1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
PHẠM THỊ MINH DƯƠNG
VĂN NGHIỆP CỦA PHAN KẾ BÍNH TRONG
NHỮNG CHUYỂN ĐỘNG VĂN HÓA VIỆT NAM
ĐẦU THẾ KỶ XX
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Hà Nội – 2012
2
Chương 1 11
Môi trường văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX 11
1.1. Chính sách văn hó a của Pháp ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
()
11
1.2. Báo chí Việt Nam trước ĐDTC 17
1.3. Sự ra đời và hoạt động của ĐDTC 19
1.3.1. Sự ra đời và tôn chỉ của ĐDTC 19
1.3.2. Hệ thống chuyên mục của ĐDTC 24
* Tiểu kết 30
Chương 2 31
Sự nghiệp văn chương của Phan Kế Bính 31
2.1. Nhà nho Phan Kế Bính và nghề bá o 31
2.1.1. Con đường đến với nghề bá o 31
2.1.2. Phan Kế Bính với chuyên mục “Hán văn” và “Việt Hán văn khảo” trên ĐDTC
32
2.2. Các công trình biên khảo của Phan Kế Bính 37
2.3. Phan Kế Bính và công việc dịch thuật 53
2.4. “Tiể u thuyế t gia” Phan Kế Bính 65
* Tiểu kết 73
Chương 3 74
Nghề báo và di sản của Phan Kế Bính – 74
nhìn từ thực tế thực dân hó a của Việt Nam 74
3.1. Học vấn và những ngả đường “nhậ p thế ”
()
của trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX 74
3.2. Các giá trị văn hóa văn chương Việt Nam đầu thế kỷ XX: lựa chọn xã hội và
lựa chọn của Phan Kế Bính 83
* Tiểu kết 98
KẾT LUẬN 100
Hán học thuần túy, chưa hề chịu ảnh hưởng Tây học trực tiếp” [40, tr. 57].
6
Mặc dù công lao của Phan Kế Bính đối với văn hóa văn chương Việt
Nam đầu thế kỷ XX không nhỏ nhưng những công trình, bài viết về ông lại
khá ít ỏi. Đây đó mới bắt gặp một vài bài báo lẻ tẻ, một bài viết ngắn trong
các sách in chung với tác giả khác và ít được nghiên cứu dưới góc độ như một
tác giả độc lập, ngoại trừ công trình duy nhất Phan Kế Bính – Tác giả và Tác
phẩm của Bùi Văn Vượng. Chưa kể việc người ta thường chú trọng đóng góp
của ông cho sử học, văn hóa mà chưa mấy quan tâm đến vai trò của ông trong
hoạt động văn học. Vì vậy, với đề tài Văn nghiệp của Phan Kế Bính trong
những chuyển động văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX, người viết mong muốn
tìm hiểu những đóng góp của tác giả này , trong so sá nh với những cây bút
khác của Đông Dương tạp chí, cho nền văn học quốc ngữ Việt Nam . Đồng
thờ i cũ ng tì m cá ch lý giả i hoạ t độ ng đó củ a ông , như mộ t cá ch ứ ng xử , đố i
diệ n vớ i chính sá ch thự c dân [trong văn hó a ] của lớp trí thức cựu học Việt
Nam.
2. Lịch sử vấn đề
Như trên đã nói, cho đến nay những tìm hiểu về Phan Kế Bính còn ít ỏi.
Một số công trình, bài viết, nghiên cứu về Phan Kế Bính thường chỉ tập trung
vào văn hóa, sử học và ít quan tâm đến phương diện văn chương. Cũng đôi
chỗ, xt về phương diện văn học, người ta thường nhìn nhận, đánh giá về ông
như một thành tố của nền văn học giao thời và đặt chung trong nhóm Đông
Dương tạp chí. Tiêu biểu là cuốn Nhà văn hiện đại (1942 - 1945) của Vũ
Ngọc Phan. Ở đây, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan có những ghi nhận, đánh
giá bước đầu một phần di sản báo chí của Phan Kế Bính trên tờ Đông Dương
tạp chí qua hai mục “Hán văn” và “Việt Hán văn khảo”. Theo đó, tác giả đã
dành cho Phan Kế Bính những lời khen ngợi rất hùng hồn: “Giản dị và hùng
tráng, đó là hai điều ít khi người ta thấy được trong văn chương của các nhà
nho; vậy mà đọc văn của Bưu Văn, điều đặc biệt mà ta có thể thấy ngay lại
mang tính chất hồi ức, tưởng nhớ, và không chứa đựng nhiều giá trị nghiên
cứu, học thuật.
