Sự vận động phát triển hệ thống chủ đề - đề tài trong văn chương Thiền Phái Trúc Lâm - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ HƢƠNG

SỰ VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CHỦ ĐỀ - ĐỀ
TÀI TRONG VĂN CHƢƠNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam HÀ NỘI – 2013

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN


NỘI DUNG 7
Chƣơng 1: XÁC ĐỊNH NỘI HÀM CỦA KHÁI NIỆM VĂN CHƢƠNG
THIỀN PHÁI TRÚC LÂM 7
1.1. Sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm 7
1.2. Tác giả văn học trong Thiên phái Trúc Lâm 8
Tiểu kết chƣơng 1 10
Chƣơng 2: SÁNG TÁC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM NHÌN TỪ GÓC
ĐỘ CHỦ ĐỀ - ĐỀ TÀI 11
2.1. Khái niệm chủ đề - đề tài 11
2.2. Hệ thống chủ đề - đề tài qua sáng tác của một số tác giả trong Thiền phái
Trúc Lâm 11
2.2.1. Trần Thái Tông 11
2.2.1.1. Con người nhân ái vị tha rộng mở 16
2.2.1.2. Con người giác ngộ với những phẩm hạnh cao cả 19
2.2.2. Tuệ Trung Thượng Sĩ 21
2.2.2.1. Bậc trí có cái nhìn thông đạt xem sống chết là lẽ thường mà thôi. 26
2.2.2.2. Nếp sống đạo Thiền - Suối nguồn hạnh phúc 32
2.2.3. Trần Nhân Tông 34
2.2.3.1. Ngộ: Vô thường vô ngã thiền thơ 36
2.2.3.2. Ngộ: Trực cảm tâm linh thiền thơ 39
2.2.3.3. Ngộ: Thủy nguyệt điền viên thiền thơ 40
2.2.3.4. Ngộ: Lâm tuyền dã thú thiên thơ 42
2.2.3.5. Ngộ: Sơn thôn lạc chiếu thiên thơ 43
2.2.4. Pháp Loa 45
2.2.5. Thiền Sư Huyền Quang 49
Tiểu kết chƣơng 2 56
Chƣơng 3: HỆ THỐNG CHỦ ĐỀ - ĐỀ TÀI CỦA VĂN CHƢƠNG
THIỀN PHÁI TRÚC LÂM TRONG HỆ THỐNG CHỦ ĐỀ - ĐỀ TÀI
CHUNG CỦA VĂN HỌC DÂN TỘC CÙNG THỜI 57
3.1. Chủ đề - đề tài của văn học Việt Nam cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV. 57

việc làm, sự nhập thế tích cực của các vị Thiền sư, các vua quan là những
Phật tử thuần thành đã đưa văn chương Thiền phái Trúc Lâm vào lòng dân
tộc. Đây chính là nét độc đáo mà chúng ta có thể tìm thấy ở thời đại nhà Trần
và đó cũng chính là lý do vì sao người viết chọn đề tài này.
Nhưng vì kiến thức người viết còn hạn hẹp cho nên không sao tránh
khỏi những sai sót trong khi viết, dù đã cố gắng hết sức. Người viết mong
được quý vị hoan hỉ phủ chính và chỉ bảo thêm.

