ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THANH NGỌC
YÊU CẦU CỦA NHÀ TUYỂN DỤNG VỀ
NHỮNG KỸ NĂNG CƠ BẢN ĐỐI VỚI SINH VIÊN
TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
(Nghiên cứu các thông tin tuyển dụng trên trang vietnamworks)
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
Hà Nội - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THANH NGỌC
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: 5
4. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu : 5
4.1. Khách thể nghiên cứu : 5
4.2. Đối tượng nghiên cứu : 5
4.3. Phạm vi nghiên cứu: 5
5. Phương pháp nghiên cứu 6
5.1. Phương pháp thu thập thông tin 6
5.1.1. Phương pháp phân tích tài liệu 6
5.1.2. Phương pháp phỏng vấn sâu: 8
5.2. Phương pháp xử lý thông tin 8
6. Giả thuyết nghiên cứu. 8
7. Khung lý thuyết. 9
PHẦN NỘI DUNG CHÍNH 10
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1 Cơ sở lý luận 10
1.1.1. Phương pháp luận 10
1.1.2. Lý thuyết xã hội học 11
1.1.3. Khái niệm công cụ 14
1.2. Cơ sở thực tiễn 16
1.2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 16
1.2.2. Tổng quan về trang tuyển dụng vietnamworks.com 21
CHƢƠNG 2: NHỮNG KỸ NĂNG CƠ BẢN CẦN CÓ CỦA SINH
VIÊN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC THEO YÊU CẦU CỦA
NHÀ TUYỂN DỤNG 24
2.1. Các nhóm kỹ năng cơ bản của sinh viên tốt nghiệp Đại học 24
2.1.1. Nhóm kỹ năng về chuyên môn. 25
2.1.2. Nhóm kỹ năng mềm. 34
2.1.3. Nhóm kỹ năng về quản lý. 43
2.2. Sự khác biệt về yêu cầu tuyển dụng giữa các vị trí tuyển dụng
và loại hình tổ chức, doanh nghiệp. 46
Bảng 3.6: Tự đánh giá của người lao động về khả năng đáp ứng yêu
cầu công việc của các kiến thức được trang bị trong trường
ĐH (%) 72
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Yêu cầu của nhà tuyển dụng về khả năng ngoại ngữ của
sinh viên tốt nghiệp đại học (%): 26
Biểu đồ 2.2: Yêu cầu của nhà tuyển dụng về khả năng tin học của sinh
viên tốt nghiệp đại học: (%) 29
Biểu đồ 2.3: Yêu cầu của nhà tuyển dụng về sự phù hợp của chuyên
ngành đào tạo với công việc tuyển dụng: (%) 31
Biểu đồ 2.4: Những kỹ năng mềm được nhà tuyển dụng đánh giá cao (%): 39
Biểu đồ 2.5: Yêu cầu của nhà tuyển dụng đối với nhóm kỹ năng về quản lý (%): 44
Biểu đồ 2.6: Yêu cầu của nhà tuyển dụng về kỹ năng sử dụng các phần mềm
liên quan đến chuyên ngành đối với từng vị trí tuyển dụng: 48
Biểu đồ 2.7: Yêu cầu của nhà tuyển dụng về kỹ năng giao tiếp đối với
từng vị trí tuyển dụng: 49
Biểu đồ 2.8: Yêu cầu của nhà tuyển dụng về khả năng ngoại ngữ đối
với từng loại hình tổ chức, doanh nghiệp: 51
Biểu đồ 3.1: Mức độ phù hợp giữa công việc đầu tiên sau khi ra trường
với ngành nghề được đào tạo: (%) 73
Biểu đồ 3.2: Đánh giá của nhà tuyển dụng về khả năng hoàn thành tốt công
việc chỉ đúng một phần với chuyên ngành đào tạo của người
lao động (%) 75
2
nguồn nhân lực bậc cao ở nước ta. Đặt mình vào bức tranh chung của giáo
dục thế giới, nền Giáo dục Việt Nam có nhiều cơ hội hơn, đồng thời những
thách thức đặt ra cũng không nhỏ.