Tóm lại, những nghiên cứu, tìm hiểu của các nhà nghiên cứu về Phan Kế
Bính là những phục dựng ban đầu chân dung một trí thức cựu học chuyển
theo tân trào và vinh danh di sản của ông. Song, cũng vì thế mà một số đóng
góp của Phan Kế Bính cho văn học dân tộc vẫn còn có thể và cần phải tìm
hiểu kỹ hơn, đó là sự nghiệp báo chí và trước tác văn chương của ông.
3. Mc đch nghiên cu
Luậ n văn sẽ tậ p trung giả i quyế t 2 vấ n đề :
- Nhìn lại văn nghiệp của P han Kế Bí nh theo cá c mả ng : báo chí, dịch
thuậ t, biên khả o, sáng tác.
- Lý giải , đá nh giá lự a chọ n củ a Phan Kế Bí nh trong nhữ ng diễ n biế n
tinh thầ n đầ u thế kỷ XX , và đóng góp của ông đối với sự phát triển của văn
hóa văn học dân tộc.
4. Phạm vi nghiên cu
* Phạm vi thời gian: Trong quãng đời ngắn ngủi của Phan Kế Bính,
khoảng thời gian hoạt động rực rỡ nhất, đưa tác giả trở thành một nhà báo,
nhà văn hoá lớn của Việt Nam gần như trùng khít với sự xuất hiện và kết thúc
của Đông Dương tạp chí: từ năm 1913 đến năm 1919. Dấu mốc năm 1919
này cũng đánh dấu sự suy tàn của chế độ khoa cử Việt Nam – môi trường
giáo dục đào luyện nên những người như Phan Kế Bính. Vì vậy các khảo sát
của chúng tôi sẽ tập trung vào những năm 1913 – 1919.
* Phạm vi tư liệu: Di sản của Phan Kế Bính bao gồm các bài đăng báo và
một số ấn phẩm độc lập. Riêng phần báo chí, do điều kiện bảo quản, lưu trữ ở
Việt Nam, và khuôn khổ thời gian thực hiện đề tài , chúng tôi sẽ khoanh vùng
ở Đông Dương tạp chí. Tuy nhiên Đông Dương tạp chí (1913 - 1919) là một
tư liệu quý hiếm, và các cơ sở lưu trữ quan phương của Việt Nam hiện không
9
có một sưu tập hoàn chỉnh. Ngay trong lưu trữ của thư viện quốc gia cũng chỉ
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có các chương và mục
chính như sau:
Chương 1: Môi trường văn hóa Việt Nam đầu thế kỷ XX
1.1. Chính sách văn hó a của Pháp ở Việt Nam đầu thế kỷ XX
1.2. Báo chí Việt Nam trước Đông Dương tạp chí
1.3. Sự ra đời và hoạt động của Đông Dương tạp chí
1.3.1. Sự ra đời và tôn chỉ của Đông Dương tạp chí
1.3.2. Hệ thống chuyên mục của Đông Dương tạp chí
Chương 2: Sự nghiệp văn chương của Phan Kế Bnh
2.1. Nhà nho Phan Kế Bính và nghề báo
2.1.1. Con đường đến với nghề báo
2.1.2. Phan Kế Bính với chuyên mụ c "Hán Văn" và "Việ t Há n
văn khả o" trên Đông Dương tạp chí
2.2. Các công trì nh biên khả o củ a Phan Kế Bính
2.3. Phan Kế Bính và công việc dịch thuật
2.4. “Tiểu thuyết gia” Phan Kế Bính
Chương 3: Nghề báo và di sản của Phan Kế Bnh - nhìn từ thực tế
thực dân hó a của Việt Nam
3.1. Học vấn và những ngả đường “nhậ p thế ” của trí thức Việt Nam đầu
thế kỷ XX
3.2. Các giá trị văn hó a văn chương Việt Nam đầu thế kỷ XX : lựa chọn
xã hội và lựa chọn của Phan Kế Bính
7. Một vài ký chú
11
Tôn trọng tính lịch sử của sự vật, hiện tượng, chúng tôi sẽ giữ nguyên
cách viết chính tả của báo Đông Dương tạp chí. Vì thế, toàn bộ tên bài cũng
như nội dung trích đoạn bài viết của Phan Kế Bính trong mục “Hán văn” và
“Việt Hán văn khảo” chúng tôi cũng giữ nguyên văn.