2
2. Lịch sử vấn đề
Đứng về phương diện chính trị - xã hội, nhìn chung các Thiền sư thời
Trần đều là những người có tấm lòng yêu nước nồng nàn, có tinh thần tự chủ
dân tộc cao, xứng đáng là những tấm gương sáng cho đời sau noi theo
Đứng ở phương diện văn học, các Thiền sư thời kỳ này còn là những
nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc. Những sáng tác văn chương của họ đã góp
phần to lớn cho việc hình thành nên văn học viết Việt Nam buổi đầu của thời
kỳ độc lập tự chủ. Bởi vậy, đã có không ít các công trình nghiên cứu về văn
thơ thời kỳ này nói chung và văn thơ của các thiền sư Thiền phái Trúc Lâm
nói riêng.
Việc làm sáng tỏ vấn đề Sự vận động phát triển hệ thống chủ đề - đề tài
trong văn chương Thiền phái Trúc Lâm thời Trần được thể hiện qua các sáng
tác văn chương của các Thiền sư sẽ giúp chúng ta có sự nhìn nhận sâu sắc hơn
triết lý sống của các Thiền sư ở văn học giai đoạn này nói riêng và văn học
Việt Nam nói chung. Từ đó, có sự đánh giá khách quan, đúng mức về những
đóng góp của các Thiền sư thời kỳ này trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
nền độc lập tự chủ cũng như trong lĩnh vực văn học
Hướng nghiên cứu này có các công trình đáng lưu ý như:
- Quyển Thực thể Việt nhìn từ các tạo độ chữ, tác giả Trần Ngọc
Vương, Nhà xuất bản tri thức Hà Nội năm 2010.
- Quyển Văn học trung đại Việt Nam do Lê Trí Viễn chủ biên (tài liệu

hương đất nước - quê hương Thiền tông.
+ Giá trị nghệ thuật về các mặt: thể loại, ngôn ngữ, các thủ pháp nghệ thuật.
- Năm 1985, Ủy ban khoa học xã hội - Viện nghiên cứu triết học cho
xuất bản quyển Lịch sử Phật giáo Việt Nam do Nguyễn Tài Thư chủ biên.
Công trình này bàn về Phật giáo Việt Nam từ khi du nhập từ Ấn Độ sang vào
thế kỉ thứ II cho đến thế kỉ XIX.

4
- Nguyễn Lang, trong quyển Việt Nam Phật giáo sử luận, tập I, NXB
Văn học, 1992 đã dành bảy chương trong tổng số mười lăm chương để giới
thiệu về Phật giáo đời Trần.
- Năm 1995, quyển Thiền học đời Trần do Viện nghiên cứu Phật học
Việt Nam xuất bản, gồm 28 bài viết của nhiều tác giả xoay quanh vấn đề tác
phẩm, tư tưởng của các thiền gia đời Trần.
- Nguyễn Hùng Hậu viết Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, tập I,
Từ khởi nguyên đến thế kỉ XIV – NXB khoa học xã hội, năm 2000 và Trương
Văn Chung bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ về Tư tưởng triết học của
Thiền phái Trúc Lâm đời Trần năm 1996. Cả hai công trình này đều đi vào
phân tích, tổng kết tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm qua việc phân
tích hành trạng và tác phẩm của từng nhân vật Thiền phái như: Trần Thái
Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ, Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang.
- Quyển Lịch sử Phật giáo Việt Nam, (Từ Lý Thánh Tông đến Trần Nhân
Tông) của Lê Mạnh Thát được NXB TP. Hồ Chí Minh ấn hành năm 2002.
- Gần đây nhất vào tháng 11 năm 2008, tại Quảng Ninh đã diễn ra hội
thảo về Trần Nhân Tông nhân 700 năm ngày vị tổ thứ nhất của phái Thiền
Trúc Lâm viên tịch. Trong hội thảo này có rất nhiều bài tham luận khi viết về
Trần Nhân Tông như: Vua Trần Nhân Tông và tinh thần "Bụt Ở trong nhà ,
Vua Trần Nhân Tông và bài học giải phóng dân tộc v.v…
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu

này, tác giả đã sử dụng thao tác phân tích tài liệu để tìm ra những dấu hiệu
đặc trưng có liên quan đến đề tài
Phương pháp so sánh: Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, và
văn học Phật giáo cũng có từ rất sớm nên luận văn so sánh sự vận động phát

6
triển hệ thống chủ đề - đề tài trong văn chương Thiền phái Trúc Lâm với sáng
tác của các tác giả cùng thời khác.
6. Kết cấu luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Xác định nội hàm của khái niệm văn chương Thiền phái
Trúc Lâm.
Chương 2: Sáng tác của Thiền phái Trúc Lâm nhìn từ góc độ chủ đề -
đề tài.
Chương 3: Hệ thống chủ đề - đề tài của văn chương Thiền phái Trúc
Lâm trong hệ thống chủ đề - đề tài chung của văn học dân tộc cùng thời.