Những năm sau đổi mới, mục tiêu xây dựng, cải cách nền giáo dục đại học
luôn luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm nhằm đào tạo nguồn nhân
lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của xã hội và công cuộc phát triển đất nước.
Cùng với sự khởi sắc của điều kiện kinh tế, xã hội, nền giáo dục nói chung và giáo
dục Đại học nói riêng của Việt Nam cũng có những thay đổi đáng kể về chất và
lượng. Năm 1987, Việt Nam có 101 trường Đại học, Cao đẳng, đến năm 2000 con
số này là 178 trường. Như vậy sau 13 năm đã có thêm 77 trường Đại học và Cao
đẳng ra đời. Tính đến tháng 9/2009 con số này là 412 trường, tăng 234 trường so
với thời điểm năm 2000. Cùng với sự gia tăng của số trường, số lượng sinh viên
cũng tăng mạnh từ 162,5 nghìn (2000) lên 222,7 nghìn (2008), đội ngũ giáo viên,
các Giáo sư, Phó Giáo sư cũng tăng gấp 3 lần so với thời điểm 1987. Năm 1997 tỷ
lệ sinh viên/1 vạn dân là 80 đến năm 2009 con số này đạt 195 [3]. Bên cạnh đó,
chất lượng giáo dục Đại học Việt Nam cũng đã có những thay đổi tích cực theo
hướng tiên tiến, hiện đại, đáp ứng theo nhu cầu xã hội. Sinh viên đã và đang được
tiếp cận với nhiều phương pháp dạy học mới, vị trí trung tâm trong hoạt động
giảng dạy đã và đang được chuyển từ người dạy sang người học thay thế dần cho
phương pháp dạy và học truyền thống.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu thì giáo dục Đại học vẫn còn tồn
tại nhiều vấn đề bất cập liên quan tới chất lượng giáo dục mà nguyên nhân
chủ yếu là do Việt Nam chưa có được một công cụ giám sát, đánh giá chất
lượng giáo dục Đại học mang tính phổ quát và được thừa nhận rộng rãi. Khi
chất lượng đào tạo của giáo dục Đại học đang bỏ ngỏ thì vấn đề về đầu ra ở
bậc đại học càng nhận được sự quan tâm của dư luận xã hội. Việc làm của
sinh viên (SV) sau khi tốt nghiệp là một trong những chỉ báo quan trọng để
3
2. Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn.
2.1 Ý nghĩa khoa học.
Về phương diện khoa học, chất lượng đầu ra của giáo dục Đại học luôn
nhận được sự quan tâm của nhiều ngành khoa học trong đó xã hội học nghiên
cứu vấn đề này trên nhiều chiều cạnh, góc độ tiếp cận khác nhau để tìm ra bản
chất của vấn đề. Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận từ góc độ thị trường
lao động để tìm hiểu, nhìn nhận và giải thích, coi sản phẩm của giáo dục là
một loại hàng hóa được làm ra nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng (ở
đây là thỏa mãn yêu cầu của các tổ chức, doanh nghiệp và nhà tuyển dụng).
Thông qua việc phân tích những đánh giá của nhà tuyển dụng về những kỹ
năng thực tế của sinh viên cũng như yêu cầu của nhà tuyển dụng về những kỹ
năng cơ bản đối với sinh viên tốt nghiệp Đại học, nghiên cứu góp phần làm
sáng tỏ các lý thuyết xã hội học như lý thuyết nhu cầu, lý thuyết lựa chọn hợp
lý,… cũng như áp dụng, chứng minh các quan điểm của xã hội học giáo dục,
xã hội học lao động,…
2.2 Ý nghĩa thực tiễn.