Từ tháng 10 năm 1902 đến tháng 2 năm 1908, toàn quyền Đông Dương
Paul Beau đã chủ trương “thay thế chính sách thống trị bằng chính sách liên
hợp”. Năm 1917, toàn quyền Albert Sarraut ban bố “Học chính Tổng quy”
(tức luật giáo dục chung) và hủy bỏ giáo dục truyền thống trên cả ba kỳ.
Trong ba cuộc cải cách giáo dục (1906, 1917 và 1926) thì năm 1906, giáo dục
truyền thống chuyển giao theo cách giáo dục mới, trong đó chữ Nho vẫn được
dùng nhưng bổ sung thêm chữ quốc ngữ, chữ Pháp, Toán và một số môn khoa
học. Cuộc cải cách thứ hai mở ra bằng việc bãi bỏ Nho học, tiếng Pháp trở (
1
)
Để đảm bảo sự tập trung, chúng tôi sẽ khoanh phạm vi tìm hiểu trong quãng thời gian
1910–1920 – thời điểm hoạt động của ĐDTC và tác giả Phan Kế Bính.
13
thành ngôn ngữ chính trong nhà trường Pháp - Việt. Và một dấu mốc cũng hết
sức quan trọng trong khoảng 1906 đến 1917 là việc bãi bỏ thi cử chữ Hán ở
Bắc Kỳ năm 1915, đồng thời việc dạy quốc văn cũng đã phổ thông nhiều
trường học ở thôn quê. Năm 1919 chấm dứt vĩnh viễn cơ chế tuyển dụng quan
lại thông qua khoa cử Hán học. Và cuộc cải cách giáo dục năm 1926 được mở
ra bằng việc tập trung vào các trường sơ học Pháp – Việt: các làng phải mở
trường học, lấy tài chính từ đóng góp của dân, cho học chủ yếu bằng tiếng mẹ
đẻ, tiếng Pháp và Hán tự là những môn không bắt buộc. Mục tiêu duy nhất
của nhà cầm quyền Pháp khi nhấn mạnh việc phổ biến chữ quốc ngữ là để cắt
đứt mọi sự tiếp xúc và liên lạc chặt chẽ giữa người Việt Nam và Trung Hoa
đã có từ ngàn năm trước. Với thực dân, đó là phương tiện tốt nhất để Âu hóa
nho sĩ Việt Nam, từ xưa không biết một nền văn minh nào khác ngoài Trung
Hoa. Nhận xt của Piri, hội viên trường Viễn Đông bác cổ (EFEO) đã xác
ở hai thành phố lớn là Sài Gòn, Hà Nội mà ở cả các thành phố khác như Hải
Phòng, Đà Nẵng, Nam Định, Vinh… cũng có nhà in và nhà xuất bản. Năm
1861 bắt đầu xuất hiện xưởng in Tipô, với bốn công nhân đưa từ Pháp sang.