7
NỘI DUNG
Chƣơng 1: XÁC ĐỊNH NỘI HÀM CỦA KHÁI NIỆM
VĂN CHƢƠNG THIỀN PHÁI TRÚC LÂM

1.1. Sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm
Đầu thế kỷ XIII, triều đình nhà Lý bắt đầu suy yếu. Các nhà vua khi lên
ngôi còn quá non trẻ, lớn lên ham chơi, bỏ bê việc triều chính. Vua Cao Tông
mải mê xây cung điện, nghe đàn hát. Vua Duệ Tông thì nhu nhược, lại mắc
bệnh cuồng. Trong triều các gian thần, nịnh thần lộng hành nhiễu loạn. Ngoài
xã hội, nhiều năm mất mùa, đói kém triền miên. Nạn hỗn chiến giữa các phe
phái phong kiến càng trở nên sâu sắc.

trai thứ của Trần Thừa là Trần Cảnh lên 6 tuổi. Một năm sau, vào tháng 12
âm lịch năm 1225, Trần Thủ Độ ép Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng, nhà
Trần bắt đầu nắm quyền cai trị.
Khi lên ngôi, Trần Cảnh (Trần Thái Tông) còn nhỏ, mọi việc triều
chính đều trong tay Thái sư Trần Thủ Độ và cha là Nhiếp chính Trần Thừa.
Nhà Trần trải qua 13 đời vua bắt đầu khi vua Thái Tông lên ngôi năm
1225 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Lý và chấm dứt khi vua Thiếu
Đế, khi đó mới có 5 tuổi bị ép thoái vị vào năm 1400 để nhường ngôi cho ông
ngoại là Hồ Quý Ly tức Lê Quý Ly - tổng cộng là 175 năm. Những vị vua và
tôn thất nhà Trần mến mộ Phật giáo, nghiên cứu tu tập và có sự chứng đắc,
điển hình là vua Trần Nhân Tông, sau hai lần đánh thắng quân Nguyên -
Mông (1285 và 1287) đã nhường ngôi lại cho Trần Anh Tông, về làm Thái
thượng hoàng và tu hành trên núi Yên Tử rồi sáng lập thiền phái Trúc Lâm.
1.2. Tác giả văn học trong Thiên phái Trúc Lâm
Đối với thiền phái Trúc Lâm thì Trúc Lâm Điều Ngự Trần Nhân Tông
là đệ nhất Tổ, nhưng tính theo hệ thống truyền thừa của Yên Tử phải kể từ

9
Thiền Sư Hiện Quang là Tổ ban đầu. Sư là người khai sơn chùa Vân Yên
(chùa Hoa Yên ngày nay). Vốn là đệ tử của Thiền Sư Thường Chiếu, dòng Vô
Ngôn thông, nhưng tỏ ngộ nơi Thiền Sư Trí Thông chùa Thánh Quả.
Thiền sư Viên Chứng, cũng gọi là Quốc Trúc Lâm, người đã từng đón
tiếp vua Trần Thái Tông tìm lên Yên Tử năm 1236.
Quốc sư Đại Đăng, người đã tiếp nhận thêm dòng thiền Lâm Tế từ
Thiền sư Thiên Phong người Trung Hoa tại kinh đô Thăng Long và là thầy
của vua Trần Thánh Tông.
Thiền sư Tiêu Dao, là Thầy của Thượng Sĩ Tuệ Trung, cũng gọi là Đại
sư Phúc Đường, vì sư ở Tinh xá Phúc Đường mà Thượng Sĩ Tuệ Trung có bài
thơ tựa "Thượng Phúc Đường Tiêu Dao Thiền sư".
Thiền sư Huệ Tuệ, theo Việt Nam Phật giáo Sử luận của nguyễn Lang

