Cảm hứng và chất liệu tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử và Huy Cận - Pdf 37

1

Cảm hứng và chất liệu tôn giáo trong thơ Hàn Mặc
Tử và Huy Cận : / Nguyễn Thị Yến ; Nghd. :
PGS.TS. Trần Khánh Thành . - H. : ĐHKHXH &
NV, 2009 . - 71 tr. + CD-ROM
1. Lý do chọn đề tài
Tôn giáo là một một hiện tượng xã hội mang tính lịch sử, ra đời sớm và có
ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần của nhân loại. Đã từ lâu, tôn giáo và
nghệ thuật có mối quan hệ gắn bó và thâm nhập lẫn nhau, đôi khi thật khó phân
biệt đâu là tác phẩm văn học và đâu là giáo lý của tôn giáo. Tôn giáo là đề tài hấp
dẫn và là nguồn cảm hứng vô tận của các nhà thơ, nhà văn. Nhiều kiệt tác nghệ
thuật thế giới hướng về đề tài tôn giáo. Tôn giáo là vùng lãnh địa hấp dẫn để các
nhà thơ, nhà văn thể hiện khao khát tột cùng của mình về cái đẹp và về miền bí ẩn
khuất lấp trong tâm hồn con người, góp phần hướng con người vươn tới cái thiện.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, mối quan hệ giữa văn học và tôn giáo
khá mật thiết. Thời kì trung đại, văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng khá đậm
của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo. Đặc biệt thời Lý -Trần, Phật giáo chi phối
rất sâu rộng đề tài, cảm hứng văn học, tạo nên dấu ấn đặc sắc trong tiến trình
văn học Việt Nam.
Bước sang thời kỳ hiện đại, cùng với sự giao lưu văn hóa Đông – Tây,
mối quan hệ giữa văn học và tôn giáo có thêm nhiều sắc thái mới. Bên cạnh
sự ảnh hưởng qua lại giữa văn học và các tôn giáo truyền thống phương
Đông, lại có thêm sự ảnh hưởng không kém phần mạnh mẽ của Thiên Chúa
giáo được truyền bá từ phương Tây trong thế kỷ XIX vào đầu thế kỷ XX.
Những nguồn ảnh hưởng qua lại đó được thể hiện khá tập trung ở thơ Hàn
Mặc Tử và Huy Cận. Dù màu sắc và mức độ khác nhau nhưng Hàn Mặc Tử
và Huy Cận đều sử dụng khá nhiều chất liệu tôn giáo và lấy cảm hứng tôn
giáo để sáng tạo những thi phẩm độc đáo, tạo nên một thế giới nghệ thuật hấp



Từ 1945-1987, việc nghiên cứu Hàn Mặc Tử hình thành hai khu vực
phía Bắc và phía Nam. Phía Bắc do điều kiện chiến tranh và quan điểm nhìn
nhận còn khắt khe nên việc khẳng định còn dè dặt và chật hẹp. Trong khi đó ở
phía Nam lại có phần thái quá trong việc đề cao thơ Hàn Mặc Tử.
Từ 1987 đến nay, không khí đổi mới đã giải phóng tư duy, khơi nguồn
sáng tạo cho các nhà phê bình nghiên cứu văn học, việc đánh giá các hiện
tượng văn học trong quá khứ cởi mở và khách quan hơn. Nhiều nhà Thơ mới
đã được nhìn nhận theo một tinh thần mới. Lần đầu tiên Tuyển tập thơ Hàn
Mặc Tử được ấn hành trên toàn quốc. Nhà thơ Chế Lan Viên đánh giá rất cao
người bạn thơ cùng trường phái với mình. Từ đây, việc nghiên cứu Hàn Mặc
Tử lại trở nên hưng thịnh hơn bao giờ hết. Thơ Hàn Mặc Tử được đưa vào
giảng dạy ở trường phổ thông như một trong những gương mặt sáng giá nhất
của phong trào Thơ mới, được đưa vào giảng dạy ở Đại học như một tác gia
của văn học Việt Nam hiện đại. Thơ văn Hàn Mặc Tử được tái bản nhiều lần.
Những công trình nghiên cứu, sưu tầm, hồi ký, chuyên khảo, chuyên luận,
bình giảng về tác phẩm của Hàn Mặc Tử lần lượt ra đời. Các nhà nghiên cứu
đã tìm tòi, khám phá ngày càng sâu sắc hơn về những di sản tinh thần của
Hàn Mặc Tử, có một số nhà nghiên cứu đã tìm đến miền linh thiêng, bí ẩn
trong thơ ông. Tiêu biểu là các bài: Ảnh hưởng Đạo phật trong thơ Hàn Mặc
Tử (Quách Tấn), Hàn Mặc Tử với đức tin, Đạo và đời trong thơ Hàn Mặc Tử
(Yến Lan). Những bài viết này bước đầu đã phân tích mối quan hệ giữa tôn
giáo và cảm hứng sáng tạo nghệ thuật trong thơ Hàn Mặc Tử, tạo những điểm
tựa quan trọng để tác giả thực hiện luận văn này. Yếu tố tôn giáo trong thơ
Hàn Mặc Tử là điều dễ nhận thấy. Nhưng ảnh hưởng của nó thuộc những
phương diện nào trong thế giới nghệ thuật thơ Hàn Mặc Tử? Thuộc phạm trù
tình cảm (Đức tin tôn giáo?) hay tư duy nghệ thuật (Tư duy tôn giáo)? Và tôn
giáo ở Hàn Mặc Tử chỉ thuần là Công giáo hay gồm cả Phật giáo? Từ những