Nghề in chữ đúc này du nhập vào Việt Nam (tại Sài Gòn), đi theo đạo quân
của tướng Bonard. Ấn phẩm đầu tiên là tờ Công báo của quân đội viễn chinh
Pháp ở Nam Kỳ (Bulletin officiel de Léxpetion de la Cochichine 1861). Năm
1865 xuất hiện một nhà in khác của chính quyền Pháp, in tờ báo đầu tiên bằng
chữ quốc ngữ: GĐB. Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, Việt Nam đã có một hệ
thống các nhà in phần lớn của tư bản Pháp như: Imprimerie Impriale (Nhà in
Hoàng gia) năm 1867, Imprimerie C. Guillaud et Martinon năm 1883,
Imprimrie Mission năm 1884, Imprimerie Ry et Curiol năm 1886 đều ở Sài
Gòn… Nhà in Viễn Đông (IDEO) năm 1905 là nhà in sớm nhất của Hà Nội,
rồi đến nhà in Nordemann (1905), nhà in Đông Kinh (1907)…
Bên cạnh hệ thống nhà in là nhà xuất bản, tiêu biểu như: Chân Phương,
Nam Ký… đã có công không nhỏ trong việc xây dựng nền báo chí và văn học
15
mới của Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX. Báo chí, nhà in, nhà xuất bản
lần lượt ra đời đã thúc đẩy phong trào viết văn, bắt đầu là văn báo chí và đem
lại sự kích thích bước đầu cho cả hai phía: người viết và người đọc. Ở các
nước trên thế giới, báo chí vốn chỉ là phương tiện thông tin. Trong Văn minh
tân học sách cũng đã nói về điều này rất rõ:
Các nước đặt ra báo chí có những danh mục như nhật báo, tuần báo, nguyệt san
và bán nguyệt san. Thể tài thì chia ra chính trị, tin tức, thời sự, quảng cáo…
Phàm việc trong việc ngoài, sáng chế mới, tình hình thương mại, cho đến pháp
luật, mà y học, nông, thợ thuyền, thương gia, chẳng giới nào là không có báo.
Pháp có hơn 1.230 báo quán, Đức có hơn 2.350 báo quán, Mỹ có hơn 14.150
báo quán, Nhật-bản không quận nào là không có báo quán. Trung Quốc gần đây
cũng mở báo rất nhiều. Dân trí sở dĩ được mở mang là chính nhờ đó [11, tr. 80]
Như vậy, có thể nhận thấy tầm quan trọng của báo chí trong việc truyền
nền văn học Việt Nam trong giai đoạn đầu. Những nhà báo, nhà văn đầu tiên
đã góp phần đắc lực vào việc phát huy nền văn học Việt Nam và chính lịch sử
văn học Việt Nam đã đi đôi với lịch sử báo chí. Thời kì sau này, hai tờ báo
quan trọng nhất đã góp phần vào việc xây dựng nền văn học Việt Nam là:
ĐDTC và NPTC. Nguyễn Sỹ Tế đã gọi ĐDTC là “cơ quan văn học đầu tiên
bằng chữ quốc ngữ” [21, tr. 57], dù ĐDTC hay NPTC đều không thể coi là
thuần túy văn chương được, nhưng rất nhiều chuyên mục trên báo đã xoay
quanh vấn đề này: “viết bài khảo cứu và bình luận về văn học, phiên âm và
dịch nghĩa các sách cũ, sưu tập các thơ văn cổ, in các sách quan trọng…” [21,
tr. 189].
Một điều rất mới mẻ mà báo chí đưa lại cho công chúng và đời sống văn
học đầu thế kỷ XX đó là dịch thuật. Có thể nói trước đây, trong một nền văn
17
hóa sử dụng chữ Hán vay mượn làm văn tự chính thức và chưa có các quan hệ
với những nền văn hóa khác, dịch thuật chưa bao giờ là một hoạt động thực
sự. Chủ trương dùng chữ quốc ngữ thay cho chữ Hán của chính quyền thực
dân đầu thế kỷ XX thành nguyên nhân chính thúc đẩy dịch thuật phát triển.