Tiểu kết chƣơng 1

Trên đây, chúng tôi đã trình bày về sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm
Yên Tử và sự truyền thừa của các tác giả văn chương Thiền sư trong Thiền
phái này rất hùng hậu, để thấy văn chương đời Trần được hình thành và phát
triển là nhờ lực lượng sáng tác của những Thiền sư với thể loại phong phú,
nội dung xúc tích, đa dạng, đa sắc thái, thể hiện rõ bản sắc dân tộc đậm tính
nhân văn và giàu lòng yêu nước. Thời kỳ này, có những minh quân sau khi bỏ
áo hoàng bào khoác áo nâu sòng đã hoàn thành rất tốt vai trò Thiền sư vừa tu
tập giải thoát vừa có tinh thần yêu nước thương dân.
11
Chƣơng 2: SÁNG TÁC CỦA THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
NHÌN TỪ GÓC ĐỘ CHỦ ĐỀ - ĐỀ TÀI

2.1. Khái niệm chủ đề - đề tài
Về khái niệm chủ đề - đề tài thì có rất nhiều sách đề cập tới, nhưng ở
đây với nội dung của đề tài luận văn nên người viết chỉ nêu khái niệm chủ đề
- đề tài thuộc Từ điển thuật ngữ văn học của Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi ( chủ biên). Theo sách này thì “khái niệm đề tài giúp ta xác
định tác phẩm viết về cái gì, còn khái niệm chủ đề lại giải đáp câu hỏi vấn đề
cơ bản của tác phẩm là gì” và lấy đó làm cương yếu cho bài nghiên cứu của
mình. Thời Trần xã hội thịnh trị nên hệ thống chủ đề - đề tài chung trong văn
chương của các Thiền sư lúc bấy giờ là đều thấy tính chất vô thường, giả tạo
của vạn vật vũ trụ này và muốn nhân sinh tu hành đạt tới cực lạc giải thoát.
2.2. Hệ thống chủ đề - đề tài qua sáng tác của một số tác giả trong
Thiền phái Trúc Lâm
2.2.1. Trần Thái Tông

Trong bài tựa này vua có nói rằng mỗi khi vua đọc Kinh kim cương tam muội
là trong lòng phát sinh ra trăm ngàn mối cảm hứng. Vì vậy cho nên vua đem
những cảm hứng đó, đem hết ruột gan để làm những lời chú giải Kinh kim
cương tam muội.
Chúng ta biết Kinh kim cương là sự thực tập lấy đi bốn ý niệm về
Ngã, về Nhân, về Chúng sinh, và về Thọ giả. Nếu sống tỉnh thức để có thể
nhận diện được bốn ý niệm đó trong đời sống hàng ngày, để đừng vướng
mắc vào chúng, thì mình đã sống thường trực trong tam muội gọi là Kim
cương tam muội.
Bình đẳng lễ sám văn cũng là một nghi thức sám hối và nay cũng đã
mất, và bài tựa cũng còn được giữ lại trong sách Khóa hư lục. Nếu ta suy tư