- Nghiên cứu góp phần cung cấp các dữ liệu về nhu cầu của thị trường
lao động về những kỹ năng của sinh viên tốt nghiệp đại học, làm cơ sở cho
các trường đại học thiết kế chương trình đào tạo gắn với thực tiễn lao động.
- Nghiên cứu còn giúp sinh viên có định hướng trong việc trang bị các
kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu tuyển dụng.
- Kết quả nghiên cứu còn là thông tin tham khảo cho các nhà tuyển
dụng trong việc thiết kế chương trình tuyển dụng, huấn luyện, đào tạo và phát
triển nhân viên của mình.
5
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Nghiên cứu hướng đến làm rõ những yêu cầu của nhà tuyển dụng về
các kỹ năng cơ bản đối với sinh viên tốt nghiệp đại học, qua đó cung cấp cho
- Tuyển dụng nhân viên tốt nghiệp đại học.
- Các yêu cầu tuyển dụng nêu rõ các kỹ năng cần có đối với các vị trí
tuyển dụng.
Ưu điểm của phương pháp này là đảm bảo được tính khách quan của thông
tin thu được so với một số phương pháp khác như phỏng vấn sâu hay trưng
cầu ý kiến.
Đặc điểm mẫu nghiên cứu:
Loại hình công ty:
Loại hình công ty
Tần suất
Tỷ lệ (%)
Cổ phần
102
34,0
Nước ngoài
61
20,3
TNHH
94
31,3
Liên doanh
43
14,3 7
- Các vị trí tuyển dụng:
Vị trí tuyển dụng
Tần suất
Tỷ lệ (%)
Dự án này đã thực hiện 900 bảng hỏi cho 4 nhóm đối tượng, trong đó cụ thể
là 30 bảng hỏi cho nhóm chuyên gia nghiên cứu giáo dục, 120 bảng hỏi cho
8
nhóm sử dụng lao động, 390 bảng hỏi cho nhóm sinh viên và 360 bảng hỏi
cho nhóm người lao động.
Để đáp ứng các mục tiêu của luận văn, tác giả đã khai thác bộ số liệu của 3
nhóm đối tượng là nhóm sử dụng lao động, nhóm sinh viên và nhóm người lao
động. Trong dự án này, tác giả đã được tham gia với tư cách là thành viên nghiên
cứu, trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng bộ công cụ cũng như quá trình
khảo sát thu thập thông tin và viết các báo cáo chuyên đề cho dự án. Vì vậy có thể
nắm rõ các mục tiêu cũng như các kết quả của dự án, từ đó có điều kiện thu thập
thêm các thông tin định tính phục vụ cho luận văn của mình.
5.1.2. Phương pháp phỏng vấn sâu:
Phương pháp này được tiến hành với một số nhà tuyển dụng tại các tổ
chức, doanh nghiệp nhằm tìm hiểu sự đánh giá của các nhà tuyển dụng về các
kỹ năng thực tế của sinh viên, qua đó thấy được mức độ cung của thị trường
lao động. Bên cạnh đó, phương pháp này còn được tiến hành với một số sinh
viên đã tốt nghiệp đại học nhằm tìm hiểu sự tự đánh giá của sinh viên về các
kỹ năng cơ bản đáp ứng yêu cầu công việc. Dự kiến nghiên cứu sẽ thực hiện
10 phỏng vấn sâu với 2 đối tượng này.
5.2. Phương pháp xử lý thông tin
Thông tin định lượng được xử lý bằng chương trình SPSS.
6. Giả thuyết nghiên cứu.
- Đa số nhà tuyển dụng đều chú trọng tới những kỹ năng đáp ứng nhu cầu
thực tiễn công việc của sinh viên tốt nghiệp Đại học như kỹ năng liên quan đến
trình độ chuyên môn, nhóm kỹ năng mềm và nhóm kỹ năng về quản lý.