Sự thay đổi văn tự đã cho php phổ biến trong dân chúng nền văn học mới,
nền văn học chữ quốc ngữ cùng với những tư tưởng, những học thuyết Tây
phương thông qua con đường dịch thuật. Những bài dịch từ thơ văn của Pháp
và Trung Hoa sang quốc ngữ lần lượt được đăng trên những mục nói về văn
chương trên các số báo vào những ngày cố định trong tuần. Chưa bao giờ dịch
thuật bao gồm dịch từ Pháp sang Việt và từ văn chương truyền thống sang
chữ quốc ngữ lại phát triển rầm rộ như thời kì này. Công lao dịch thuật của
các tác giả hồi đầu thế kỷ XX như Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Nguyễn
Đỗ Mục… đã được Vũ Ngọc Phan xác nhận khi nhận xt về ĐDTC: “Người
ta có thể lấy ra từ trong ĐDTC tất cả những điều rất tốt của nền văn minh
Trung-hoa cũng như những tư tưởng Tây phương hiện đại, nói khác đi, ĐDTC
có thể cung cấp cho người Việt-nam những gì mà họ cần cho nền văn hóa mới
và báo chí bằng chữ Hán. Loại thứ nhất dành cho những độc giả người Pháp
và những người Việt biết tiếng Pháp; và loại thứ hai nhằm vào những quan lại
bản xứ, nhà nho Tờ báo tiếng Pháp đầu tiên là tờ Le Bullelin Officiel de
l’expedition de la Co-chinchine (Công báo của đội quân viễn chinh Nam Kỳ)
do đô đốc Bonard làm chủ nhiệm ra đời ngày 29-9-1861 ở Nam Kỳ. Đối
tượng phục vụ của những tờ công báo đầu tiên này là người Pháp ở thuộc địa
cùng một bộ phận nhỏ nhân viên bản xứ làm việc trong bộ máy cai trị và
những cơ sở dân sự. Nội dung của các tờ công báo này đăng những nghị định,
công văn đạo luật, các chỉ thị, các bài diễn văn phát ra từ Soái phủ Nam Kỳ.
19
Đồng thời để hướng ảnh hưởng vào đội ngũ quan lại người Việt nên cùng với
báo tiếng Pháp, thực dân cũng đã cho xuất bản báo chữ Hán. Những tờ như
Nam Kỳ viễn chinh công báo hay Xã thôn công báo (xuất bản ở Nam Kỳ) đều
bằng chữ Hán. Đến năm 1893, báo chữ Hán có mặt ở Bắc Kỳ: tờ Đại Nam
đồng văn nhật báo hướng đến đối tượng chính là nhà nho và “chỉ phát hành
trong quan giới”. Báo in bằng hai thứ chữ Hán và quốc ngữ xuất hiện với tờ
Đại Việt tân báo và ĐCTB (1907) là một bước tiến về mặt ngôn ngữ để thông
tin xâm nhập sâu rộng hơn trong giới quan lại người bản xứ.
Bên cạnh đó, nằm trong chiến lược văn hóa nô dịch của thực dân nhằm
đẩy lùi ảnh hưởng của Hán học, báo chí quốc ngữ cũng sớm được triển khai.
Tờ báo tiếng Việt đầu tiên là GĐB, ra mắt ở Sài Gòn ngày 15-4-1865 do chủ
bút đầu tiên là người Pháp, sau đó là sự xuất hiện của một loạt các tờ báo khác
như: Thông loại khóa trình, NCMĐ, LTTV… Điều đó thể hiện qua việc báo
chí tiếng Việt không ngừng tăng lên với sự phong phú và đầy đủ về mặt
chủng loại với tất cả những hình thức thể tài của báo chí như: nhật báo, tuần
báo, bán nguyệt san… Để hiểu thêm nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự ra đời
của báo chí quốc ngữ đầu thế kỷ XX nói chung và ĐDTC nói riêng, có thể căn
cứ vào nhận định của nhà cầm quyền Pháp Sestier về mối nguy hiểm do sách
báo Trung Hoa gây ra và đề nghị biện pháp đối phó trong một tờ trình năm
ở Việt Nam. Schneider sang Việt Nam từ lâu, là người thân cận với các Toàn
quyền từ thời Lanessan, có óc kinh doanh, lập được nhiều nhà in, cơ sở ấn
loát báo chí tiếng Pháp và tiếng Việt. Ông kho giao thiệp với các nhân vật
lãnh đạo trong giới cầm quyền thực dân nên hầu như được độc quyền trợ cấp
hoặc giúp đỡ chuyển báo, mua báo qua những hợp đồng ký với nhà cầm
quyền thực dân trong đó ông cam kết thực hiện những đường lối của thực dân
Pháp. Schneider trở thành một nhân vật có thế lực, ảnh hưởng nhất đối với
21
giới báo chí lúc đó và thực sự trở thành “cai thầu trên lĩnh vực văn hó a , trước
hết là báo chí” [20, tr. 137]. Sau khi thành lập nhiều tờ báo bằng tiếng Pháp,
tiếng Việt ở Nam Kỳ, Schneider ra Bắc và được chính phủ bảo hộ đồng ý cho
xuất bản tờ ĐDTC với sự cộng tác của Nguyễn Văn Vĩnh xuất thân từ trường
Thông Ngôn làm chủ bút. ĐDTC được coi là một “chi nhánh” của tờ LTTV ở
Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Ở đầu trang nhất dưới tên báo ĐDTC ghi rõ dòng chữ
Pháp: “Edition spciale du Lục tỉnh tân văn pour le Tonkin et l’Annam” (Ấn
bản đặc biệt của LTTV cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ).