4

nhà thơ Xuân Diệu. Với tâm hồn nhạy cảm, với sự thấu hiểu của một tri âm tri
kỉ, Xuân Diệu đã chỉ ra được những nỗi niềm của Huy Cận trong thơ. Nỗi
buồn nhân thế, tình cảm yêu đời tha thiết, khả năng lắng nghe linh hồn trời đất
của Huy Cận đã được Xuân Diệu lý giải thuyết phục. Trong Thi Nhân Việt
Nam, Hoài Thanh đã chỉ ra một nét nổi trội trong hồn thơ Huy Cận: “Có lẽ thi
nhân trong cuộc viễn du đã có lần nhác thấy cái xa thẳm của thời gian và
không gian, có lẽ người đã nghe trong hồn hơi gió lạnh buốt từ vô cùng đưa
đến” [30]. Như vậy, bên cạnh việc đánh giá Huy Cận như một tiếng thơ tiêu
biểu, đặc sắc của phong trào Thơ mới, các nhà phê bình nghiên đã chỉ ra được
một số đặc điểm trong cảm quan nghệ thuật của Huy Cận, bước đầu đã nhận
ra cõi thiêng liêng, cổ kính, thanh cao trong Lửa thiêng
Sau Cách mạng Tháng Tám, Huy Cận cho ra đời nhiều tập thơ: Trời
mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời, Hai bàn tay em, Những năm
60, Chiến trường gần đến chiến trường xa, Ngày hằng sống ngày hằng thơ,…
đã thu hút được sự chú ý của đông đảo giới phê bình nghiên cứu. Hàng loạt
các bài báo, tiểu luận đã kịp thời khẳng định những thành quả mới của Huy
Cận. Các tác giả đều chủ yếu tâp trung đi sâu vào những đổi mới cơ bản, tích
cực trong hồn và trong thơ Huy Cận sau cách mạng. Có hai chuyên luận khá
công phu về toàn bộ sự nghiệp thơ của Huy Cận. Đó là Thế giới thơ Huy Cận
(1987) của Xuân Diệu và Thi pháp thơ Huy Cận (2002) của Trần Khánh
Thành. Trong Thi pháp thơ Huy Cận, Trần Khánh Thành đã phân tích quan
niệm của Huy Cận về phần hồn của con người trong cuộc sống và trong cõi
trời xưa cõi biếc. Trong nhiều tiểu luận viết về thơ Huy Cận, chúng tôi đặc
biệt lưu tâm đến hai tiểu luận: Ngọn lửa thiêng trong đời và trong thơ của Hà
Minh Đức và Huy Cận, sự khắc khoải không gian của Đỗ Lai Thúy. Giáo sư
Hà Minh Đức tuy còn dè dặt nhưng bước đầu đã đặt vấn đề “Phải chăng Huy


