LỜI CẢM ƠN
Luận văn Đặc điểm từ ngữ trong thơ của Hàn Mặc Tử và Nguyễn Bính
được hoàn thành, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự chỉ bảo
tận tình của cô giáo Đỗ Thị Kim Liên, các thầy cô trong tổ ngôn ngữ, sự quan
tâm, động viên của gia đình và bạn bè. Nhân đây cho phép tôi bày tỏ lòng
cảm ơn sâu sắc tới thầy cô hướng dẫn, các thầy cô giáo trong tổ ngôn ngữ
cùng gia đình và bạn bè.
Dù đã cố gắng nhưng năng lực còn có những hạn chế, luận vặn không
tránh khỏi những khiếm khuyết, tôi mong nhận được sự đóng góp của quý
thầy cô cùng các bạn để nay mai khi mở rộng, phát triển đề tài này, vấn đề
nghiên cứu sẽ thu được kết quả cao hơn.
Vinh, tháng 12 năm 2011
Học viên thực hiện
Chế Thị Hồng
MỤC LỤC
Trang
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Nghiên cứu ngôn ngữ nghệ thuật nói chung, ngôn ngữ thơ ca nói
riêng là một trong những hoạt động đặc thù: hoạt động nghệ thuật. Việc
nghiên cứu ngôn ngữ thơ ca, trong đó tìm hiểu ngôn ngữ của các tác giả là
một trong những hướng đi cần thiết của việc nghiên cứu ngôn ngữ với tư cách
là phân tích nghệ thuật văn chương, góp phần xác định phong cách ngôn ngữ
thơ của mỗi tác giả trong nền thơ ca Việt Nam.
1.2. Hàn Mặc Tử và Nguyễn Bính là hai nhà thơ tiêu biểu của phong
kỉ kể từ khi Hàn Mặc Tử qua đời đã có rất nhiều ý kiến của các nhà nghiên
cứu đánh giá khác nhau về thơ ông: người khen cũng nhiều, kẻ chê bai cũng
không ít.
Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam đã nhận xét: Tôi đã nghe người
ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm. Có người bảo: Hàn Mặc Tử thơ với thẩn
thẩn! Toàn nói nhảm. Có người nghiêm khắc hơn nữa: Thơ gì mà rắc rối thế!
Mình tưởng có ý nghĩa gì khuất khóc, cứ đọc đi đọc lại hoài, thì ra nó lừa
mình,… nhưng ta cũng đã nghe rất nhiều người ca tụng Hàn Mặc Tử. Trong
ý họ, thi ca Việt Nam chỉ có Hàn Mặc Tử. Bao nhiêu thơ Hàn Mặc Tử làm ra
họ đều chép và thuộc hết…[45, tr.219].
Còn về ngôn ngữ thơ, trước hết thơ Hàn Mặc Tử được đánh giá về cách
sử dụng từ. Hàn Mặc Tử hay sử dụng từ Hán – Việt. Xuất hiện lần đầu tiên
trên thi đàn là thể thơ Đường luật. Thơ Đường luật của Hàn Mặc Tử được
Phan Bội Châu đánh giá rất chỉnh tề, đăng đối. Không chỉ mới ra đời mà sau
này Hàn Mặc Tử cũng hay sử dụng từ Hán – Việt trong thơ của mình.
Thơ Hàn Mặc Tử cũng thường hay sử dụng những từ, cụm từ quen
thuộc, dân giã, gần gũi với người Việt. Về điểm này Mã Giang Lân khẳng
định: Hàn Mặc Tử là một tài năng [26, tr.327].
4
Phan Cự Đệ bằng một cách nhìn tổng quan và khoa học đã trình bày cụ
thể những đặc điểm nổi bật về ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử trên nhiều phương
diện, đặc biệt là tính nhạc, tính chính xác tuyệt diệu của ngôn từ đến mức
không thay thế [12, tr.29-30].
