đùng đùng, gâu gâu, lộp độp, róc rách, bình bịch,
lách cách…
Hay dựa vào mô phỏng âm thanh để định danh cho đối tượng.
Ví dụ: Chim tu hú, con bìm bịp, xe cút kít…
Trong nhóm từ này, nghĩa của chúng thường rất đơn giản, chủ yếu mô phỏng
âm thanh tự nhiên theo cơ chế láy. Nghĩa của nhóm từ láy phỏng thanh có tính chất
đơn nhất, nghĩa là: mỗi từ láy một ý nghĩa riêng, không có nét nghĩa nào chung với
các kiểu láy trong cùng kiểu cấu tạo.
1.3.1.2. Nhóm từ láy sắc thái hóa
Nhóm này gồm các từ láy mà trong đó có một yếu tố rõ nghĩa và một hoặc
nhiều hơn một yếu tố không rõ nghĩa.Yếu tố rõ nghĩa chi phối nghĩa cơ sở của toàn
bộ từ láy. Yếu tố còn lại có tác dụng bổ sung một sắc thái nghĩa nào đó, khiến cho từ
16
tượng ra được đó là màu của nước da. Nhìn chung, các từ láy nhóm sắc thái hóa
thuộc kiểu láy này thường tạo ra ấn tượng biểu thái.
Sau đây là những kiểu láy có ý nghĩa tương đối thuần nhất.
Các từ láy toàn bộ khi có một từ tố không có nghĩa mang thanh bằng, thì từ
láy đó diễn đạt tính chất hoặc đặc điểm mang ý nghĩa giảm nhẹ.
Ví dụ: Kha khá, đo đỏ, tôn tốt…
Từ láy toàn bộ khi có một từ tố không có nghĩa mang thanh trắc, thì từ láy đó
diễn đạt tính chất hoặc đặc điểm có cường độ gia tăng.
Ví du: Cỏn con, tẻo teo…
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo
(Nguyễn khuyến)
Các từ láy toàn bộ gốc là động từ thường diễn tả một sự lặp đi lặp lại, một
cách đều đặn và kèm với quá trình lặp lại đó, thì cường độ của hành động
mang tính chất giảm nhẹ.
Ví dụ: Gật gật, lắc lắc, chạy chạy, rung rung...
Các từ láy toàn bộ gốc danh từ thường diễn tả sự lặp đi lặp lại ở một số sự
kiện, hiện tượng, sự vật...cùng tính chất.
Ví dụ : Ngày ngày, người người, nhà nhà...
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
(Viếng lăng bác)
Kiểu từ láy có vần “ăn” thường diễn tả một tính chất chuẩn mực, nghiêm túc.
Ví dụ: Đầy đặn, vuông vắn, ngay ngắn, thẳng thắn...
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
(Truyện Kiều –Nguyễn Du) .
17
Từ láy có vần “ấp” thường diễn tả hành động không ổn định, sự dao động
Dựa vào mối quan hệ giữa nghĩa của các từ láy nhóm này với hiện thực khách
quan, chúng ta có hai kiểu nhỏ sau :
Những từ biểu thị sự vật.
Ví dụ : Thằn lằn, chuồn chuồn, bươm bướm....
Đây là những danh từ chỉ động vật, hoặc cây cỏ chúng mang hình thức ngữ
âm phù hợp với quy tắc láy nhưng lại không có ý nghĩa do cơ chế láy tạo ra.
Những từ biểu thị thuộc tính, trạng thái, quá trình.
Ví dụ : Mênh mông, la cà, lăm dăm, vằng vặc...
Bèo giạt mây trôi hàng lối hàng
Mênh mông không một chuyến đò ngang
(Tràng Giang- Huy Cận)
Các từ láy này chủ yếu biểu thị thuộc tính, trạng thái nên ý nghĩa của chúng có
giá trị biểu trưng hóa của sự hòa phối ngữ âm. Do cấu tạo giữa hai tiếng của từ láy
không xác định được tiếng gốc cho nên cơ cấu nghĩa của chúng khó nắm bắt và việc
giải thích nghĩa gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, việc giải thích nghĩa chủ yếu dựa vào sự
hiểu biết tri nhận của người bản ngữ.
1.3.2. Vai trò của từ láy
Trong hệ thống từ tiếng Việt từ láy có vai trò hết sức quan trọng. Nó làm cho
ngôn ngữ dân tộc trở nên đa dạng, phong phú và mang nhiều sắc thái khác nhau. Do
từ láy được cấu tạo theo phương thức hòa phối ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa (Câu
tối nghĩa). Đó là những nét biểu trưng vừa mang tính chất gợi tả, vừa mang tính
chất biểu cảm cao, cho nên từ láy không những có vai trò quan trọng trong đời sống
giao tiếp hàng ngày mà còn là phương tiện không thể thiếu trong văn chương. Đặc
biệt là trong thơ ca.
Thơ đòi hỏi phải có nhạc điệu và sự bộc lộ cảm xúc tinh tế, cho nên sử dụng
từ láy một cách hợp lý, đúng cách, góp phần làm cho sự diễn đạt không chỉ giàu tính
nhạc mà còn thể hiện thái độ, tình cảm và cách đánh giá chủ quan của tác giả.
19