6
Cận đã chịu ảnh hưởng của một tôn giáo nào để rồi hình dung ra bên cạnh cõi

Gồm phần mở đầu, ba chương, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo.
Chương 1: Tôn giáo và mối quan hệ giữa tôn giáo và nghệ thuật
Chương 2: Cảm hứng và chất liệu tôn giáo trong thơ Hàn Mặc Tử
Chương 3: Cảm hứng và chất liệu tôn giáo trong thơ Huy Cận


8

Chương 1

TÔN GIÁO VÀ CẢM HỨNG TÔN GIÁO TRONG VĂN HỌC
1.1. Giới thuyết chung về tôn giáo
1.1.1. Tôn giáo và nguồn gốc của tôn giáo
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, nguồn gốc
nhận thức chỉ là tiền đề làm nảy sinh hiện tượng tôn giáo, chính nguồn gốc xã
hội, sự bất lực của con người trong các hoạt động thực tiễn cải tạo xã hội mới là
nguồn gốc cơ bản, chủ yếu nhất tạo nên tôn giáo.
Trong thực tế, những nguồn gốc dẫn đến sự ra đời, tồn tại của tôn giáo
luôn quan hệ chặt chẽ, thành một thể thống nhất không tách rời nhau. Song vai
trò của chúng không ngang bằng nhau. Vai trò đó phụ thuộc vào điều kiện lịch
sử cụ thể. Tuy nhiên, ở bất cứ đâu, trong bất cứ thời điểm nào, nguồn gốc xã hội,
vẫn là cơ bản, chủ yếu nhất. Nó quyết định xu hướng, nội dung, hình thức, tồn
tại phát triển của nguồn gốc nhận thức và nguồn gốc tâm lý; quyết định sự ra đời
của tôn giáo. Ngược lại, nguồn gốc nhận thức, nguồn gốc tâm lý cũng tác động
trở lại rất to lớn đến sự hình thành, phát triển của tôn giáo và góp phần làm sâu
sắc, phong phú hơn nguồn gốc xã hội.
1.1.2. Bản chất của tôn giáo
Từ tư tưởng của các nhà kinh điển có thể khẳng định, bản chất tôn giáo là
sự phản ánh hư ảo thế giới khách quan vào trong đầu óc những con người chưa
tìm thấy mình, hoặc tự đánh mất mình một lần nữa.

động và nhận thức thế giới, xuất phát từ nhu cầu giao tiếp tư tưởng tình cảm,
nghệ thuật đã hình thành và phát triển không ngừng. Khi tư duy của con
người phát triển, nền nghệ thuật phát triển đến trình độ cao thì tác phẩm nghệ
thuật trở thành món ăn tinh thần cho con người.


10
Văn học nghệ thuật phản ánh hiện thực cuộc sống của con người nơi
trần thế, nơi con người sống với ngổn ngang những suy tư dằn vặt, với
những niềm vui, nỗi buồn, nơi con người có sinh thành, phát triển và có già
cỗi, mất đi, nơi những kiếp người có sinh có diệt. Văn học nghệ thuật
không bao giờ thoát li đời sống. Nó lấy chất liệu từ đời sống phong phú
phức tạp rồi sàng lọc qua quá trình sáng tạo của nhà văn để xây nên những
hình tượng nghệ thuật.
Khác với nghệ thuật, Tôn giáo là hình thức phủ nhận thực tại, là cuộc
trốn chạy hiện thực đời sống trần thế. Tôn giáo hướng con người đến thế giới
thiêng liêng cao cả, nơi trú ngụ của thần thánh cao sang, bất diệt. Thế giới của
Tôn giáo là thế giới được xây bằng trí tưởng tượng, xây bằng niềm mơ ước
thánh thiện. Đó là thế giới có sự sống vĩnh cửu, nơi đó là tâm hồn con người
sẽ được thanh thản, bình yên trong sự cưu mang của Đấng tối cao.
Nghệ thuật và Tôn giáo là hai hình thái ý thức xã hội khác nhau. Bản
chất của Tôn giáo và nghệ thuật không giống nhau, nhưng hai hình thái ý thức
ấy lại có những điểm gặp gỡ, giao thoa nhất định. Điểm hội tụ ấy chính là
những miền bí ẩn nơi tâm hồn con người, là khao khát đền bù những hạn chế,
thiếu hụt trong đời sống con người ở thực tại.
Chính vì thế mà đã từ lâu Tôn giáo đã trở thành để tài hấp dẫn cho nghệ
thuật. Không riêng gì văn học, ở lĩnh vực nhạc, họa, điêu khắc cũng có khá
nhiều tác phẩm nổi tiếng hướng vào đề tài Tôn giáo. Không chỉ là đề tài mà
Tôn giáo còn trở thành nguồn cảm hứng vô tận của các nhà thơ….
Thơ là hiện thực cuộc sống được kết tinh, là sự thể hiện con người và