Đề tài “Đặc điểm về cách sử dụng từ ngữ và câu thơ trong thơ Hàn
Mặc Tử” của Trần Giang Nam đã bước đầu nghiên cứu về cách sử dụng từ
ngữ trong thơ Hàn. Đề tài cũng đã chỉ ra những câu thơ có kết hợp lạ về ngữ
nghĩa, nổi bật trong các kết hợp lạ này là kiểu kết hợp chuyển giao cảm giác,
và Hồ Xuân Bình cũng đã nghiên cứu về mặt ngữ nghĩa trong thơ Nguyễn
Bính. Tuy nhiên, do phạm vi đề tài chỉ dừng lại ở việc phân tích vốn từ vựng
chỉ làng quê, cách dùng thành ngữ, sử dụng con số để nói lên tình cảm sâu
đậm của nhà thơ đối với quê hương.
Đề tài “Ngôn ngữ thơ tình Nguyễn Bính” (2008) của Nguyễn Thị Hiền
đã đi sâu tìm hiểu về ngôn ngữ trong các bài thơ tình của Nguyễn Bính từ cấu
trúc, âm điệu thơ tình và khảo sát miêu tả các biện pháp tu từ, các lớp từ chỉ
sắc thái, sắc thái biểu cảm, lớp từ biểu thị tình yêu trong thơ tình Nguyễn
Bính. Từ đó giúp cho người đọc có một cái nhìn chung nhất, cơ bản nhất về
thơ tình Nguyễn Bính ở phương diện nội dung, hình thức, cách thức thể hiện
và ý nghĩa của ngôn ngữ tình yêu.
3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi chọn 64 bài thơ trong tập thơ Gái quê và Đau thương của
Hàn Mặc Tử và 45 bài thơ trong các tập: Lỡ bước sang ngang; Tâm hồn tôi;
Hương, cố nhân; Một nghìn cửa sổ; Người con gái lầu hoa; Mười hai bến
nước; Mây Tần và một số bài thơ lẻ trước cách mạng tháng Tám của Nguyễn
Bính để đi vào tìm hiểu các đặc điểm sử dụng các lớp từ ngữ trong thơ của hai
nhà thơ Hàn Mặc Tử và Nguyễn Bính.
6
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đặt ra những nhiệm vụ sau đây:
a. Thống kê, khảo sát những lớp từ ngữ xuất hiện trong thơ của hai tác
giả: Hàn Mặc Tử và Nguyễn Bính.
b. Phân tích đặc điểm về cấu tạo và hành chức, ngữ nghĩa của từ ngữ
trong thơ Hàn Mặc Tử và Nguyễn Bính.
c. Chỉ ra những nét đồng nhất và khác biệt trong cách sử dụng từ ngữ
Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của các lớp từ ngữ trong thơ Hàn Mặc
Tử và Nguyễn Bính
Chương 3: Ngữ nghĩa của các lớp từ ngữ trong thơ Hàn Mặc Tử và
Nguyễn Bính
8
Chương 1
NHỮNG TIỀN ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1. Thơ và đặc điểm ngôn ngữ thơ
1.1.1. Khái niệm thơ
Trong lịch sử phát triển của nhân loại, thơ là thể loại ra đời sớm hơn cả
và liên tục phát triển cho đến ngày nay. Ở nhiều dân tộc trong một thời gian
khá dài, các tác phẩm văn học đều viết bằng thơ. Vì thế, trong lịch sử văn học
nhiều dân tộc thế kỉ XVII trở về trước, nói đến thi ca là nói đến văn học.
Vậy thơ là gì? Đã có rất nhiều định nghĩa bàn về vấn đề này nhưng
chưa đi đến thống nhất và chưa có tiếng nói chung. Điều này khá dễ hiểu do
đặc điểm tính phức tạp của thơ và mỗi nhà thơ, mỗi nhà nghiên cứu, phê bình
về thơ đều có một cách định nghĩa riêng.