- Có sự khác biệt nhất định trong yêu cầu của nhà tuyển dụng về các kỹ năng
đối với từng vị trí tuyển dụng, ngành nghề và loại hình tổ chức, doanh nghiệp.
- Nhìn chung nhà tuyển dụng đánh giá chưa cao về các kỹ năng thực tế
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1. Phương pháp luận
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử đóng vai trò
nền tảng, là cơ sở phương pháp luận cho toàn bộ quá trình nghiên cứu.
Từ quan điểm duy vật biện chứng, nguyên tắc về sự phát triển của các sự vật
hiện tượng được áp dụng để lý giải các vấn đề trong nghiên cứu. Hoạt động
học tập của mỗi con người trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Đối với sinh
viên, sau khi tốt nghiệp đại học sẽ là quá trình đi tìm việc làm và vào làm việc
tại các tổ chức, cơ quan hay các doanh nghiệp. Trong hệ thống xã hội tồn tại
các nhóm xã hội, các tổ chức có mối liên hệ mật thiết với nhau. Do đó khi tìm
hiểu về yêu cầu của các nhà tuyển dụng về các kỹ năng cơ bản đối với sinh
viên tốt nghiệp đại học chúng tối đã đặt nó trong mối tương quan với bối cảnh
xã hội cũng như hoạt động đào tạo của các trường đại học và nhu cầu thực
tiễn của xã hội.
Xuất phát từ quan điểm duy vật lịch sử, nguyên tắc lịch sử cụ thể,
khách quan toàn diện luôn được quan tâm vận dụng và tuân thủ một cách chặt
chẽ. Để tìm hiểu vấn đề nghiên cứu một cách chân thực và chính xác nhất
chúng ta không được áp đặt những ý chí chủ quan, nóng vội, phiến diện mà
phải tìm hiểu một cách khách quan, đặt vấn đề nghiên cứu vào thời điểm lịch
sử cụ thể và thực tế. Soi vào đề tài nghiên cứu yêu cầu của các nhà tuyển
dụng về những kỹ năng cơ bản đối với sinh viên tốt nghiệp đại học chúng tôi
đã lấy chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận cho suốt quá
trình nghiên cứu. Đặt những yêu cầu của các nhà tuyển dụng và khả năng đáp
11
ứng thực tế của sinh viên vào bối cảnh hiện nay có thể thấy sở dĩ còn có sự
chênh lệch nhất định trong yêu cầu của các nhà tuyển dụng với khả năng thực
tế của sinh viên là do những bất cập trong quá trình quản lý chất lượng giáo
12
Định đề mong đợi: nếu sự mong đợi của con người được thực hiện thì
người ta sẽ hài lòng, còn nếu không được thực hiện thì cá nhân sẽ bực tức, không
hài lòng.
Như vậy, có thể thấy rằng con người là một động vật duy lý, trước khi
thực hiện hành động con người quan tâm nhiều nhất tới vấn đề lợi ích và
phần thưởng, và thường xuyên tìm cách cân đối vấn đề này làm sao khi thực
hiện hành động này có thể đem lại phần thưởng cao nhất. Sự xem xét, tính
toán này không chỉ căn cứ vào khả năng của chủ thể mà còn căn cứ vào
những giá trị, chuẩn mực.
Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý của Homans có thể giúp chúng ta lý giải
một cách hợp lý việc nhà tuyển dụng đưa ra những yêu cầu về các kỹ năng cơ
bản đối với các ứng viên nhằm đáp ứng yêu cầu của từng vị trí công việc và
loại hình tổ chức doanh nghiệp.
1.1.2.2. Lý thuyết Thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow [36].
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như một
trong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn
(humanistic psychology). Năm 1943, ông đã phát triển một trong các lý
thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và được sử dụng
trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Đó là lý thuyết về Thang bậc nhu cầu
(Hierarchy of Needs) của con người. Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các
nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu
cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải
được thỏa mãn trước.