như một vị thần chuyên cứu giúp người tốt, trừng phạt kẻ xấu. Sau này, vào thế
kỷ thứ 4-5, do ảnh hưởng của Đại thừa đến từ Trung Quốc mà từ "Bụt" bị mất đi


12
và được thay thế bởi từ "Phật". Trong tiếng Hán, từ Buddha được phiên âm
thành "Phật đà", "Phật đồ" rồi được rút gọn thành "Phật".
Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến đời nhà Lý, nhà
Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất
cả mọi vấn đề trong cuộc sống. Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là
quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái. Đến đầu thế kỷ 17, vua
Quang Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất
sớm nên việc này không có nhiều kết quả. Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng
mạnh của quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi
đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư
Khánh Hòa và Thiện Chiếu.
Thành tựu lớn nhất của Phật giáo là đã tìm ra Tứ diệu đế: Đạo Phật
quan niệm cuộc đời là bể khổ(Khổ đế), tất cả mọi ham muốn của con người
không đạt được đều khổ. Nguyên nhân sinh ra khổ là ái dục và vô minh (Tập
đế). Đạo Phật còn chỉ ra con đường để thoát khỏi khổ đau đấy chính là Diệt
đế. Họ cho rằng sở dĩ con người rơi vào vòng đau khổ chính là có nhiều ham
muốn. Do vậy phải tìm cách diệt mọi ham muốn thì con người mới thoát khỏi
vòng luân hồi của bể khổ. Đạo đế chính là con đường tu luyện để thoát khỏi
vòng luân hồi ấy.
Ngày nay, nhìn vào đời sống văn hoá của xã hội Việt Nam ta có thể thấy
các tôn giáo, nhất là hai tôn giáo lớn là Phật giao và Thiên chúa giáo đã và đang
để lại những dấu ấn văn hóa sâu sắc không chỉ trong thơ văn mà còn cả trong
hội hoạ, điêu khắc…. Ngày nay, bên cạnh sự phát triển ngày một lớn mạnh của
kiến trúc hiện đại, Việt Nam vẫn phục hồi kiến trúc cổ xưa, qua việc tu sửa lại
nhàthờ, đền, chùa, miếu mạo, những danh lam thắng cảnh.

tồn tại của một lực lượng siêu nhiên tới sự hiện sinh của con người. Những
nguồn cảm hứng luôn được hình thành và phát triển trong tâm hồn đan xen
lẫn nhau và tất nhiên có sự tác động lẫn nhau. Tôn giáo và văn học nghệ thuật