Công trình lí luận thi ca sớm nhất của phương Đông ra đời cách đây
1500 năm là Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp đã chỉ ra phương diện cơ bản
cấu thành tác phẩm thơ là: hình văn, hành văn và tình văn. Ngôn ngữ trong
thơ có họa (hình văn). Đến đời Đường, quan niệm về thơ của Bạch Cư Dị đã
cụ thể hơn một bước: cái cảm hóa được lòng yêu người chẳng có gì trọng yếu
bằng tình cảm, chẳng gì bằng ngôn ngữ, chẳng gì bằng âm thanh, chẳng gì
sâu sắc bằng ý nghĩa. Với thơ gốc là tình cảm, mầm là ngôn ngữ, hoa là âm
thanh, quả là ý nghĩa [1, tr.24]. Trong quan niệm của Bạch Cư Dị các bình
diện của ngôn ngữ thơ được đề cập và làm sáng rõ. Trong bài Tựa Kinh thi,
Chu Hy cũng cho rằng: Thơ là cái dư âm của lời nói, trong khi lòng cảm xúc
được nó vì nó nói những cái vô nghĩa hợp lí. Có thể thấy ở thời kì này các
định nghĩa thơ phần nào có những yếu tố rất cơ bản ảnh hưởng từ những
quan niệm của trường phái thơ tượng trưng và siêu thực ở Pháp vào thế kỉ
XIX đầu thế kỉ XX. Họ thường lí tưởng hóa hoặc đối lập một cách cực
đoan giữa thơ ca và hiện thực cuộc sống kiểu như: Thơ là ở sự hiện thân
10
những gì thầm kín nhất và cho những hình ảnh tươi nhất, âm thanh huyền
diệu nhất trong thiên nhiên (La Mactin).
Sau cách mạng tháng Tám nhất là sau 1954, chúng ta lại có điều kiện
tiếp xúc với nhiều ý kiến về thơ. Trước hết, thơ là tiếng nói tâm hồn là sợi dây
tình cảm ràng buộc con người với con người, là hành trình ngắn nhất đi tới
con tim. Quan niệm này được thể hiện rõ trong định nghĩa sau: Thơ là một
tâm hồn đi từ những tâm hồn đồng điệu, “Thơ là tiếng nói tri âm”(Tố Hữu)
hoặc quan niệm “thơ cải thiện cuộc sống, hoàn thiện con người”. “Thơ biểu
hiện cuộc sống một cách cao đẹp” (Sóng Hồng). “Thơ là sự sống tập trung
cao độ là cốt lõi của cuộc sống”(Lưu Trọng Lư).
Đến cuối thế kỉ XX, Giáo sư Phan Ngọc đã đưa ra định nghĩa về thơ
chú ý nhấn mạnh về ngôn ngữ. Trong bài viết Thơ là gì? Tác giả đã nêu
lên: Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp
nhận phải nhớ, phải cảm xúc do hình thức ngôn ngữ này [35, tr.23]. Đây
là cách định nghĩa khá lạ, một định nghĩa theo hướng cấu trúc ngôn ngữ.
Ý kiến này đã đối lập hẳn ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ cuộc sống hằng
ngày và với cả văn xuôi.
Một tác giả khác cũng đi theo hướng này là Nguyễn Phan Cảnh. Ông
đã tiếp thu các luận thuyết về thơ ca trong và ngoài nước để đưa ra một vấn đề
rất thiết thực song không kém phần nan giải (các nhà thơ tư duy nên chất liệu
ngôn ngữ như thế nào?). Lí thuyết liên hệ hệ hình của Nguyễn Phan Cảnh đưa
trầm bổng, kì diệu.
Nhạc thơ được tạo thành từ các yếu tố chính sau: âm điệu, nhịp điệu,
vần điệu.
a) Âm điệu
Âm điệu là một khái niệm được thể hiện trong thế tương quan với vần
điệu và nhịp điệu. Âm điệu có thể hiểu là sự hòa âm được tạo ra từ sự luân
12
phiên xuất hiện của các đơn vị âm thanh (tiếng), có những chất ngữ âm tương
đồng và dị biệt trên trục tuyến tính.