Bậc thang nhu cầu cơ bản của Maslow được tóm lại bằng những ý
chính như sau:
Nhu cầu sinh lý: Đây là những nhu cầu sinh học. Chúng bao gồm
nhu cầu khí thở, thực phẩm, nước, và cơ thể có nhiệt độ tương đối ổn định.
mãn, thì nhu cầu muốn hiện thực hóa, tự chứng tỏ bản thân xuất hiện. Maslow
14
mô tả việc tự chứng tỏ bản thân như là nhu cầu vốn dĩ của con người và họ có
khả làm được điều đó, có nghĩa họ được "sinh ra là để thể hiện chính mình."
Maslow nói, "Một nhạc sĩ phải sáng tác âm nhạc, một nghệ sĩ phải biết vẽ, và
một nhà thơ phải làm thơ." Các nhu cầu này làm cho con cảm thấy luôn trăn
trở làm sao cho mình thể hiện được chính mình. Con người có nhu cầu tự hiện
thực bản thân mình - nghĩa là làm sao cho những khả năng của mình phát
triển và đạt được nhiều kết quả.
Lý thuyết “các thứ bậc nhu cầu” thường được biểu diễn như một kim tự
tháp, với mức độ thấp hơn đại diện cho các nhu cầu thấp hơn, và điểm trên
cùng đại diện cho sự cần thiết phải tự hiện thực bản thân. Maslow tin rằng lý
do duy nhất mà con người sẽ không biến chuyển được theo hướng tự hiện
thực bản thân mình là bởi vì các trở ngại cản trở họ trong hoàn cảnh xã hội.
Lý thuyết nhu cầu giúp ta lý giải một cách hợp lý yêu cầu của nhà tuyển dụng
về các nhóm kỹ năng cần thiết đối với sinh viên tốt nghiệp Đại học theo thứ
tự cấp bậc từ thấp đến cao, từ các kỹ năng cơ bản đến các kỹ năng tổng hợp
và phức tạp hơn. Theo đó, yêu cầu của nhà tuyển dụng được nâng cao dần từ
nhóm kỹ năng liên quan đến trình độ chuyên môn là những kỹ năng nền tảng
sinh viên được trang bị trong quá trình học đến những kỹ năng thể hiện khả
năng riêng biệt và đòi hỏi sự rèn luyện, tự đào tạo của sinh viên như kỹ năng
mềm, kỹ năng về quản lý. Các nhóm kỹ năng này sẽ liên tục vận động, thay
đổi theo mức độ cao dần nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về hiệu quả
công việc của các tổ chức, doanh nghiệp và nhà tuyển dụng.
1.1.3. Khái niệm công cụ
Yêu cầu [37]:
Trong thuật ngữ kỹ thuật và kinh tế, yêu cầu là một đòi hỏi được tài
liệu hóa về các chức năng và đặc điểm của một sản phẩm hoặc một dịch vụ.
16
với kỹ năng cứng để chỉ trình độ chuyên môn, kiến thức chuyên môn hay
bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn. Nhìn chung, kỹ năng mềm thiên nhiều về
yếu tố bẩm sinh, tuy nhiên nếu chịu khó rèn luyện con người vẫn có thể nâng
cao đáng kể những kỹ năng mềm của bản thân.
Tuyển dụng [19]:
Tuyển dụng có nhiều định nghĩa, trong đó có một định nghĩa được thông
dụng: tuyển dụng là hành động nhằm tìm và chọn được người (một hoặc nhiều)
phù hợp với vị trí và kế hoạch của tổ chức. Đôi khi, người ta hiểu nó như một
danh từ, đó là một loại hoạt động nhằm tìm kiếm nhân tài cho tổ chức.