14
là hai hình thái ý thức xã hội khác nhau nhưng đều có nguồn gốc xã hội rất
lâu đời và đều có sự tác động lớn đến con người.
Tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tinh thần của nhân loại.
Không biết tự bao giờ, con người đã đi vào cái thế giới khác lạ với cõi trần
gian này bằng cả một cuộc hành trình đầy bí ẩn của cõi tâm linh. Nơi ấy có sự
vĩnh hằng, có sự uy nghiêm của đấng tối cao, nơi ấy có ánh sáng lung linh
huyền ảo, nơi ấy có sự linh thiêng huyền bí có thể cứu rỗi tâm hồn con người.
Con người đến với tôn giáo cũng là quá trình tự cắt nghĩa về bản thân mình,
kiếp người với sự sống và cái chết, giữa quá khứ và tương lai, giữa hữu hạn
và vô hạn, giữa sự bất biến và khả biến luôn luôn làm cho con người phải trăn
trở và suy nghĩ. Tôn giáo tồn tại trong đời sống tâm linh của con người, nó
như một dòng chảy, một luồng suy tưởng, nó là cái gì đó vừa mơ hồ, vừa hiện
hữu. Nó có sự “thiên biến vạn hoá” và cần vươn lên một cái đích, không phải
là sự ngự trị, chiếm hữu tâm hồn mà nâng tâm hồn con người lên cao.
Tôn giáo cũng được xây dựng bằng những cảm xúc mãnh liệt và bay
bổng. Nếu không có sự tưởng tượng phong phú thì không thể có tích hay đến
thế. Vì vậy, ở một số nhà thơ, cảm hứng tôn giáo đã thâm nhập vào nội dung
cảm hứng thơ ca. Tago ở Ấnn Độ là một ví dụ, và còn nhiều nhà thơ khác đã
thành công trong việc lồng ghép, giao thoa cảm hứng tôn giáo và cảm hứng
thơ để cho ra đời những tác phẩm sẽ còn sống mãi với thời gian, tất nhiên,
trong số đó có Hàn Mặc Tử. Hàn Mặc Tử trước khi là thi sỹ đã là một con
chiên ngoan đạo của Chúa. Thơ Hàn Mặc Tử vừa phản ánh cuộc đời trần thế,
vừa phản ánh thế giới vô biên cực lạc, vừa phản ánh cái hữu hình của cuộc
sống con người, vừa phản ánh cái vô hình của cuộc sống tâm linh và Đấng

không thể bác bỏ. Đọc Hàn Mặc Tử, người ta “vấp” ngay phải vấn đề tôn
giáo. Tuy nhiên việc nhận diện thì hết sức phân hoá. Dựa hẳn vào con người
công giáo của thi sĩ, nhiều người đã mặc nhiên coi Hàn Mặc Tử là “nhà thơ


16
công giáo” tức là chỉ thừa nhận yếu tố Kitô giáo mà thôi. Một số khác khách
quan hơn, khoa học hơn đã dựa vào các chất liệu Kitô giáo đã từng phổ biến
trong Kinh thánh, từ Đức bà Maria đến đấng chí tôn để kết luận Hàn Mặc Tử
là “nhà thơ Công giáo”. Rõ ràng, ảnh hưởng rất đậm của Thiên Chúa giáo
trong thơ Hàn Mặc Tử cũng là thực tế khó bác bỏ.
Như vậy, trong thơ Hàn Mặc Tử, Đạo chính là nguồn cảm hứng bất tận để
làm giàu thêm cho thơ anh. Không chỉ Đạo thiên chúa mà ngay cả đạo Phật đều
là nguồn an ủi vô bờ mỗi khi tác giả bị đau về thể xác và tinh thần. Như phần
trên đã nói, phần độc đáo, sáng láng nhất của tâm hồn Ông chính là anh đã đưa
thơ lên đỉnh cao mới - Một tôn giáo riêng mình để rồi tôn sùng chiêm bái như
một con chiên ngoan đạo. Chính vì vậy mà đã có thứ thơ cầu nguyện ra dời. Hàn
Mặc Tử đi vào tôn giáo chính là ham muốn làm giàu đẹp thêm cho thơ mình chứ
không phải để truyền bá giáo lý tôn giáo. Quách Tấn đã có lý khi viết: “Tử là
một nhà thơ – ông viết – đi vào vườn hoa tôn giáo chỉ để tìm hương phấn về
ướp cùng hương thơ đó thôi” [11, tr.41]. Như thế, có thể thấy những vang bóng
của thế giới Phục sinh Khải huyền, thế giới cực lạc Quốc độ, nhữg thế giới
Huyền diệu mà Hàn Mặc Tử dày công xây cất ở đây chỉ là “cõi thanh tịnh của
lòng” mà thôi. Khác với “chốn nước non thanh tú” và “trời sâu” là sự phản ánh
thế giới thực tại, là ý thức về một thực tại hiện hữu, “Thế giới Huyền diệu” là thế
giới của “Mơ ước hoàn toàn”, cho nên Hàn Mặc tử phải chưng cất những gì là
tinh tuý, tinh anh của thực tại để sáng tạo, và nếu không đủ dùng, ông phải vay
mượn những vật liệu có sẵn của Đạo giáo, Phật giáo, đặc biệt là của Thiên chúa
giáo – giáo phái mà ông vốn là một con chiên, là điều dễ hiểu. Hàn Mặc Tử như
một vườn hoa đậm sắc thơm hương của tôn giáo cùng chung tiếng nói hướng về