Trong đó, thanh điệu với tư cách là yếu tố cơ bản làm nên sự khác biệt
về phẩm chất ngữ âm của mỗi âm tiết, là đối tượng chính của âm điệu. Do đó,
sự khác biệt về đường nét và độ cao nên sự phối hợp khác nhau có giá trị tạo
nên âm điệu khác nhau.
b) Vần điệu
Vần trong thơ là một yếu tố quan trọng, nó có quan hệ chặt chẽ với
nhịp điệu. Vần là sự hòa âm, sự cộng hưởng nhau theo những quy luật ngữ
âm nhất định giữa 2 từ hoặc 2 âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ, gợi tả, nhấn
mạnh sự ngừng nhịp [8, tr.12].
Trong thơ, vần có vai trò gắn kết các dòng thơ lại thành từng đoạn,
từng khổ và từng bài hoàn chỉnh: Ở các khổ thơ, bài có vần, với chức năng tổ
chức vần như sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau do đó giúp cho
việc đọc thuận miệng, nghe được đọc thuận tai và làm cho người đọc, người
nghe dễ thuộc, dễ nhớ [8, tr.22].
Vần trong thơ là một kiểu gặp lại theo một quy định ngữ âm nhất định.
Hình thức này là dấu hiệu của sự hô ứng, liên kết gọi nhau của những yếu tố
từ ngữ, tạo nên kết cấu đặc biệt trong thơ. Tính nhạc của thơ cũng bắt đầu từ
đó và nó đã tạo nên khả năng mĩ cảm đặc biệt.
trong thơ phong phú hơn nhiều so với ngữ nghĩa ngôn từ trong giao tiếp đời
thường và văn xuôi. Từ ngữ của thơ có những từ ngữ được sử dụng ở phép
chuyển nghĩa (chủ yếu là phép ẩn dụ).
Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ khơi gợi và để thực hiện chức năng gợi, các
đơn vị trong văn bản nghệ thuật phải được lựa chọn xây dựng và sắp xếp theo
cách thức nhất định. Hiệu quả biểu đạt ý ở ngoài lời là mục tiêu muôn đời của
14
thi ca. Đặc trưng ngữ nghĩa này tạo cho ngôn ngữ một sức cuốn hút kì lạ với
người đọc người nghe.
1.1.2.3. Về ngữ pháp
Về phương diện ngữ pháp, câu thơ, dòng thơ không hoàn toàn trùng
nhau, có những câu thơ bao gồm nhiều dòng thơ và cũng có nhiều dòng thơ
bao gồm nhiều câu thơ, các thành phần trong dòng, trong câu hay bị đảo lộn
trật tự, các từ nhiều lúc không sắp xếp theo trật tự như bình thường và điều
này không xẩy ra với văn xuôi. Đặc điểm này thể hiện rất rõ qua hiện tượng
vắt dòng trong thơ ca Việt Nam hiện đại.
Trong thơ, các dòng, các vế câu, các ý nhiều khi trông qua hình
như không có mối quan hệ logic gì với nhau, nhiều khi trái ngược nhau về
logic, lập luận, thậm chí có khi thật “phi lí” nhưng người đọc vẫn hiểu
được mạch ngầm các ý trong câu thơ, hiểu được sự ẩn náu ngữ nghĩa đằng
sau tầng cấu trúc ngữ pháp tưởng như không lí giải được, và “vườn cấm”
này chỉ dành cho thơ.
Những kết hợp không bình thường trong cấu trúc dòng thơ diễn ra rất
đa dạng và phức tạp. Có khi một dòng chứa nhiều câu thơ, có khi một dòng
chỉ có một vế câu… Do vậy, nhà thơ có thể sử dụng nhiều kiểu câu bất
thường như đảo ngữ, câu tách biệt, câu vắt dòng, câu trùng điệp nhưng không
làm ảnh hưởng đến quy trình tiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản, trái lại chính
(Nguyễn Du - Truyện Kiều )
- Từ ngữ trong thơ chứa đựng tiếng vang, ta cảm giác được cái ý cái
tình, cái cảnh quan cái chữ trong sự kết hợp của chúng. Tố Hữu trong bài Thơ
là tiếng nói đồng ý, đồng tình, tiếng nói đồng chí đã nói: Chữ nghĩa không
phải chữ a, chữ b mà cả tiếng vang trong chữ, tiếng vang cả khoảng cách
giữa những chỗ, những dòng.
