ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ MINH GIỚI
QUAN NIỆM VĂN HỌC LÀ VŨ KHÍ
CÁCH MẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ
ĐỐI VỚI THƠ 1945-1985 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Hà Nội – 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
TRẦN THỊ MINH GIỚI
QUAN NIỆM VĂN HỌC LÀ VŨ KHÍ
CÁCH MẠNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ
ĐỐI VỚI THƠ 1945-1985
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 62 22 34 01
1.2.1. Đề cƣơng văn hóa (1943) 35
1.2.2. Chủ nghĩa Mác và văn hóa Việt Nam (1948) 39
1.2.3. Thƣ của Ban Chấp hành T.Ƣ. Đảng gửi các kì Đại hội Văn nghệ 42
1.3. Ý KIẾN CỦA CÁC VỊ LÃNH ĐẠO VÀ CÁC NHÀ LÝ LUẬN VĂN NGHỆ
KHẲNG ĐỊNH TÍNH CHẤT VŨ KHÍ CỦA VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT 50
1.3.1. Quan niệm VH-NT là một mặt trận của Chủ tịch Hồ Chí Minh 50
1.3.2. Quan niệm VH-NT phục vụ chính trị của Trƣờng Chinh 53
1.3.3. Phạm Văn Đồng với quan niệm “VH-NT là một thứ vũ khí tƣ tƣởng rất
sắc bén” 61
1.3.4. Ý kiến của một số nhà lí luận mĩ học Mác-xít 68
1.4. Từ quan niệm văn hóa văn nghệ là mặt trận, là vũ khí đến quan niệm vũ khí
thơ 77
1.5. TIỀU KẾT 84
iv
Chƣơng 2. ẢNH HƢỞNG CỦA QUAN NIỆM VĂN HỌC LÀ VŨ KHÍ ĐỐI
VỚI TIẾN TRÌNH VẬN ĐỘNG CỦA CẢ NỀN THƠ VÀ HÌNH
TƢỢNG THƠ 86
2.1. NỀN THƠ VẬN ĐỘNG VÀ PHÁT TRIỂN THEO ĐỊNH HƢỚNG CHIẾN
ĐẤU 86
2.1.1. Lực lƣợng sáng tác đƣợc tổ chức thành một đội ngũ 86
2.1.2. Tính chiến đấu là một yêu cầu khách quan đối với văn học nói chung và
thơ ca nói riêng 90
2.1.3. Phƣơng pháp sáng tác Hiện thực xã hội chủ nghĩa là phƣơng pháp sáng
tác tối ƣu của văn học cách mạng 95
2.1.4. Hiện thực cách mạng là nội dung phản ánh của thơ 102
2.2. NHỮNG HÌNH TƢỢNG CHUNG CỦA CẢ NỀN THƠ 104
2.2.1. Hình tƣợng Tổ quốc thiên về truyền thống chống ngoại xâm 105
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 1. ĐCS : Đảng Cộng sản
2. BCH TW : Ban chấp hành Trung ƣơng
3. HTXHCN : Hiện thực Xã hội chủ nghĩa
4. HNV : Hội Nhà văn
5. HNVVN : Hội Nhà văn Việt Nam
6. KHXH : Khoa học Xã hội
7. KHXH và NV : Khoa học Xã hội và Nhân văn
8. LATS : Luận án Tiến sĩ
9. Nxb : Nhà xuất bản
10. TCVH : Tạp chí Văn học
11. TCNCVH : Tạp chí Nghiên cứu văn học
12. TDNT : Tƣ duy nghệ thuật
13. VHNT : Văn học nghệ thuật
14. VNQĐ : Văn nghệ Quân đội
15. XHCN : Xã hội chủ nghĩa
16. [9] : Tài liệu số 9 ở mục Tài liệu tham khảo
17. [5, tr.17] : Tài liệu số 5 ở mục Tài liệu tham khảo, trang 17 1
2
những vấn đề như thế. Bằng chứng là trong những năm gần đây, các Nghị quyết
của Trung ương Đảng Cộng sản về văn hóa văn nghệ vẫn tiếp tục khẳng định vai
trò to lớn của văn học nghệ thuật trong giai đoạn cách mạng mới. Ngày 16-6-
2008, Bộ Chính trị BCHTƯ Đảng đã ban hành Nghị quyết về việc “Tiếp tục xây
dựng và phát triển văn học nghệ thuật trong thời kì mới”, trong đó, Nghị quyết
vẫn coi “nhà văn-chiến sĩ” là một danh hiệu cao quý [8].