không kém đối với sự sống của Người. Có một điểm gặp nhau rất màu nhiệm


18
trong Hàn Mặc Tử để rồi sản sinh ra những bông hoa sáng tạo tuyệt vơi. Cùng
lúc tác giả vừa khao khát cái đẹp vĩnh cữu của thơ ca vừa khao khát chốn thiêng
đầy quyền uy của Đức Chúa:
Hàn Mặc Tử đã có niềm tin tuyệt đối vào thơ và Đức Mẹ Maria. Niềm
tin ấy vừa là điều kiện vừa là bản chất sống và sáng tạo trong Hàn Mặc Tử.
Nếu không có đức tin ấy, Hàn Mặc Tử không thể chống lại sự đau đớn về thể
xác, suy sụp về tinh thần mỗi khi lâm trọng bệnh. Chả thế mà càng giai đoạn
cuối đời, Hàn Mặc tử sáng tác càng mãnh liệt. Tiếng thơ giai đoạn cuối đời là
tiếng thơ trong trẻo, bí ẩn và khao khát hướng về cõi sống nhất:
“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay”
(Đây thôn Vĩ dạ)
“Tối nay” là một hiện tại ngắn ngủi. Trăng nếu về kịp sẽ giải thoát nỗi đau
thương trong Hàn Mặc Tử. “Có chở trăng về kịp tối nay” là một câu hỏi lớn, cũng
là khao khát mãnh liệt hướng về cõi sống, cõi sáng của Hàn Mặc Tử. “Thuyền ai
đậu bến sông trăng đó” vừa là câu hỏi nhân tình nhưng cũng vừa là câu hỏi nhân
sinh gọi về sự sống. “Tối nay” thôi, có thể về “kịp” không? Chữ “kịp” là tiếng nói
của sự khẩn cầu, khẩn cấp. Đây là tiếng gọi sự sống tối thiểu trong hiện tại ngắn
ngủi, tối nay chứ không phải một tối bất kỳ nào khác. Ngay trong lúc sự sống còn
tối thiểu thì Hàn Mặc Tử vẫn còn đức tin và hy vọng tối đa vào cõi sống, vầng
sáng thanh khiết. Như vậy, thêm một lần nữa có thể khẳng định đức tin vừa là
điều kiện vừa là bản chất của sự sống trong Hàn Mặc Tử. Đây là yếu tố không thể
thiếu trong cuộc sống và trong sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ.