Trên thực tế, chủ trương này của chính quyền thực dân “gặp gỡ ” và tiếp
tục một trong những đường hướng của phong trào Duy tân do các chí sĩ yêu
nước dấy lên những năm đầu thế kỷ XX. Trong Văn minh tân học sách -
Cương lĩnh hành động của ĐKNT - đã dành một phần quan trọng nói về vấn
đề báo chí. Theo các nhà Duy tân, báo chí có một vai trò quan trọng trong
việc nâng cao dân trí đối với đại chúng. Một mặt báo chí phải góp phần “phá
tan được cái giới câu nệ, tối tăm”, mặt khác phải góp phần truyền bá những tri
thức mới về khoa học, công nghệ, chính trị, xã hội để “loại trừ những kẻ cố
chấp mù quáng, để gieo vào đầu óc dân ta tinh thần khoa học và óc tiến thủ”
Việc cổ vũ, khuyến khích cho việc xuất bản và phát triển báo chí ở Việt Nam
được biện luận và dẫn dụ rất cụ thể:
Thiết tưởng ở kinh đô ta cũng nên đặt một tòa báo, lựa lấy một vị đại thần làm
chủ, lựa một số nhân sĩ sung vào nửa viết bằng chữ nước ta (tức chữ quốc ngữ),
có thể vào tận các làng xã. Và quan trọng hơn, công cuộc Duy tân này hướng
đến mục tiêu “cứu vong cứu tồn”. Đấy là lý do ĐKNT bị đóng cửa vào đầu
năm 1908. Khoảng thời gian sau đó là một quãng trống lớn trong đời sống
chính trị, văn hóa của Việt Nam, nhất là Bắc Kỳ. Để công cuộc bình định
thuộc địa phát triển, người Pháp lập tức tìm mọi cách lấp đầy khoảng “chân
không” này. Và một trong những hoạt động thiết thực là thúc đẩy báo chí giáo
dục phát triển. Vì thế, có thể thấy việc xuất hiện ĐDTC là một tình thế khá
tinh tế: tờ báo hiển nhiên nằm trong chương trình thuộc địa hóa của Pháp
23
song ở đó lại có mạch ngầm tiếp nối của phong trào yêu nước. Việc đề cao,
chú trọng tuyên truyền và học chữ quốc ngữ của ĐKNT đã được tiếp nối
trong ĐDTC; bản thân ông chủ bút cùng với đội ngũ biên tập viên cũng bước
ra từ phong trào này sau khi bị Pháp đàn áp, giải tán
(
2
)
.
ĐDTC là báo tuần, ra mỗi kỳ 16 trang. Chủ bút là Nguyễn Văn Vĩnh.
Đội ngũ biên tập bao gồm: Phạm Duy Tốn, Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục,
Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Trần Trọng Kim, Tản Đà…
Như hầu hết mọi tờ báo, số ra đầu tiên của ĐDTC (15-5-1913) đã cho
biết tôn chỉ mục đích:
Tôi định trở về Saigon đã chừng 15 bữa nay, đã từ giã các bạn quen ở Hà Nội,
định về để cất nóc cái việc tổ-chức đã lâu, là việc in một tờ riêng ở Bắc-kỳ,
Trung-kỳ của báo “Lục tỉnh Tân Văn”. Tờ tiếng ấy đặt tên là ĐDTC, nguyên
mc đch là đem các thuật hay nghề mới Thái-tây mà dạy phổ thông cho
người An-nam. Quan Toàn-quyền, vốn chỉ muốn dùng hết chước mà cho dân
An-nam được học, cho nên tôi đệ chương-trình lên thì ngài duyệt ngay”.
Vẫn trong số 1, bài Giải ưu, chủ bút của báo ĐDTC tiếp tục nói rõ:
công-nghệ thường……….