1.3. Nghiên cứu thơ ca cách mạng giai đoạn 1945 – 1985 không thể không
nghiên cứu những vấn đề về thi pháp học như quan niệm con người, thời gian,
không gian nghệ thuật, giọng điệu Nhưng tất cả những vấn đề có tính thi pháp
ấy dường như bị chi phối bởi quan niệm thơ. Quan niệm thơ ca là vũ khí là một
quan niệm có sức mạnh chi phối lớn lao đối với nhà thơ và nền thơ trong những
năm chiến tranh. Quan niệm ấy đã đẩy thơ đến địa hạt của hoạt động chính trị,
coi việc làm thơ cũng là làm chính trị. “Làm thơ là làm cách mạng bằng thơ”.
Vào năm 1995, nghĩa là sau khi công cuộc Đổi mới đã tiến hành được gần chục
năm, một nhà thơ đầu đàn của văn học cách mạng vẫn phát biểu và nhấn mạnh
yếu tố cách mạng, yếu tố chính trị trong thơ ca như thế. Khi làm thơ đã là một
hành động có tính chính trị thì những lợi ích chính trị của cộng đồng, của tập
đoàn phải được đặt lên hàng đầu. Có điều, tập đoàn ở đây, cộng đồng ở đây
không còn là “phe nhóm” mà là dân tộc, nhân dân thậm chí là nhân loại trong cái
nghĩa đầy đủ, nghĩa rộng nhất của các từ này. Khi cả cộng đồng đã chấp nhận thì
có nghĩa là quan niệm thơ là vũ khí thời bấy giờ là một chân lí. Đã là chân lí thì
khó ai có thể phủ nhận được.
1.4. Lí luận văn nghệ mác-xít cho rằng, văn học là một hình thái ý thức
thuộc thượng tầng kiến trúc, nó phản ánh ý thức xã hội của các giai cấp khác
nhau. Mà tiến trình vận động của xã hội loài người được nhìn từ góc độ đấu
tranh giai cấp. “Lịch sử của xã hội loài người từ khi có giai cấp là lịch sử đấu
tranh giai cấp” – C. Mác đã phát hiện ra chân lí ấy. Văn học là một thứ công cụ
có công trình nào đi sâu nghiên cứu đề tài này, mặc dù đây đó đã xuất hiện ít
nhiều bài viết có liên quan.
1.7. Nghiên cứu đề tài này, luận án nhằm mục đích tìm hiểu sự hình
thành, vận động và phát triển của quan niệm thơ là vũ khí trong văn học cách
mạng giai đoạn 1945 – 1985; đồng thời tìm hiểu sự ảnh hưởng, chi phối của
quan niệm thơ là vũ khí đối với sự phát triển của cả nền thơ cách mạng, trên các 4
thể loại thơ trào phúng, đả kích và thơ trữ tình nhưng chủ yếu là thơ trữ tình. Mặt
khác, qua việc đi sâu tìm hiểu một số hình tượng tiêu biểu, một số phương diện
chủ yếu của thơ ca giai đoạn này, đặc biệt là mảng thơ đánh giặc với những bài
thơ suy tưởng tổng hợp của các tác giả lớn như Chế Lan Viên, Sóng Hồng, Xuân
Diệu…, luận án tìm hiểu sự vận động và biến đổi của thơ do ảnh hưởng của quan
niệm này.
2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu của luận án là những tác phẩm và tác giả thơ cách
mạng giai đoạn 1945 – 1985; những tác phẩm lí luận và phê bình văn học,
những cuộc tranh luận văn học liên quan trực tiếp đến quan niệm thơ là vũ khí.