13
về đề tài của tác phẩm và nếu căn cứ trên bài tựa thì chúng ta có thể biết rằng
nghi thức này được viết sau Lục thời sám hối khoa nghi và nghi thức này có
một chiều triết học thâm sâu hơn là nghi thức Lục thời sám hối khoa nghi.
Khi có thì giờ nghiên cứu, học hỏi những tác phẩm của vua Trần Thái
Tông, chúng ta nhận thức rằng cái nhu yếu đầu tiên mà chúng ta thấy được
trong các tác phẩm đó là nhu yếu muốn sống tỉnh thức. Vua không muốn sống
đời sống mê ngủ, đắm chìm.
Chúng ta biết tác phẩm Lục thời sám hối khoa nghi là một sự nhắc nhở
không phải chỉ bằng lý thuyết, bằng cách đọc, mà nhắc nhở bằng sự thực tập
mỗi ngày sáu lần. Nhắc rằng con mắt của mình có thể đưa mình đi rất xa; lỗ
tai của mình có thể đưa mình đi rất xa; lưỡi của mình cũng có thể đưa mình đi
rất xa. Và khi đi xa rồi thì mình đánh mất quê hương, mình không thấy được
những cái quan trọng nhất của sự sống. Không thấy được nhu yếu thâm sâu
nhất của cuộc đời mình. Tình trạng của những người không tu học, không có
chính niệm, không có tăng thân là tình trạng gọi là "túy sinh mộng tử", nghĩa
là khi sống thì sống như một người say, khi chết thì cũng chết ở trong giấc
mộng. Sống say chết mộng. Vua không muốn như vậy. Vua nhắc nhở mình

Chuyện Bụt nói về bốn trái núi cho vua ghi chép trong biệt dịch Tạp A
Hàm (Samyukt gamma), và trong Kinh Tăng Nhất A Hàm (Ekattarik gamma).
Ngày xưa vua Trần Thái Tông đã được đọc những kinh đó.
Trong bài tựa Phổ khuyến phát Bồ đề tâm, vì vua nghĩ rằng khi nào có
được tâm bồ đề thì mình sống mới tỉnh thức, mới có hạnh phúc. Vì vậy vua đã
sáng tác một bài văn gọi là "Mời tất cả quý vị hãy phát tâm bồ đề ":
“Công danh cái thế, chẳng qua một giấc mộng dài,
Phú quý kinh người, khó trách “vô thường” hai chữ,
Tranh nhân chấp ngã, rốt cuộc là không,

15
Khoe giỏi khoe hay, rốt cùng chẳng thực,
Tứ đại rã rời thôi già trẻ,
Núi khe mòn mỏi hết anh hùng,
Già cũng vậy, trẻ cũng vậy, sẽ có ngày bốn đại rã rời ra. Anh hùng
cũng vẫy mà người khiếp nhược cùng đều vậy cả.
Tóc xanh chưa mấy mà mầu bạc đã pha,
Kẻ mừng mới đi thì người điếu đã tới
Những người nào bắt đầu có hai màu tiêu muối ở trên đầu, đọc bài này
chắc thấm lắm. Mừng đám cưới vừa xong thì người điếu đám ma cũng vừa tới.
Một bao máu mủ,
Bao năm khổ luyến ân tình
(Nhất bao nùng huyết
Trường niên khổ luyến ân tình)
Đọc những hàng chữ này chúng ta nên nhớ tác giả là ai, tác giả đã từng
yêu, từng khổ. Nhất bao là một cái bao, một cái bọc. Nùng huyết là máu và
mủ ở trong con người của chúng ta. Đó là bất tịnh quán. Con người chỉ là một
bao máu mủ mà thôi. Vậy mà ngày này sang ngày khác, đêm này sang đêm
khác, năm này sang năm khác, nhớ thương, quyến luyến, khổ đau vì người ân,
người tình.

Trần Thái Tông đã thể hiện tấm lòng nhân ái, vị tha, rộng mở qua Khóa
hư lục kể từ khi tiếp nhận lời khuyên của thiền sư Viên Chứng: “Phàm làm
bậc nhân quân thì lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm
lòng thiên hạ làm tấm lòng của mình” (Thiền tông chỉ nam tự). Để được như
vậy con người phải biết sống hòa hợp, thuận theo đạo lý, chung sống trong
một cộng đồng. Mọi người tự ý thức thủ tiêu những ham muốn cá nhân, thay
vào đó là tấm lòng cần phải trang trải. Như vậy, từ con người cá nhân vị kỷ,