Trong từ ngữ của thơ, có những từ ngữ đóng vai trò là chìa khóa của
bài thơ, là từ đặc biệt mang âm hưởng riêng, sắc thái riêng của bài thơ, là
16
điểm sáng trong bài thơ. Không nhất thiết là bài thơ nào cũng có những từ
như thế nhưng nhìn chung, từ đều được nhà thơ chọn lựa kĩ càng, dồn vào nó
sức căng của bài thơ.
- Từ ngữ trong thơ có sức tạo sự liên tưởng nhiều tầng. Từ ngữ được sử
dụng trong bài thơ rất đậm đặc những loại từ giàu hình ảnh, giàu màu sắc,
đường nét âm thanh, nhạc điệu. những loại từ đó có khả năng gợi hình, gợi tả
rõ nét về đối tượng. Trong hệ thống vốn từ tiếng Việt những từ có khả năng
trên người ta gọi là từ: tượng thanh, từ tượng hình, phần lớn chúng là từ láy:
Xập xè yến lượn lầu không
Cỏ lan mặt đất rêu phong dấu giày
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Từ láy xập xè vừa gợi hình tượng âm thanh, vừa gợi ra một hình ảnh thị
giác. Nó miêu tả dáng bay của con chim, tiếng lé xé của đôi cánh chim, đồng
thời cũng gợi ra sự vắng lặng của ngôi nhà cũ trong tâm trạng chơ vơ của Kim
Trọng khi trở lại vườn đào.
- Từ ngữ được sử dụng trong thơ mang tính biểu cảm. Mỗi bài thơ đều
gợi ra một phương diện nào đó của cuộc đời, đều chứa đựng những suy nghĩ,
cảm xúc riêng của mỗi nhà thơ về con người, cuộc sống. Sự biểu cảm của từ
nên câu [30, tr.18].
1.2.2. Đặc điểm của từ
a) Từ là đơn vị ngôn ngữ gồm một hoặc một số âm tiết, có nghĩa nhỏ
nhất.
Từ được cấu tạo bởi hình vị, từ khác hình vị ở chỗ từ mang nghĩa.
Ví dụ: Ăn, ở, nhà, xe, vội vàng, rung rinh, nóng nảy,…
Các từ: ăn, ở, xe, nhà là những từ gồm một âm tiết. Còn các từ: vội
vàng, rung rinh, nóng nảy, thơm tho… là những từ có hai âm tiết, trong đó
18
một âm tiết mang nghĩa gốc (vội, rung, nóng, thơm), còn âm tiết còn lại chỉ là
đơn vị khu biệt nghĩa (vàng, rinh, nảy, tho).
b) Từ có cấu tạo hoàn chỉnh
Từ luôn xuất hiện với tư cách là một khối chặt chẽ cả về nội dung ngữ
nghĩa lẫn hình thức cấu tạo. Chúng ta không thể chiêm xen bất cứ một yếu tố
phụ nào vào giữa các yếu tố cấu thành một từ như cụm từ. Ở ví dụ trên, vội
vàng, nóng nảy, thơm tho là một từ, ta không thể chiêm xen yếu tố phụ vào
giữa vội và vàng, nóng và nảy, thơm và tho. Còn ở trường hợp khác như: ao
cá là cụm từ ta có thể chiêm xen yếu tố phụ vào giữa: ao và cá để thành ao
nuôi cá, ao thả cá…
Tính hoàn chỉnh của từ mới giúp chúng ta xem xét trong cấu tạo nội bộ
của từ, phân biệt từ với cụm từ.
c) Từ có khả năng vận dụng tự do để tạo câu
Khả năng tự do này thể hiện ở chỗ từ có thể kết hợp nhiều từ khác để
tạo nên các câu. Hình vị cũng giống như từ ở chỗ là đơn vị nhỏ nhất nhưng
hình vị không có khả năng hoạt động tự do mà luôn bị ràng buộc trong từ.