Mặc dù xác định đối tượng khảo sát chủ yếu là thơ trữ tình, nhưng để thấy
sự ảnh hưởng sâu rộng và phong phú của quan niệm thơ là vũ khí trong văn học
giai đoạn này, chúng tôi cũng đề cập đến loại thơ trào phúng, đả kích.
Phạm vi nghiên cứu của luận án là thơ ca cách mạng, đƣợc sáng tác và
xuất bản trong nƣớc, giai đoạn 1945 – 1985. Tuy nhiên, trong quá trình nghiên
cứu, chúng tôi có mở rộng đến thơ ca giai đoạn trước 1945 và sau 1985, khi cần
thiết, chúng tôi có thể so sánh, liên hệ với những tác giả, tác phẩm thuộc các nền
thơ khác.
Chọn mốc thời gian nghiên cứu là giai đoạn 1945 – 1985, theo chúng tôi
là hợp lý. Đây là giai đoạn thơ ca thể hiện tính vũ khí rõ rệt nhất dưới sự lãnh
đạo của Đảng về mặt tư tưởng và tổ chức. Tuy rằng cuộc kháng chiến đã kết
chất của nền văn học này. Trong đó, quan niệm văn học nghệ thuật như một thứ
vũ khí là một quan niệm nhất quán, xuyên suốt trong đường lối văn nghệ của
Đảng. Quan niệm đó đã mang tính bản chất, tính hệ thống và toàn diện đã được
các văn kiện của Đảng qua các thời kì ghi lại.
Hoạt động của các tổ chức văn nghệ cách mạng đã nói lên vai trò tập hợp,
lãnh đạo của Đảng đối với văn nghệ sĩ. Các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực văn
hóa, văn nghệ thường được thành lập sau các kì đại hội. Hội Văn hóa cứu quốc
(được thành lập tháng Tư năm 1943 tại Hà Nội, sau khi Đảng Cộng sản Đông
Dương công bố Đề cƣơng về văn hóa Việt Nam) với các hội viên đầu tiên như
Học Phi, Như Phong, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên
Hồng, Nam Cao … trở thành lực lượng nòng cốt sau ngày Tổng khởi nghĩa
thành công. Sau Cách mạng tháng Tám, thông qua tạp chí Tiền Phong – Cơ quan 6
ngôn luận của Hội, các hội viên đã góp phần tích cực trong việc “đấu tranh
chống những quan điểm sai trái lúc đó và giúp cho văn nghệ sĩ cũng như đông
đảo bạn đọc…hiểu được những vấn đề cơ bản của đường lối văn nghệ cách
mạng của Đảng Cộng sản.” [43, tr.650].
Sau đó, vào tháng Bảy năm 1948, trên cơ sở là Hội Văn hóa cứu quốc,
Hội Văn nghệ Việt Nam ra đời với nhiệm vụ “tập hợp các lực lượng văn nghệ sĩ
yêu nước, nhằm phát huy sức mạnh văn nghệ, góp phần vào cuộc kháng chiến
chống thực dân Pháp xâm lược. (…) Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội Văn nghệ
Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình: bồi dưỡng văn nghệ sĩ cũ,
đào tạo văn nghệ sĩ mới, xây dựng những cơ sở đầu tiên của nền văn nghệ cách
mạng Việt Nam theo phương châm: “Dân tộc, Khoa học, Đại chúng.” Đến tháng
Hai năm 1957, trong Đại hội văn nghệ toàn quốc lần II, Hội lại đổi tên thành Hội
Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam. Hội tập hợp rộng rãi các văn nghệ sĩ
miền Bắc trong các tổ chức của nhiều ngành văn học và nghệ thuật.