17
chứa chất bản ngã đã trở thành con người sống theo tinh thần vô ngã, xa lìa
các ham muốn của đời sống vật chất. Đó là con người có sự biến chuyển nội
tâm đi từ những thái độ hành vi bất thiện đến sự thăng hoa.
Nếu văn học Phật giáo đời Lý, khi đề cập đến hình ảnh con người, dù là
con người vô ngã, vô úy, vô ngôn,… đi nữa, chỉ gợi chứ ít khi tả thì đến văn học
Phật giáo đời Trần, nhất là Trần Thái Tông qua Khóa hư lục đã sử dụng bút pháp
tả thực để mô tả con người từ hình thể bên ngoài đến nội tâm bên trong.
Đoạn văn sau đây trong bài Phổ Thuyết Sắc Thân là một minh chứng :
Xưa kia má hồng sắc thắm, ngày nay xương trắng tro tàn. Mây mịt mùng
khi giọt lệ chứa chan, trăng hiu hắt chốn gió sầu lay động. Canh khuya vắng,
thần sầu quỷ khóc; tháng năm chầy, ngựa xéo trâu quần. Lửa đóm lập lòe dưới
đám cỏ xanh, tiếng trùng nỉ non trên hàng dương trắng. Bia mộ nữa chình, phủ
đầy rêu biếc; chăn trâu hái củi, dẫm sạt lối mòn. Dẫu có văn chương nức
tiếng; dù cho tài sắc nghiêng thành. Nào ai có khác chi ai; rốt cuộc đều về một
mối. Mắt bị "sắc" lôi lên núi kiếm; tai theo "tiếng" gọi đến rừng dao. Đầu mũi
ngửi khói tanh hôi; trong lưỡi ngậm hòn sắt nóng. Thân khiếp sợ đồng sôi tưới
tắm; ý chua cay vạc lửa dầu nung. Trần gian dù trăm tuổi trăm năm; địa ngục
một ngày một tối. Thân mạng con người được nằm trong thực tại của cõi "sinh
là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, cái gì không ưa mà phải hơn là
khổ, cái gì muốn mà không được là khổ, nói tóm lại triền miên trong ngũ trược
giả hợp là khổ ". Đúng như cái nhìn triết lý nhà Phật.

giới hạn, khuyết tật từ trong quan điểm sắc thân thông qua ngòi bút sắc sảo
của bút pháp tả thực văn học Phật giáo ở thời Lý - Trần. Nhờ vậy, con người
sẽ vượt thoát, an trú trong đời sống hạnh phúc, cảm nhận những giá trị thẩm
mỹ từ hiện thực.

19
2.2.1.2. Con người giác ngộ với những phẩm hạnh cao cả
Con người giác ngộ trong Khóa hư lục được bắt nguồn từ khát vọng của
Trần Thái Tông muốn lên núi Yên Tử tu hành để làm Phật, như trong Thiền tông
chỉ nam tự có viết: "chỉ muốn làm Phật chứ không muốn làm gì khác".
So với những khái niệm về con người giác ngộ trước đó, chúng ta sẽ
nhận ra những điểm tích cực, tiến bộ, cụ thể, thiết thực hiện tại của biện chứng
giải thoát. Đến thời Trần Thái Tông, hình ảnh con người giác ngộ được minh
họa qua hình ảnh "lòng lặng mà hiểu, đó chính là chân Phật". Đấy là con người
thấy rõ chân lý một cách trực tiếp, đồng nghĩa "kiến tính thấy Phật tính tại tâm”
và thường sống theo bản tính thường nhiên, trong sáng, liễu đạt các pháp.
Đọc Khóa hư lục, chúng ta thấy Trần Thái Tông xác lập con người giác
ngộ là con người "kiến tính". Khái niệm "tính" được diễn tả bằng nhiều tên gọi
như "giác tính", "bản tính", "pháp tính", " Phật tính", "chân như", "chân tâm",
"chân nguyên". “Kiến tính” là thấy được bản tính thấy được con đường giác
ngộ. Trong bài Tọa thiền luận, Trần Thái Tông nói: “Phàm người học đạo, chỉ
cần thấy tính ". Trong bài Phổ khuyến phát Bồ đề tâm văn, ông viết: "Do thấy
ánh sáng trí tuệ, phản chiếu lại mình thấy được tính mà thành Phật".
Con người muốn thấy được “tính” thì phải tự thân hành trì, không thể
trông cậy vào ai, kể cả đấng siêu hình, đó là con đường "cố thủ nội khán"
(quay đầu nhìn vào phía trong). Tại đây sự trở về quê nhà chính là con đường
giã từ "thả lòng buông bỏ" sự đắm chìm dục lạc của kẻ lang thang phong trần
như bài khai bạch, của Lục thời sám hối khoa nghi khắc họa:
Phượng hoàng đài bạn, hôn hôn thị tửu tham hoan;
Anh vũ lâu tiền, mộng mộng mê hoa thủ lạc