19

3.2. Cảm hứng và chất liệu tôn giáo trong thơ Huy Cận trước Cách
mạng Tháng Tám
3.2.1. Niềm tâm sự của kẻ mất thiên đường
Quan niệm về con người cá nhân trong thế giới nghệ thuật thơ Huy
Cận trước Cách mạng Tháng Tám là con người bị mất thiên đường, bị cắt ra
khỏi vũ trụ, bị đày xuống “Xứ hờ” và từ đó bơ vơ lạc lõng giữa chốn trần
gian. Con người trong thế giới nghệ thuật Lửa thiêng được hình dung như một
sinh linh gồm 3 thực thể vừa thống nhất, vừa phân hoá: Linh hồn, tấm lòng và
thân thể. Thân thể là thực thể hữu hạn trong không gian, thời gian, chỉ tồn tại
nơi trần thế, là “Bình thịt xương để chứa đựng linh hồn”. Tấm lòng là thực
thể vô hình luôn gắn liền với thân thể, tồn tại cùng thân thể, là tâm tư tình
cảm của con người. Trong khi thân thể và tấm lòng là hữu hạn, chỉ tồn tại ở
cõi trần thì linh hồn lại trường tồn, bất tử, linh hồn có thể tồn tại trong cả ba
thế giới: Thiên đường, địa ngục, trần gian.
Trong thơ Huy Cận trước Cách mạng Tháng Tám không chỉ có tấm
lòng tuyệt giao với cuộc đời mà còn có cả linh hồn cũng lạc lõng bơ vơ giữa
chốn trần gian. Đấy chính là tình trạng bi đát của con người, kẻ mất Thiên
đường, cô đơn nơi trần thế. Nhà thơ Huy Cận đã dùng tri thức và triết lý của
Thiên Chúa giáo để cắt nghĩa tình trạng cô đơn của con người. Đó chính là
truyền thuyết về Adam và Eva ăn trái cấm (Quả Tri thức) vì vậy họ bị đuổi ra
khỏi Vườn Địa đàng, bị đày ải ở chốn trần gian và chịu cảnh:
Nhưng cô độc đã thầm ghi trên trán,
Lòng lạc loài ngay từ thuở sơ sinh
3.2.2.Triết lý Đạo gia và khát vọng tiêu dao trong vũ trụ
Nếu như ở Lửa thiêng là niềm tâm sự của kẻ mất thiên đường luôn
khát khao trở về với Thượng đế , thì ở Vũ trụ ca là hành trình siêu thoát theo
quan niệm tiêu dao của Trang tử. Đó là hành trình của con người rời bỏ mặt
đất, cưỡi nhật nguyệt để đến trời xa:



Cách mạng Tháng Tám, với Huy cận, tôn giáo chính là lẽ huyền vi cao nhất,
là nơi cảm xúc dễ thăng hoa nhất để cắt nghĩa về cuộc đời. Chính vì vậy, tôn
giáo không chỉ là nguồn cảm hứng mà còn là chất liệu để nhà thơ xây dựng
hình tượng nghệ thuật. Trong Lửa thiêng, Huy Cận sử dụng những chất liệu
và triết lý tôn giáo để cắt nghĩa tình trạng bế tắc của con người trong cuộc đời.
Đến Vũ trụ ca, nhà thơ đã đến với cảm hứng và chất liệu tôn giáo để thể hiện
nhu cầu giải thoát. Sau Cách mạng Tháng Tám, cùng với sự đổi thay của cuộc
sống dân tộc, tư tưởng của Huy Cận cũng thay đổi và cách nhìn nhận về tôn
giáo cũng thay đổi theo. Nhà thơ chủ yếu sử dụng chất liệu tôn giáo như
những phương tiện nghệ thuật để biểu hiện cách nhìn của mình về cuộc sống
con người trong quá khứ. Đây là cách nhìn tự tin, tỉnh táo, thấu hiểu được nỗi
khổ, sự bế tắc của con người để từ đó cảm thông chia sẻ. Cách cảm nhận đó
thể hiện nhất quán trong những bài thơ có liên quan đến đề tài tôn giáo mà
Huy Cận viết sau cách mạng. Tiêu biểu nhất là các bài thơ Chùa Trăm gian,
Trò chuyện với Kim Tự tháp, Các vị La Hán chùa Tây Phương.


23

KẾT LUẬN
Tôn giáo và thơ ca có mối quan hệ khá chặt chẽ trong tiến trình lịch
sử của nhân loại. Thế giới tinh thần của con người rất phong phú phức tạp và
kỳ diệu, có phần sáng tỏ, có phần linh thiêng huyền bí. Con người ở thời đại
nào cũng có đời sống tâm linh. Đó là thế giới thiêng liêng, cao cả mà con
người hướng tới, là niềm tin thiêng liêng mà con người tìm đến để làm điểm
tựa tinh thần vươn tới cái cao cả. Thơ ca là tiếng nói tinh thần của con người,
là khát vọng của con người vươn tới cái đẹp, cái cao cả nên có sự tác động
qua lại giữa thơ và tôn giáo là điều dễ hiểu. Qua thơ Hàn Mặc Tử và Huy
Cận, chúng tôi đã phần nào minh chứng cho điều đó.
Huy Cận đến với tôn giáo với tâm thế và cách nhìn của một thi sĩ, một




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status