Ở miền Nam, Hội Văn nghệ Giải phóng cũng được thành lập vào tháng
trận Dân chủ (1936 – 1939). Có thể nói, “nhiều nhà thơ đã biểu lộ niềm vui lớn
khi bắt gặp lí tưởng cộng sản, được “mặt trời chân lí chói qua tim”. Dưới ánh
sáng của thế giới quan Mác-Lênin, thơ cách mạng đã đặt lại một loạt vấn đề như
lẽ sống, quan điểm nghệ thuật, thiên nhiên và xã hội, cá nhân và tập thể, tình yêu
và cách mạng, dân tộc và quốc tế…”[43, tr.1945]. Từ sau thời kì Mặt trận Dân
chủ, tiến bước theo ngọn cờ Mặt trận Việt Minh, văn học cách mạng vô sản lại
một lần nữa khẳng định sức sống mạnh mẽ, một tinh thần lạc quan với mảng thơ
ca trong tù mà đa số tác giả là các chiến sĩ cộng sản kiên trung, bất khuất. Tập
thơ Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh là một tác phẩm tiêu biểu. Ngoài ra, thơ
ca trên báo chí cách mạng và ở các chiến khu cũng rất phát triển về số lượng tác
giả lẫn tác phẩm. “Nhìn chung, văn thơ cách mạng thời kì này cùng hướng về
con đường cứu nước của Mặt trận Việt Minh và đã trực tiếp góp phần vào thắng
lợi của Cách mạng tháng Tám” [43, tr.1945]. Dù “văn học cách mạng vô sản
trước 1945 cũng có nhiều non yếu như về nội dung còn sơ lược, thường phát
biểu trực tiếp những khái niệm chính trị; nghệ thuật chưa có sức hấp dẫn…”
nhưng “giá trị lớn nhất của văn học cách mạng vô sản Việt Nam trước 1945 là đã
trực tiếp phản ánh phong trào cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo và tâm hồn 8
người chiến sĩ cách mạng vô sản, cũng như góp phần vào thắng lợi của cách
mạng.” [43, tr.1946].
Tính tư tưởng, tính nhân dân, tính dân tộc trong thơ ca lại được khẳng
định. Thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa xuất hiện. Phương pháp
sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa dần dần trở thành phương pháp chủ đạo và
trở nên phổ biến. “Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là hiện tƣợng đặc thù
trong văn hóa nghệ thuật nhân loại thế kỉ XX: đây là lần đầu tiên một số nguyên
tắc về khuynh hƣớng nghệ thuật đƣợc đề lên nhƣ những chuẩn mực mang tính
pháp quy, đƣợc coi là độc tôn trong toàn bộ đời sống của các nền văn học dân
tộc. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa là một trong những nhân tố bề sâu để
những phát biểu về sức mạnh của thơ ca qua việc đưa ra các khái niệm “thi giáo”
là hứng, quan, quần, oán (Thơ có thể gây hứng khởi, có thể quan sát, có thể hợp
quần, có thể than oán). Khả năng hợp quần, khả năng gây hứng, than oán chính
là sức mạnh của thơ. Có thể nhận thấy khả năng hợp quần, khả năng than oán ấy
trong Văn học Kiến An (196 – 219) – giai đoạn văn học Trung Quốc từ cuối Hán
đến đầu Ngụy. Tinh thần hiện thực, giọng điệu bi ai khảng khái, hùng tâm tráng
chí của những kẻ anh hùng, những bài thơ khẩu khí hùng hồn … của các tác giả
như Vương Xán, Trần Lâm, Thái Diễm, Từ Cán, Nguyễn Vũ, Tào Tháo, Tào
Thực … đã làm nên một Văn học Kiến An thấm đẫm những dòng lệ bi thương
của một thời kì “cực kì bi thảm và hỗn loạn bởi chiến tranh xâm lược và hỗn
chiến quân phiệt…, [43, tr.1957].