giày rách, miễn sao ích nước lợi nhà. Phải chăng con người giác ngộ là con
người luôn bước ra ngoài thế giới đáo sứ mộng trung huyết mộng? Con người
giác ngộ cũng là con người tự do ra vào thế giới vô thường ảo ảnh. Với tinh

21
thần vô trước, vô trú, con người bước ra khỏi thế giới tư duy hữu ngã, nhị
nguyên phân biệt của sự giới hạn hai đầu giữa sinh và tử, đến và đi, có và
không, một và khác của các cặp phạm trù đối đãi. Họ là con người ung dung
tự tại, đi bất cứ nơi nào họ muốn. Hay khi miêu tả cảnh vật và con người lúc
gần sáng: "Giọt lậu điểm canh tàn, tiếng gà vừa gáy sáng. Bóng đuốc tiệc hoa
vừa dứt, giải sao ngân hán lặn rồi. Giấc điệp lại quay về thế mộng; tiếng
chuông khua vỡ chốn âm thầm. Ánh trăng nhạt ngậm nửa vành non biếc,
vầng trời hồng chưa ló mặt duềnh xanh. Vách xưa tiếng dế nỉ non; đường ngự
vó câu rộn rã. Đầu thành khói lạnh vấn vương; trời thắm sương mai mù mịt.
Đúng là khi đạo sĩ chầu trời; vừa là lúc tăng sĩ hành đạo. Muôn hộ nghìn nhà
chưa mở cửa, một đêm sáu khắc đã nên công. Tất cả đường đời; rối bời kiếp
sống. ôm gối nằm tuy sợ đương đêm; mở mắt ngủ chưa hay trọn kiếp”.
Nhìn chung, con người trong Khóa hư lục được Trần Thái Tông diễn tả
một cách sâu sắc đầy đủ cả hai mặt đạo và đời. Con người ấy luôn chan chứa
và nặng lòng yêu thương quê hương đất nước, luôn lấy lợi ích của cộng đồng
đặt trên lợi ích cá nhân, ở đó không có bóng dáng của sự ích kỷ, tranh chấp,
mà làm sao chỉ ước mong mang lại bình an, hạnh phúc cho người khác. Con
người ấy được ông nâng lên một tầm cao hơn đó là sự tu tập buông bỏ, xem
các pháp là vô thường huyễn hóa, danh lợi là bã phù du, tiền tài là sợi dây
ràng buộc, từ đó buông xả tất cả để chứng đắc quả vị giải thoát giác ngộ ngay
giữa cuộc đời đầy nhiễm ô.
2.2.2. Tuệ Trung Thượng Sĩ
Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230 – 1291) tên thật là Trần Tung là con trai
Trần Liễu, anh ruột Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn và cũng là anh ruột
hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm vợ vua Trần Thánh Tông. Khi Trần


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status