Đến bài Chữ nghĩa (số 2, 22-5-1913), Nguyễn Văn Vĩnh đã nêu lại
những mục tiêu của tờ báo: Phổ biến văn hoá Tây phương, cổ động học chữ
quốc ngữ, giới thiệu kiến thức thực nghiệp như canh nông, công nghệ, tuyên
truyền cho chính phủ bảo hộ. Nghĩa là, cùng có những mục tiêu như của
ĐKNT, trừ việc tuyên truyền cho chính phủ bảo hộ.
Song song với việc nêu bật mục đích, tôn chỉ hoạt động của mình, ĐDTC
còn thường xuyên in trên mặt báo những “Cẩn cáo” của chính quyền Pháp khi
đề ra chính sách bắt buộc tất cả các trường làng và trường tổng ở Bắc Kỳ phải
mua đọc ĐDTC. Trong số ra ngày 4-1-1914 có “cẩn cáo” như sau: “Thống sứ
Bắc Kỳ ra thông tư cho các tỉnh: mỗi trường tổng sư và hương sư phải mua tờ
ĐDTC để dùng làm sách chỉ nam trong trường học”. Để thâm nhập các trường
học được dễ dàng hơn, ĐDTC mở mục Sư phạm học khoa, là mục dành riêng
cho các thầy dùng làm tài liệu dạy học. Mục này về sau càng mở rộng. Năm
1916, Nguyễn Văn Vĩnh cùng với một số biên tập viên của báo lập ra một phụ
trương của ĐDTC là “Nam học niên khóa”. Sau “Nam học niên khóa” cùng
với ĐDTC đổi thành Học báo vẫn do Nguyễn Văn Vĩnh đứng chủ nhiệm và
trông coi.
25
Là tờ báo quan trọng bậc nhất trong việc tuyên truyền cho văn minh
phương Tây, văn minh Pháp tại thời điểm đó ở Bắc và Trung Kỳ, ĐDTC
không chỉ thường xuyên có chuyên mục dạy, phổ biến chữ quốc ngữ mà còn
đẩy mạnh việc dịch (diễn Nôm) các văn phẩm nổi tiếng chủ yếu của văn học
Pháp, đăng tải các diễn văn, tin tức quan trọng của Phủ Toàn quyền (song ngữ
Pháp, Việt), đến quảng cáo, rao vặt…
Tóm lại, tôn chỉ và mục đích của ĐDTC ban đầu đi theo đường hướng
bài cựu nghinh tân, chú trọng vào những “thuật hay nghề mới” của Thái-tây
nhưng từ năm 1915 trở đi, tờ báo đã có sự chuyển dịch lớn lao về mặt nội
dung khi nghiêng về đường lối văn chương, giáo dục. Lúc này văn chương
35 đến số 52) đôi khi có những chuyên mục mở thêm ra trong một vài số báo
nhất định để phục vụ cho một mục đích chính trị, xã hội hoặc tình hình thời
sự nào đó. Ngay trong số 1, ra ngày 15-5-1913 có mục “Việc trái phá” để
thông tin về việc nm bom xảy ra ngày 26-4-1913 tại “khách sạn Hà Nội” (ở
Hà Nội) và Thái Bình. Hay trong số 17, ra ngày 28-8-1913 có mục “Nước lụt”
để thông báo về tình hình các tỉnh Bắc Kỳ đang rơi vào tình trạng nước lụt
nghiêm trọng. Đôi khi là những vấn đề đưa ra sát hợp với tình hình thời sự lúc
bấy giờ và liên quan đến vấn đề sống còn của người dân An-nam là đê điều.
Trong một loạt các số báo: số 20 (ra ngày 25-9-1913) đến số báo 33 (25-12-
1913) liên tục xuất hiện mục “Luận về đê” bàn về cách thức ứng phó với vấn
đề giữ đê, phòng đê, trị đê.
Bắt đầu từ số 4 (năm 1915), ĐDTC mở thêm mục mới Một lối văn Nôm,
đăng các bài văn của Tản Đà. Về sau, mục này đổi tên là Tản Đà văn tập
(
3
)
. (
3
)
Tuy nhiên hiện nay trong thư viện quốc gia không lưu trữ được các số báo của năm
1915, vì thế chúng tôi không thể khảo sát kỹ lưỡng hơn các chuyên mục trong năm này.