Truyền thống ấy đã được duy trì cho đến thời hiện đại, thời kì văn học
cách mạng của Trung Quốc. Năm 1915, Trần Độc Tú đã đề xướng tinh thần
khoa học, dân chủ, cách mạng trong văn học, văn hóa Trung Quốc. Năm 1917,
với bài phát biểu Bàn về văn học cách mạng, ông đã “chủ trương một nền văn
học tả thực, một nền văn học xã hội. Có thể xem đó là phát súng mở đầu cho
phong trào văn học Ngũ Tứ” [43, tr.1420] dù phải đợi đến 1919 phong trào mới
có nội dung cụ thể và mang màu sắc cách mạng. Tuy vậy, người được coi là tác
giả mác-xít đầu tiên của Trung Quốc lại là Lý Đại Chiêu. Trong bài Văn học mới
là gì, ông đã khẳng định: “Văn học mới phải là một nền “văn học tả thực xã
hội”, một nền văn học chịu sự chỉ đạo của “chủ nghĩa kiên tín (chủ nghĩa Mác-
Lênin)”, phải chống những “nọc độc cũ” của phong kiến và những “nọc độc
mới” của tư sản…” [43, tr.1420]. Tác giả tiêu biểu cho thực tiễn sáng tác kiểu 10
này là Lỗ Tấn. Lỗ Tấn chính là người thầy của văn học vô sản Trung Quốc.
“Tháng Năm năm 1918, truyện ngắn Nhật kí ngƣời điên của Lỗ Tấn đăng trên
Tân thanh niên đã phun một ngọn lửa cháy rực chưa từng có vào chế độ phong
kiến ăn thịt người hàng mấy ngàn năm nay. Đây là một bài hịch chiến đấu triệt
để làm cách mạng xã hội. Tháng Ba năm 1930, Hội Liên minh các nhà văn cánh
tả (gọi tắt là Tả liên) được thành lập, dưới sự lãnh đạo của Lỗ Tấn và Mao
Thuẫn, sau thêm Quách Mạt Nhược. Cương lĩnh của Tả liên có đoạn viết:
“Nghệ thuật của chúng ta phản đối giai cấp phong kiến, phản đối giai cấp tƣ
sản và phản đối khuynh hƣớng của giai cấp tiểu tƣ sản đã mất địa vị xã hội.
Chúng ta không thể không giúp đỡ mà còn phải làm cho nghệ thuật của giai cấp
vô sản nảy sinh…Thái độ của chúng ta đối với xã hội hiện thực là không thể
không tham gia phong trào giải phóng của giai cấp vô sản thế giới;đấu tranh
chống lại các thế lực phản động quốc tế chống lại giai cấp vô sản…” (67,
tr.199). Trong hai năm đầu, Hội đã xuất bản gần mười tạp chí về nhiều lĩnh vực
văn hóa khác nhau: Thế giới văn hóa, Manh nha, Bắc đẩu, Hiện đại tiểu thuyết,
Đại chúng văn nghệ, Văn nghệ tân văn, Văn học nguyệt san…Từ năm 1931, Hội
Tả liên có Cù Thu Bạch tham gia lãnh đạo. Cù Thu Bạch là một người được đào
tạo ở Nga sau Cách mạng tháng Mười (từ 1920 đến 1923), thấm nhuần tinh thần
vận động quần chúng, nên đã ủng hộ chủ trương văn nghệ đại chúng. Có thể nói,
Hội Tả liên đã thực sự có công trong việc tuyên truyền sử dụng tiếng Hán hiện
đại vào trong sáng tác văn học nhờ phương châm đại chúng hóa. Đầu năm 1934,
Cù Thu Bạch đến khu căn cứ. “Ông đảm nhiệm chức vụ Ủy viên giáo dục nhân
dân, kiêm nhiệm công tác của cục nghệ thuật. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Cù
Thu Bạch, “Pháp quy giáo dục Xô viết đã được ban hành, trong đó bao gồm các
chương Công nông kịch xã, Trƣờng nghệ thuật Gorki, Luật tổ chức kịch đoàn Xô