Đây là đặc điểm để ta phân biệt từ và hình vị.
Ví dụ: Biệt thự là một từ độc lập, nó có khả năng kết hợp tự do với từ
thăm nhưng do mặc cảm bệnh tật Hàn Mặc Tử trốn không gặp, Thương
Thương tuy là một bóng dáng khuynh thi, nhưng ngoài đời cũng hết sức mơ
hồ và xa xăm. Tuyệt vọng về tinh thần, mặc cảm về bệnh tật, Hàn Mặc Tử rơi
vào trạng thái cuồng loạn khủng khiếp. Trước số phận bi đát đó thì tình cảm
bạn bè dành cho thi sĩ, và tình cảm của thi sĩ đối với cuộc đời với thơ ca đã
xoa dịu cõi lòng tan nát của nhà thơ. Các tập thơ, kịch thơ, thơ văn xuôi lần
lượt ra đời, đó cũng chính là cách mà nhà thơ vượt ra khỏi sự truy đuổi của
đau thương và cái chết. Trước khi chết, Hàn Mặc Tử đã gác lại chuyện văn
chương, lấy lại trạng thái tĩnh tại trong tâm hồn để đi vào cõi vĩnh hằng một
cách nhẹ nhàng vào ngày 11 tháng 11 năm 1940.
20
Tài năng thơ ca của Hàn Mặc Tử được bộc lộ rất sớm. Tài năng đó
trước hết được bộc lộ ở thơ Đường luật. Khi mới 15 tuổi với bút danh là Minh
Duệ Thị, Hàn Mặc Tử đã làm nhiều bài thơ xướng họa với anh trai của mình
là Mộng Châu (tức Nguyễn Bá Nhân), Mộng Châu là một nhà thơ Đường luật
sành nghề. Chính nhờ anh trai mà sự nghiệp học hành và sáng tác của thi sĩ
vẫn được tạo đà phát triển sau khi bố qua đời.
Với hy vọng phát triển một tài năng, mẹ Hàn Mặc Tử đã gửi thi sĩ ra
Huế học, ở đây thi sĩ đã nhanh chóng hòa nhập và thích nghi với xứ Huế yên
ả, thanh bình, phong cảnh nên thơ. Những yếu tố này in dấu khá rõ trong các
bài thơ của ông.
Khi Phan Bội Châu mở Mộng du thi xã và tổ chức thi thơ, Hàn Mặc Tử
đã gửi mấy bài thơ dự thi (Kí tên là Phong Trần) và đạt giải nhất. Phan Bội
Châu đã hết lời ca ngợi: Từ về nước đến nay, tôi được xem thơ quốc âm cũng
khá nhiều, song chưa gặp được bài nào hay đến thế…Ôi hồng Nam nhạn Bắc,
ước ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau cười lên một tiếng lớn ấy là thỏa hồn
thơ đó. Từ đó, tên tuổi của Hàn Mặc Tử càng được khẳng định và tôn vinh.
giận…càng làm cho thế giới nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử trở thành một
hồn thơ dị biệt. Những hình tượng độc đáo, trí tượng tưởng phong phú, những
cảm giác siêu thực,…tạo nên sự lôi cuốn hấp dẫn của thơ Hàn Mặc Tử.
Duyên kì ngộ và Quần tiên hội: là những vở kịch thơ viết chưa hoàn
thành. Lúc bấy giờ Hàn Mặc Tử đang ở trên ranh giới giữa sự sống và cái
chết, thế nhưng lời thơ vẫn rất trong sáng, thiết tha, khao khát một sức sống
mãnh liệt. Trong hai vở kịch này, không gian trần tục được thay thế bởi không
gian thơ mộng, cao sang của cõi tiên với tiếng chim hót, bóng trăng, tiếng
tiêu ngân…với một giai nhân tuyệt sắc Thương Thương cùng thi sĩ đã tôn
thêm vẻ đẹp và tình yêu làm nên một thế giới riêng.