Cơ sở của tuyển dụng là các yêu cầu của công việc đã được đề ra theo
bản mô tả công việc và bản yêu cầu đối với người thực hiện công việc. Quá
trình tuyển dụng là khâu quan trọng nhằm giúp cho các nhà quản trị nhân lực
đưa ra được các quyết định tuyển dụng một cách đúng đắn nhất. Quyết định
tuyển dụng có ý nghĩa rất quan trọng đối với chiến lược kinh doanh và đối với
các tổ chức, bởi vì quá trình tuyển chọn tốt sẽ giúp cho các tổ chức có được
những con người có kỹ năng phù hợp với sực phát triển của tổ chức trong
tương lai. Tuyển dụng tốt cũng sẽ giúp cho tổ chức giảm được các chi phí do
phải tuyển chọn lại, đào tạo lại cũng như tránh được các thiệt hại rủi ro trong
quá trình thực hiện các công việc. Để tuyển dụng đạt được kết quả cao thì cần
phải có các bước tuyển chọn phù hợp, các phương pháp thu thập thông tin
chính xác và đánh giá các thông tin một cách khoa học.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Có thể thấy rằng vấn đề giáo dục đại học là một trong những đề tài
nhận được nhiều sự quan tâm nhất, đặc biệt là trong bối cảnh chất lượng của
nền giáo dục nước ta đang lâm vào tình trạng khủng hoảng như hiện nay. Tuy
nhiên phần lớn các nhà nghiên cứu và các chuyên gia giáo dục chú trọng
18
ngành. Xem xét vấn đề này từ góc độ thị trường lao động, nhóm nghiên cứu
cho rằng việc nhà sử dụng lao động nói riêng và thị trường lao động đang dần
thay đổi hình thức tuyển dụng và có 3 yếu tố làm căn cứ đánh giá trong quá
trình tuyển dụng nhân sự: (i) khả năng chuyên môn, (ii) khả năng tự đào tạo
và (iii) kỹ năng mềm. Đây là cơ sở quan trọng để các trường Đại học, Cao
đẳng nói chung và sinh viên nói riêng có được những định hướng cụ thể trong
việc hoạch định, xây dựng các chương trình đào tạo nhằm trang bị cho sinh
viên những kỹ năng cần thiết đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng và thị
trường lao động, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Đại học ở
Việt Nam.
Nghiên cứu: “Đánh giá chất lượng đào tạo từ góc độ cựu sinh viên của
trường Đại học Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh” của Th.S Nguyễn Thúy
Quỳnh Loan và CN. Nguyễn Thị Thanh Thoản. Các tác giả chỉ ra rằng, đảm
bảo chất lượng cho giáo dục đại học là hoạt động cần thiết nhằm cung cấp cho
sinh viên tốt nghiệp có đủ trình độ đáp ứng nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của
xã hội. Kết quả của cuộc khảo sát sinh viên đã tốt nghiệp phản ánh mức độ
thích ứng của sản phẩm đào tạo của trường với nhu cầu của thị trường lao
động. Theo đó, việc khảo sát được tiến hành với nhóm cựu sinh viên đã tốt
nghiệp và đã đi làm ít nhất là 6 tháng trở lên. Bên cạnh việc tìm hiểu về thời
gian tìm việc làm, tỷ lệ thay đổi công ty của cựu sinh viên, nghiên cứu cũng
cho thấy sức ảnh hưởng của bằng Đại học đối với công việc hiện tại của họ
còn rất lớn, không ít ý kiến cho rằng đây là căn cứ để trả lương và đề bạt chức
vụ cho nhân viên trong quá trình làm việc của họ. Ngoài ra, nghiên cứu cũng
tìm hiểu về những đánh giá của cựu sinh viên về chất lượng đào tạo của
trường Đại học Bách Khoa, thể hiện qua các tiêu chí cụ thể như chương trình
đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất trong đó đáng chú ý nhất là đánh
giá về kết quả đào tạo. Ở đây, kết quả đào tạo được thể hiện cụ thể qua những
19