viết, Cƣơng yếu về câu lạc bộ v.v Văn bản quy định phương châm nhiệm vụ
của các tổ chức, nhờ vậy văn nghệ khu căn cứ càng có tổ chức, có tính cách
mạng, tính quần chúng hơn.” (126, tr.457)
Hội Tả liên giải thể vào mùa xuân năm 1936, thì vào năm 1938, Hội
Trung Hoa toàn quốc văn nghệ giới kháng địch được thành lập, Lão Xá làm Chủ
tịch, Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn, Ba Kim cùng phụ trách. Cơ quan ngôn
luận của Hội là tạp chí Kháng chiến văn nghệ. Tuyên ngôn của hội ghi: “Cần
thiết thực đi vào nhân dân, cần ra mặt trận để phát động quần chúng, động viên
Trung Quốc về sau. Nội dung quan trọng nhất của bài viết này chính là quan
niệm văn nghệ phục vụ chính trị, phục vụ đại chúng, phục vụ công nông binh. 13
Tinh thần của Bài nói chuyện là coi văn hóa cũng là một “chiến tuyến”, chiến
tuyến này quan trọng không kém chiến tuyến quân sự. “Trong cuộc đấu tranh
của chúng ta để giải phóng nhân dân Trung Quốc, có nhiều loại chiến tuyến,
nhưng trong đó cũng có thể nói chỉ có hai chiến tuyến là văn và võ, đây chính là
chiến tuyến văn hóa và chiến tuyến quân sự. Chúng ta chiến thắng kẻ thù, trước
hết là dựa vào quân đội có súng trong tay. Nhưng chỉ có quân đội loại này không
đủ, chúng ta cần có quân đội văn hóa, đây là cánh quân đoàn kết, chiến thắng kẻ
thù không thể thiếu được”. Như vậy, Mao Trạch Đông đã đánh giá rất cao vai trò
của văn hóa trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù giai cấp và kẻ thù dân tộc. Ông
cho rằng chiến tuyến văn hóa có tầm quan trọng ngang hàng với chiến tuyến
quân sự. Trong một bài viết khác về sau, có tên là Phê phán tƣ tƣởng phản động
của Lƣơng Thấu Minh (1953), ông nói cụ thể hơn: “Giết người có hai loại, một
loại là dùng súng giết người, một loại là dùng bút giết người. Nhưng che đậy
khéo léo nhất, giết người không thấy máu, là dùng bút giết người” (theo 118,
tr.33). Tư tưởng văn nghệ Mao Trạch Đông đã có ảnh hưởng nhất định đến quan
điểm văn nghệ cách mạng Việt Nam thời kì kháng chiến chống Pháp. Quan điểm
văn nghệ phục vụ chính trị, quan điểm văn nghệ phục vụ cách mạng, phục vụ
công nông binh đã thâm nhập vào Việt Nam từ những năm 1940 theo tinh thần
văn nghệ phục vụ kháng chiến. Và tư tưởng văn nghệ đó đã được vận dụng đến
cả giai đoạn chống Mĩ.
3.3. Quan niệm văn học là vũ khí cách mạng có một cội nguồn thứ hai, rất
quan trọng, là từ nền văn học Nga – Xô viết, nền văn học vô sản lớn nhất trên
thế giới lúc bấy giờ. Từ năm 1930 – 1931, một phong trào cách mạng rầm rộ có
tên là Xô viết Nghệ Tĩnh đã nổ ra ở Việt Nam. Mô hình xã hội dân chủ do giai
cấp công nhân và nông dân nắm chính quyền đã được thực thi hầu hết các huyện
những hi vọng, những quyền lợi, những say mê, những nhƣợc điểm và những ƣu
điểm của giai cấp mình, của giới mình. …Nhà văn chƣa bao giờ và không thể
nào là “con ngƣời có tự do nội tâm”, “con ngƣời nói chung” (39, tr.318). M.