22
Chơi giữa mùa trăng và những bài thơ chưa in vào tập càng khẳng định
tài năng, tình yêu cuộc sống, một nghị lực và một bản lĩnh hiếm có của Hàn
Mặc Tử. Thế giới trong tập thơ văn xuôi là một thế giới Hàn Mặc Tử ngất
ngây trong cõi tiên, cõi mộng không cùng. Ở đó có nước nhược, non bồng,
nhà thơ tự do chơi trong đó, để chiêm bao, để hát khúc li tao.
Điểm trung tâm để làm cho thơ Hàn Mặc Tử trở thành một nguồn thơ
dị biệt đó là trong thơ Hàn Mặc Tử tình yêu cuộc sống, tình yêu thơ ca và chất
Đạo (cả đạo Phật và đạo Thiên Chúa) hòa quyện vào nhau cộng với những
rung cảm và trí tượng tưởng độc đáo đã làm nên một hồn thơ bí ẩn, hấp dẫn.
1.3.2. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bính
Nguyễn Bính tên thuở nhỏ là Nguyễn Trọng Bính sinh năm 1919 tại
làng Thiện Vinh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định trong một gia đình nhà
Nho nghèo. Thuở nhỏ, Nguyễn Bính ở nhà học với cha là ông đồ Nguyễn
Đạo Bình (ông cả Biền), sau được cậu ruột là ông Bùi Trình Khiêm đưa
về nuôi dạy.
Vì mồ côi mẹ quá sớm (lúc Nguyễn Bính vừa sinh ra được vài ba
mang tính mơ hồ trong lập trường tư tưởng.
Từ 1955 đến 1962, Nguyễn Bính cho in hàng chục tác phẩm thơ. Chủ
đề nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Bính thời gian này là vạch trần tội ác
của bọn Mỹ Diệm, phản ánh tinh thần đấu tranh thống nhất đất nước và tâm
tình “ngày Bắc đêm Nam”. Anh cũng đã chú ý viết những tác phẩm ca ngợi
truyền thống đấu tranh bất khuất, truyền thống văn hóa, tốt đẹp của dân tộc,
ca ngợi sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn miền Bắc.
Năm 1958, Nguyễn Bính về cư trú tại Nam Định, tiếp tục sáng tác, sau
đó nhận công tác tại Ty Văn hóa Thông tin Nam Định (từ 1965 là Nam Hà).
Anh đã góp phần mình vào sự trưởng thành của phong trào tác văn nghệ ở
quê hương và thơ anh vẫn bám sát các yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa
phương cũng như của cả nước.
24
Trước đây, Nguyễn Bính đã sáng tác kịch thơ, thời gian này nhà thơ bắt
đầu viết chèo. Hai vở chèo Cô Son và Người lái đò sông Vị bộc lộ tình cảm
thiết tha đối với truyền thống nghệ thuật dân tộc.
Mùa thu 1965, Nguyễn Bính theo cơ quan Ty văn hóa Nam Hà sơ tán
về huyện Lý Nhân. Ngay từ những ngày đầu giặc Mĩ leo thang chiến tranh ra
miền Bắc, Nguyễn Bính đã có ngay một số bài thơ chống Mĩ cứu nước. Tiếc
rằng nhà thơ đã mất đột ngột vào ngày 20-1-1966, khi nhà thơ chưa kịp sang
tuổi 49, khi nhà thơ vừa hoàn thành và cho in bài thơ Quê hương, một bài thơ
có những nét báo hiệu một giai đoạn mới của thơ anh.
Trong hơn 35 năm làm thơ, viết kịch, viết truyện với một âm điệu giàu
chat trữ tình dân gian, Nguyễn Bính đã tạo được một gương mặt riêng trong
văn học Việt Nam hiện đại.
1.4. Tiểu kết chương 1
Thơ là một loại hình nghệ thuật độc đáo. Ngôn ngữ thơ là một phương