Gorki không chỉ nhấn mạnh tính giai cấp mà còn nhấn mạnh yêu cầu “chuyên
chính vô sản”: “Điều kiện thiết yếu để xây dựng nên một hiện thực nhƣ thế là
nền chuyên chính của giai cấp vô sản, giai cấp mà sức lao động xƣa nay vẫn
làm cơ sở cho nền văn hóa lớn mạnh và phát triển. Nội dung chủ yếu của văn
hóa, thực chất và ý nghĩa của nó là khoa học kĩ thuật, văn nghệ. Mà trong văn 15
nghệ thì văn học là ngành dễ đƣợc quần chúng tiếp thu nhất, và do đó cũng là
ngành có hiệu lực nhất đối với việc giáo dục văn hóa” (39, tr.321). Quan niệm
về văn học gắn với giáo dục, gắn với chính trị, chính quyền như vậy là một quan
niệm rất tiêu biểu cho đường lối văn hóa văn nghệ của các nhà văn cộng sản, từ
Cao Nhĩ Cơ (Gorki) và Cao Nhĩ Sở (bút danh của Lỗ Tấn) đến các nhà văn, nhà
thơ cách mạng Việt Nam.
3.4. Về phương diện truyền thống, trong thơ ca bác học từ thời đại Lý,
Trần đến các thời đại Lê, Nguyễn cũng có rất nhiều ví dụ. Từ sáng tác của Lý
Thường Kiệt, người ta đã nói đến một loại thơ đánh giặc mà tên chữ của nó gọi
là Thoái lỗ thi, có thể hiểu là thơ đuổi giặc. Vũ khí thơ mà chúng tôi nói ở đây
không theo cái nghĩa là ý thức cá nhân mà là một thứ ý thức cộng đồng, tinh thần
tập thể, chiến đấu cho một mục đích cao cả là bảo vệ Tổ quốc. Chính sức mạnh
cộng đồng, sức mạnh tinh thần ấy đã khiến cho các câu thơ của Lý Thường Kiệt,
của vua quan nhà Trần, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Quang Trung … ẩn chứa
tiềm lực mạnh mẽ của cả một đội quân, góp phần đáng kể vào thắng lợi. Ý thức
văn học là vũ khí đã thể hiện rất rõ trong văn học cách mạng Việt Nam cuối thế
kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Những lời kêu gọi chiến đấu, những hào khí hừng hực,
những tình huống bi thương trong các tác phẩm Hà thành chính khí ca, Hà thành
thất thủ ca, Hịch đánh Tây và tuyệt vời trong số ấy là Văn tế nghĩa sĩ Cần
chiến đấu của thơ ca là tuyệt đối. Thơ phải là “bom đạn phá cường quyền”, phải
có “chất thép”. “Những câu thơ buồn nản hay vẩn vơ cũng đều là bạn đồng minh
của giặc” [122]. Hòa bình lập lại, quan niệm văn học là vũ khí tư tưởng nói
chung càng thể hiện rõ hơn, kiên quyết hơn, nhất là trong cuộc đấu tranh chống
phong trào Nhân văn-Giai phẩm. Trong cuốn Qua cuộc đấu tranh chống nhóm
phá hoại “Nhân văn-Giai phẩm” trên mặt trận văn nghệ, Tố Hữu đã nhận định
về phong trào này và những người bị cho là có tham gia vào phong trào như sau:
“Lật bộ áo “Nhân văn – Giai phẩm” thối tha, người ta thấy ra cả một ổ phản
động toàn những gián điệp, mật thám, lưu manh, trốt-kít, địa chủ tư sản phản
động, quần tụ trong những tổ quỷ, với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống
cộng, phim ảnh khiêu dâm;…” [54, tr.9].
Và sau khi nêu ra một loạt các tên tuổi như Phan Khôi, Trần Duy là mật
thám, Thụy An là gián điệp, trốt-kít Trương Tửu, Trần Đức Thảo đến bọn phản 17
đảng là Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt…, Tố Hữu kết luận: “Một đặc
điểm chung là hầu hết bọn chúng đều là những phần tử thuộc giai cấp địa chủ và
tư sản phản động, và đều ngoan cố giữ lập trường quyền lợi giai cấp cũ của
mình, cố tình chống lại cách mạng và chế độ…” [54, tr.17]. Có thể nói, đây là
“vụ án” văn nghệ xuất phát từ quan điểm xem văn học là vũ khí tư tưởng để lại
dư âm và hậu quả lâu dài đến tận bây giờ.
3.6. Quan niệm văn học là vũ khí cách mạng thể hiện trước hết trong các
bài lí luận và phê bình bàn về tính đảng, bàn về phương pháp sáng tác hiện thực
xã hội chủ nghĩa. Một loạt các bài viết trên tạp chí Văn học (Nghiên cứu Văn
học) khi bàn về tính đảng và phương pháp sáng tác đã đề cập đến tính chất vũ khí
của văn học: Một trong những người đề cao tính đảng, nâng tính đảng của văn
học cách mạng lên thành một nguyên tắc là Đặng Thai Mai. Bài viết của ông đầu
những năm 1960 đã coi tính đảng là yếu tố đảm bảo cho sự thành công, cho sự
phong phú của văn nghệ cách mạng: Trên cơ sở những thành tích đã đạt đƣợc,
chính trị là cái quyết định, mà trong tư tưởng chính trị thì quan điểm triết học là
gốc căn bản nhất. Do vậy, thế giới quan là cái quyết định thành công trong sáng
tác. Các tác giả như Nguyễn Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Nam, Hà Minh Đức, Phan
Cự Đệ, Vũ Đức Phúc, Bùi Công Hùng… đều đã tập trung trí tuệ và sức lực của
mình nhằm khẳng định vai trò to lớn của thế giới quan: Tác dụng phức tạp của
thế giới quan đối với quá trình sáng tác văn học, (Nguyễn Văn Hạnh, TCVH,
1966, số 1, tr.37); Vai trò quyết định của tính Đảng và thế giới quan vô sản đối
với sáng tác, (Thành Duy, TCVH, 1965, số 1, tr. 27); Thế giới quan và sáng tác
văn học, (Vũ Đức Phúc, NCVH, 1960, số 3, tr.8); Chủ đề tƣ tƣởng sáng rõ, một
biểu hiện của tính Đảng, (Nguyễn Xuân Nam, TCVH, 1965, số 6, tr.24); Xây
dựng một nền văn nghệ lớn dƣới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, (Phan Cự Đệ,
TCVH, 1975, số 3, tr.99); Về một đội ngũ lí luận phê bình, nghiên cứu văn học
theo quan điểm mác-xít ba mƣơi năm qua, (Phan Cự Đệ, TCVH, 1976, số 6, tr.
22); Nguyên tắc tính Đảng và nội dung tính Đảng trong tác phẩm văn học (101,
tr.224). Vũ Đức Phúc coi văn học là một “công tác”, và công tác này luôn phải
tuân thủ mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước: Nghị quyết Hội nghị
lần thứ 9 của TƢ Đảng và công tác văn học, (TCVH, 1964, số 4, tr.1); Thực
hiện nghiêm chỉnh và triệt để đƣờng lối văn học nghệ thuật của Đảng, (Vũ Đức
Phúc, TCVH, 1974, số.6, tr.106). Bùi Công Hùng là một chuyên gia lí luận về
thơ nhưng ông cũng luôn luôn ý thức về tính chiến đấu của thơ ca, của văn học.
Ông có nhiều bài viết nhấn mạnh tính vũ khí và chức năng chiến đấu của thơ ca
cách mạng… Những bài viết theo phong cách “công tác tư tưởng” ấy kéo dài cho
đến cuối những năm 1980: Vấn đề năng cao tầm tƣ tƣởng trong thơ (TCVH 19
1974, số 5, tr.32); Từ Nghị quyết Đại hội V, suy nghĩ về vấn đề văn nghệ hiện
nay, (TCVH, 1983, số 3, tr.51); Về việc nâng cao tính lí luận và tính chiến đấu
của Tạp chí Văn học, TCVH, 1986, số 6, tr.15); Vận dụng sáng tạo Nghị quyết
Đại hội Đảng lần thứ VI trên lĩnh vực văn nghệ, (TCVH, 1987, số 1 tr.28).